Báo cáo tốt nghiệp Vốn lưu động và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
công ty TNHH Thương mại Điện tử Hoàng Sơn 1
mục lục
Chương I. Vốn lưu động và sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động trong doanh nghiệp
I. Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
1.Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động
1.2 Thành phần và kết cấu vốn lưu động
1.3 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
2. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
II. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
công ty TNHH Thương mại Điện tử Hoàng Sơn.
I. Phương pháp phát triển của công ty trong thời gian tới
II. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1. Khai thác nguồn tài trợ ngắn hạn cho vốn lưu động với chi phí thấp
2. Tăng cường công tác quản lí các khoản phải thu, hạn chế tối đa lượng vốn bị
chiếm dụng
3. Sử dụng có hiệu quả các biện pháp nhằm giảm chi phí tồn kho và hỗ trợ tiêu thụ
sản phẩm
4. Biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh
5. Chú trọng phát huy nhân tố con người
3
Lời mở đầu
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, vốn chính là tiền đề tiên quyết,
song việc sử dụng như thế nào để đạt được hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định cho
sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, bất cứ một doanh nghiệp nào khi sử dụng
vốn sản xuất nói chung và vốn lưu động nói riêng đều phải quan tâm đến hiệu quả mà
nó mang lại.
Trong các doanh nghiệp, vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của vốn sản xuất
nói chung và vốn đầu tư nói riêng. Quy mô của vốn lưu động, trình độ quản lí, sử dụng
Chương 3. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở
công ty TNHH Thương mại Điện tử Hoàng Sơn. 5
Chương 1
Vốn lưu động và sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động trong doanh nghiệp
I. Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
1. Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động
ra còn phải có đối tượng lao động. Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất
không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của ĐTLĐ sẽ thông qua
quá trình chế biến hợp thành thực thể sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí mất đi trong
quá trình sản xuất, ĐTLĐ chỉ có thể tham gia một chu kỳ sản xuất chu kỳ sau lại phải
dùng loại ĐTLĐ khác. Cũng do những đặc điểm trên nên toàn bộ giá trị của ĐTLĐ
được chuyển dịch toàn bộ một lần vào sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm
được thực hiện.
ĐTLĐ trong doanh nghiệp được biểu hiện trong hai bộ phận: một bộ phận là những
vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục (Nguyên, nhiên vật liệu )
một bộ phận khác là những vật tư trong quá trình chế biến (sản phẩm đang chế tạo, bán
thành phẩm ). Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là TSLĐ, còn về
hình thái giá trị được gọi là VLĐ của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp người ta thường chia TSLĐ thành hai loại: TSLĐ trong sản
xuất và TSLĐ trong lưu thông. TSLĐ trong sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu,
phụ tùng thay thế, bán thành phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc
chế biến. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại
vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các loại chi phí chờ kết chuyển , TSLĐ
Do sự chu chuyển không ngừng nên VLĐ thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng
một lúc dưới các hình thái khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông.
Tóm lại, VLĐ của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về TSLĐ trong sản xuất và
TSLĐ trong lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được
thực hiện thường xuyên, liên tục. VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần vào giá
trị của sản phẩm, nó thực hiện một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất và tuần 7
hoàn liên tục trong quá trình tái sản xuất tiếp theo, VLĐ là điều kiện không thể thiếu
được của quá trình tái sản xuất.
VLĐ còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, đó là sự
phản ánh quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Trong doanh
nghiệp sự vận động của vốn là sự vận động của vật tư, nhìn chung VLĐ nhiều hay ít
phản ánh số lượng vật tư, hàng hoa dự trữ ở các khâu nhiều hay ít; mặt khác VLĐ luân
chuyển nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm
ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý không. Bởi vậy thông qua tình hình luân chuyển
VLĐ còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các khía cạnh mua sắm, dự trữ và
tiêu thụ của doanh nghiệp.
1.2. Thành phần và kết cấu vốn lưu động
Trong các doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý VLĐ có một vấn đề quan trọng,
doanh nghiệp sử dụng VLĐ càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều sản
phẩm. Để quản lý VLĐ đựơc tốt thì cần phải phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác
nhau. Thông thường có các cánh phân loại sau:
* Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh: Theo
cách phân loại này VLĐ của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại.
- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: Giá trị các khoản nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ
- VLĐ trong khâu sản suất bao gồm: Các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền
(kể cả vàng bạc, đá quý ) các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn
Cách phân loại này cho thấy kết cấu VLĐ của DN được hình thành băng vốn của
bản thân DN hay từ các khoản nợ, từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý,
sử dụng VLĐ hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sản xuất vốn của DN.
* Phân loại theo nguồn hình thành: VLĐ của doanh nghiệp được chia thành các
nguồn sau.
- Nguồn vốn điều lệ: Là số VLĐ được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu khi
thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ xung trong quá trình SXKD của DN. Nguồn vốn 9
này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh tế
khác nhau.
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do DN tự bổ sung trong quá trình SXKD từ
lợi nhuận của DN được tái đầu tư.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số VLĐ được hình thành từ vốn góp liên doanh
của các bên tham gia DN liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc
bằng hiện vật như vật tư hàng hoá theo thoả thuận các bên liên doanh.
- Nguồn vốn đi vay: Là vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín
dụng, vốn vay của người lao động trong DN, vay các DN khác, vốn huy động từ thị
trường vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu.
Việc phân loại VLĐ theo nguồn hình thành giúp cho DN tháy được cơ cấu nguồn
tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi
nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó, do đó DN cần xem xét cơ cấu nguần tài trợ
tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn.
Từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu VLĐ theo
những tiêu thức khác nhau. Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ
giữa các thành phần trong tổng số vốn VLĐ của doanh nghiệp, ở các DN khác nhau thì
các số kết cấu VLĐ cũng không giống nhau. Việc phân tích các kết cấu VLĐ của doanh
nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp DN hiểu rõ hơn những đặc điểm
riêng về VLĐ mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và
Để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết DN có thể sử dụng các phương
pháp khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể DN có thể lựa chọn phương pháp thích hợp.
a. Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu VLĐ
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và têu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu của từng
khoản VLĐ trong từng khâu rồi tổng hợp lại nhu cầu VLĐ của DN.
Ưu điểm của phương pháp này là xác định được nhu cầu cụ thể của từng loại vốn
trong từng khâu kinh doanh, tạo điều kiện tốt cho việc quản lý, sử dụng vốn theo từng 11
loại trong từng khâu sử dụng, tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là hạn chế việc
tính toán phức tạp, mất nhiều thời gian.
Công thức tính tổng quát như sau
K n
Vnc = ể ể Mij.Nij
i=1 j=1
Trong đó:
Vnc : nhu cầu VLĐ của DN
M : Mức tiêu dùng bình quân một ngày của loại vốn được tính toán.
N : Số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán.
i : Số khâu kinh doanh (i= 1, k)
j : Loại vốn sử dụng (j = 1, n)
Mức tiêu hao bình quân một ngày (M) được tính bằng tổng mức tiêu dùng trong kỳ
(theo dự tính chi phí) chia cho số ngày trong kỳ (360).
Số ngày luân chuyển một loại vốn (N) được xác định căn cứ vào các nhân tố liên
quan về số ngày luân chuyển của loại vốn đó trong từng khâu tương ứng.
- Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất.
VLĐ trong khâu sản xuất bao gồm giá trị các nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ lao động nhỏ.
+ Xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo (Vđc)
Để xác định nhu cầu vốn này phải căn cứ vào 3 yếu tố cơ bản là: Mức phí tổn sản
xuất bình quân một ngày kỳ kế hoạch (Pn); Độ dài chu kỳ sản suất sản phẩm (Ck) và hệ
số sản phẩm đang chế tạo (Hs ).
Công thức xác định
Vđc = Pn*Ck*Hs
Trong đó:
Vđc : Nhu cầu vốn sản phẩm đang chế.
Pn : Mức chi phí bình quân một ngày.
Ck : Chu kỳ sản xuất sản phẩm.
Hs : Hệ số sản phẩm đang chế tạo. 13
Pn : Được tính bằng mức tổng mức chi phí chi ra chia cho số ngày trong kỳ.
Ck : Là khoảng thời gian kể từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất cho đến
khi chế tạo xong và kiểm tra nhập kho.
Hs : Là tỷ lệ phần trăm giữa giá thành bình quân sản phẩm đang chế tạo và
giá thành sản xuất sản phẩm.
+ Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển (chi phí phân bổ dần - Vpb). Chi
phí chờ kết chuyển là khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào giá
thành sản phẩm trong kỳ mà được phân bổ dần vào nhiều kỳ tiếp theo để phản ánh đúng
đắn tác dụng của chi phí mà không gây biến động lớn đến gíá thành sản phẩm, gồm chi
phí sửa chữa lơn, chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, chế thử sản phẩm Để xác định vốn
phân bổ phải căn cứ vào số dư chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ, số chi phí chờ kết chuyển
dự kiến phát sinh trong kỳ và số chi phi chờ kết chuyển dự kiến phân bổ vào thành giá
sản phẩm trong kỳ.
Công thức tính
VPb = Vpd + Vpt - Vpg
Trong đó
Vnc = VLo * * (1+t%)
M
2
Trong đó:
Vnc : Nhu cầu VLĐ năm kế hoạch.
M
1
, M
2
: Tổng mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch và báo cáo.
VLo : Số dư bình quân VLĐ năm báo cáo.
t% : Tỉ lệ giảm (hoặc tăng) số ngày luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
so với năm báo cáo.
K
1
- K
0
t% = * 100%
K
0
Trong đó:
t% : Tỉ lệ giảm hoặc tăng số ngày luân chuyển VLĐ.
K
0
: Kì luân chuyển VLĐ năm kế hoạch.
Comment [t2]:
L
1
: Số vòng quay VLĐ năm kế hoạch.
2. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
Biểu hiện dưới dạng vật chất của VLĐ chính là các TSLĐ. Trong doanh nghiệp,
giữa VLĐ (là TSLĐ) và nguồn VLĐ luôn có một mối quan hệ cân đối tổng thể. Vốn
lưu động (TSLĐ) và nguồn VLĐ chính là hai mặt biểu hiện khác nhau của trị giá TSLĐ
hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Vấn đề đặt ra là các doanh
nghiệp phải lựa chọn cân nhắc cho mình một cơ cấu nguồn vốn tối ưu vừa giảm được
chi phí sử dụng vốn, vừa đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp. Căn cứ vào các tiêu
thức phân loại, nguồn VLĐ của doanh nghiệp được chia thành các loại khác nhau:
* Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn: Nguồn VLĐ gồm 16
- Vốn chủ sở hữu: Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Tuỳ từng loại
hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ
NSNN, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp cổ phẩn, vốn góp liên doanh, vốn tự
bổ sung từ lợi nhuận Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ tài chính của doanh
nghiệp, tỉ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của
doanh nghiệp càng cao.
- Các khoản nợ: Là các khoản VLĐ được hình thành từ các khoản vay của các ngân
hàng thương mại hay tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ
khách hàng chưa thanh toán
* Phân loại căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Nguồn vồn VLĐ của
doanh nghiệp chia thành 2 loại:
- Nguồn VLĐ thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn, bao
gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu VLĐ thường
xuyên cần thiết của doanh nghiệp.
Nguồn VLĐ thường xuyên = Tổng TSLĐ - Nợ ngắn hạn
Một là Với số vốn hiện có có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất
lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hai là Đầu tư thêm vốn một cách hợp lí nhằm mở rộng qui mô sản xuất để tăng
doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng
vốn.
Hai khía cạnh này chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chức quản lí và
sự dụng vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng:
Trong thời kì bao cấp, mọi nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
đều được nhà nước cấp phát hoặc cấp tính dụng ưu đãi khiến các doanh nghiệp không
đặt vấn đề khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả lên hàng đầu. Từ khi nền kinh tế có sự
chuyển đổi về cơ chế, các doanh nghiệp nhà nước cùng tồn tại song song với các thành
phần kinh tế khác trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, buộc các DNNN phải năng
động hơn, tìm kiếm thị trường và mở rộng sản xuất. Để làm được điều đó, đời hỏi các
doanh nghiệp cần phải tăng cường công tác tổ chức quản lí vốn của các doanh nghiệp 18
có hiệu quả, nếu không tổ chức quản lí tốt và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, bảo đảm
trả được tiền vay cả gốc và lãi thì sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị ăn mòn vốn,
việc kinh doanh bị phá sản.
Trên thực tế, trong những năm qua, hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu
động nói riêng của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNTN đạt thấp. Nguyên nhân
chính là các doanh nghiệp chưa bắt kịp với kinh tế thị trường nên còn nhiều bất cập
trong công tác quản lí và sự dụng vốn Việc tổ chức quản lí, nâng cao hiệu quả sử dụng
VLĐ là khâu quan trọng của công tác quản lí tài chính, là vấn đề quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế. Vì vậy, nền kinh tế muốn phát
triển thì doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả. Việc sử dụng có hiệu quả VLĐ là
một nhân tố tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Do đó,
việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của doanh
vay.
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời: Là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với các
khoản nợ ngắn hạn, nó thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn
TSLĐ và ĐTNH
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Tổng nợ ngắn hạn
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không
dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hoá và được xác định theo công thức:
TSLĐ - Vốn vật tư hàng hoá
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Tổng nợ ngắn hạn
* Các chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh
- Số vòng quay hàng tồn kho: Là số lần mà hàng tồn kho bình quân luân chuyển
trong kỳ, số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá tốt.
Doanh thu thuần
Số vòng quay hàng tồn kho =
Số dư hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng
quay hàng tồn kho. Số vòng quay hàng tồn kho nhưnh chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
lưu động cao và ngược lại. 20
360
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
- Vòng quay các khoản phải thu: Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt của doanh nghiệp.
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
L : Số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.
M : Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
VLĐbq : Vốn lưu động bình quân trong kỳ.
- Kỳ luân chuyển VLĐ: Phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay VLĐ.
Công thức được xác định như sau:
360 VLĐbq*360
K = Hay K =
L M
Trong đó:
K : Kỳ luân chuyển VLĐ
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển VLĐ càng được rút ngắn và chứng
tỏ VLĐ được sử dụng có hiệu quả.
b. Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển
- Mức tiết kiệm vốn lưu động là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp
có thể tăng thêm tổgn mức luân chuyển vốn, song không cần tăng thêm hoặc tăng thêm
không đáng kể quy mô VLĐ. Theo quan điểm đó thì điều kiện để có mức tiết kiệm
tương đối cho một doanh nghiệp là
Công thức xác định:
M
1
> M
0
VLĐ
1
> VLĐ
0
M
1
chỉ tiêu hiệu quả sử dụng VLĐ và được tính bằng cách lấy số VLĐ bình quân trong kỳ
chia cho tổng doanh thu thuần thực hiện trong kỳ.
Vốn lưu động bình quân
Mức dùng VLĐ =
Doanh thu thuần
e. Tỉ suất lợi nhuận vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
(hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập).
Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập)
Tỉ suất lợi nhuận VLĐ =
Vốn lưu động bình quân
Tỉ suất lợi nhuận VLĐ càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao.
Như vậy, thông qua các chỉ tiêu trên cho phép ta có thể đánh giá được hiệu quả sử
dụng VLĐ trong doanh nghiệp, từ đó có biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả và
sử dụng VLĐ tiết kiệm hơn. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ cho phép doanh
nghiệp có thể giảm bớt số VLĐ cần thiết, từ đó góp phần giảm chi phí SXKD, hạ giá
thành sản phẩm, làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
III. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động và một số
phương hướng biện pháp nhằm đẩy mạnh việc tổ chức quản lí và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động 23
VLĐ của doanh nghiệp trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn
luân chuyển và biểu hiện dưới các hình thái khác nhau. Trong quá trình vận động, VLĐ
chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, những nhân tố này tác động không nhỏ tới hiệu quả
sử dụng VLĐ
- Về mặt khách quan: Hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của
một số nhân tố.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác tổ chức và sử dụng
VLĐ của doanh nghiệp. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả tổ
chức và sử dụng VLĐ, các doanh nghiệp cần nghiên cứu, xem xét một cách kĩ lưỡng sự
ảnh hưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân của những mặt tồn tại trong việc tổ
chức sử dụng VLĐ, nhằm đưa ra những biện pháp hiệu quả để lợi nhuận do đồng VLĐ
mang lại đạt mức cao nhất.
2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc tổ chức quản lí và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong cơ thị trường, DNTN cũng như mọi doanh nghiệp khác đều bình đẳng trước
pháp luật, phải đối mặt với cạnh tranh, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, tự chủ về vốn.
Do đó, việc nâng cao sử dụng vốn sản xuất nói chung và VLĐ nói riêng là vấn đề quan
trọng cần thiết. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn hoạt động SXKD và nâng cao hiệu
quả VLĐ, các doanh nghiệp cần thực hiện một số biện pháp sau:
- Trước hết, phải xác định nhu cầu VLĐ tối thiểu cần thiết cho hoạt động SXKD,
tránh xẩy ra tình trạng thừa hoặc thiếu vốn. Nếu thiếu vốn thì doanh nghiệp phải huy
động thêm, còn thừa vốn thì cần có biện pháp xử lí kịp thời, không để vốn chết, không
phát huy được hiệu quả kinh tế. Cần phải xác định chính xác nhu cầu VLĐ trong từng
thời kỳ, có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quá trình tái sản xuất được tiến hành
bình thường, liên tục.
- Bên cạnh đó, lựa chọn hình thức huy động VLĐ, tích cực khai thác triệt để nguồn
vốn bên trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu VLĐ của doanh
nghiệp. Có thể huy động vốn bên ngoài nhưng nếu sử dụng vốn không hiệu quả thì