luận văn hiện trạng quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện ở việt nam - Pdf 15

QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN

ĐỀ TÀI
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
TẠI CÁC BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn :Trần Văn Dũng
Sinh viên thực hiện : Vũ Đình Phong

1
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương 1 4
1.1. Tính cần thiết của đề tài 4
1.2. Mục "êu của đề tài 4
1.3. Nội dung đề tài 4
1.4. Phương pháp nghiên cứu 5
1.5. Ý nghĩa thực "ễn 5
1.6. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 5
Chương 2 6
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT THẢI Y TẾ 6
2.2. Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khoẻ 14
Chương 3 25
3.1. Phân loại, thu gom chất thải bệnh viện 25
3.2. Lưu trữ, vận chuyển chất thải y tế tới nơi "êu huỷ 25
3.3. Các phương pháp xử lý và "êu huỷ chất thải rắn y tế 26
3.4. Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế 28
3.5. Giới thiệu một số lò đốt hiện đang sử dụng tại Việt Nam 29
Chương 4 32
4.1. Sơ lược về tỉnh Gia Lai 32
4.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn của tỉnh 36

làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao. Sự quan tâm của một số
lãnh đạo còn chưa được đầy đủ, các giải pháp về xử lý chất thải còn chưa được
đồng bộ và tuy đã có luật bảo vệ môi trường, qui chế quản lý chất thải nguy hại do
thủ tướng chính phủ ban hành, qui chế chất thải y tế do Bộ trưởng Bộ Y Tế ban
hành nhưng các văn bản pháp qui vẫn chưa thâm sâu vào đời sống.
3
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Tính cần thiết của đề tài
Tại Gia Lai hiện nay ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực với
mức độ khác nhau trong đó có y tế. Có thể nói ô nhiễm trong ngành Y Tế đang
diễn ra khá trầm trọng mà nổi bật là ở các bệnh viện.
Mạng lưới y tế ngày càng phát triển đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh
của nhân dân bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặt biệt là
trong vấn đề quản lý rác thải y tế.
Rác thải y tế bao gồm chất thải nguy hại như: kim tiêm, găng tay, cao su,
bông, băng thấm dịch hoặc máu, các loại thuốc quá hạn, bệnh phẩm và rác thải
phóng xạ. Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công
nghiệp nhưng chất thải rắn y tế và bệnh phẩm lại có nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường và lây truyền dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân nếu không
được xử lý đúng mức.
Do chất thải bệnh viện ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng nên công tác
thu gom và xử lý phải triệt để.
Nhưng, hiện nay khâu quản lý rác thải của các cơ sở y tế còn hết sức lỏng
lẻo. Hầu hết rác thải y tế, các bệnh phẩm chưa được phân loại theo đúng chuẩn
loại, chưa được khử khuẩn trước khi thải bỏ, không có nhà lưu chứa hoặc có
nhưng không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm
cho cộng đồng.
1.2. Mục tiêu của đề tài

− Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia (của thầy cô, những người có
liên quan, ý kiến đóng góp của một số nhân viên trong bệnh viện)
− Phương pháp so sánh.
1.5. Ý nghĩa thực tiễn
− Đánh giá được tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn bệnh viện trên địa
bàn tỉnh.
− Đề xuất những biện pháp khả thi nhằm làm giảm thiểu ô nhiễm môi
trường cho các bệnh viện trong tỉnh, một trong những vấn đề cấp bách
hiện nay.
1.6. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Khảo sát tại 20 bệnh viện điển hình trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
5
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
Chương 2
TỔNG QUAN VỀ RÁC THẢI Y TẾ
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT THẢI Y TẾ
2.1.1. Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
2.1.1.1.Các định nghĩa
a/ Chất thải y tế
Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa
bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động
trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học.
Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí.
Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động
đối với môi trường sức khoẻ giống như các chất thải thông thường khác.
b/ Chất thải nguy hại
Là chất thải có chứa các chất hoặc hoá chất có một trong các đặc tính gây
nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễ lây nhiễm với các
đặc tính nguy hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường
và sức khoẻ con người.

chất thải rắn nguy hại nói riêng có rất nhiều cách đánh giá khác nhau và chưa thực
sự thống nhất.
Một cách tiếp cận thuyết phục để có thể dự báo, ước lượng chất thải y tế nói
chung và số lượng hay tỷ lệ chất thải y tế nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu
tố sau:
 Số lượng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, qui mô khám bệnh, điều trị của
tất cả các cơ sở y tế.
 Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từ
tuyến huyện và tương đương trở lên bao gồm cả các bệnh viện do ngành
y tế quản lý và do các ngành khác quản lý.
 Lượng chất thải y tế phát thải mỗi ngày xác định theo giường bệnh
(giường bệnh của cấp bệnh viện) mỗi ngày.
 Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trên tổng chất thải y tế chung của giường
bệnh (giường bệnh cấp bệnh viện) mỗi ngày.
Trên cơ sở này, có thể áp dụng ước lượng khối lượng chất thải của bệnh
viện cụ thể của khu vực, thậm chí có thể ước lượng khối lượng chất thải rắn cho
phạm vi toàn quốc. Các cơ sở y tế ở Việt Nam chủ yếu thuộc ngành y tế được tổ
chức phân bố theo 4 cấp:
 Các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y Tế
 Các cơ sở y tế trực thuộc tỉnh.
 Các cơ sở y tế tuyến huyện.
 Các cơ sở y tế tuyến xã và tương đương.
7
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
Trong đó, qui mô bệnh viện có từ tuyến huyện gọi là bệnh viện huyện,
tuyến tỉnh gọi là bệnh viện tỉnh và tuyến sau cùng là các bệnh viện tuyến Trung
Ương. Đa số các bệnh viện của các tuyến là qui mô bệnh viện đa khoa, một số
bệnh viện chuyên khoa. Các bệnh viện nêu trên là các cơ sở y tế có giường bệnh,
thường xuyên hoạt động khám chữa bệnh và cũng thường xuyên phát thải chất thải
rắn y tế.

Nguyễn Kim Thi. Hội thảo quản lý chất thải bệnh
viện.
1998 1,17
7 Nguyễn Văn Lộ. Hội thảo xử lý chất thải bệnh viện. 1998 2,27
Giá trị trung bình. 2,21
(Nguồn: Môi trường bệnh viên nhìn từ góc độ quản lý chất thải - 2004)
8
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
Như vậy lượng chất thải rắn y tế trung bình phát thải theo mỗi giường bệnh
tại tuyến bệnh viện mỗi ngày là 2,21 kg/GB/ngày. Tuy nhiên hệ số phát thải này
chỉ nên áp dụng cho tuyến tỉnh và tương đương. Các bệnh viện tuyến huyện sẽ có
hệ số phát thải thấp hơn do phạm vi cứu chữa, khả năng áp dụng các kỹ thuật ở
mức thấp hơn.
Về đặc điểm chất thải và tỷ lệ chất thải y tế nguy hại cũng có khá nhiều
nghiên cứu công bố các số liệu khá tương đồng với nhau. Bảng dưới đây xin giới
thiệu một số số liệu được công bố. (Xem phụ lục 1)
Hầu hết các tác giả đều đưa ra các số liệu tương đối gấn nhau thống nhất tỷ
lệ chất thải y tế nguy hại trong tổng chất thải y tế nói chung là 20% với đặc điểm
tỷ trọng 130 kg/m
3
, hàm lượng tro còn lại sau khi đốt là 9,76% và nhiệt trị trung
bình l2537 Kcal/kg.
Kết luận chung:
 Hệ số phát thải chất thải rắn y tế: 2,21 kg/GB/ngày
 Tỷ lệ chất thải rắn nguy hại: 20% (tương đương)
Từ cơ sở dữ liệu lượng chất thải y tế trung bình giường bệnh ngày, tỷ lệ
chất thải y tế nguy hại trong tổng số chung và số lượng giường bệnh tại các cơ sở
y tế từ tuyến huyện trở lên và tương đương có thể xác định được tổng lượng chất
thải y tế nguy hại phải xử lý theo địa bàn và theo khu vực cho mỗi bệnh viện.(Xem
phụ luc 2).

Giường bệnh (1000 giường) 115,5 118,0 118,0 120,3 120,1 121,9 122,5
CTR y tế chung (tấn/ngày) 248,3 253,7 253,7 258,6 258,2 262,1 263,9
CTR y tế nguy hại
(tấn/ngày)
55,4 56,6 56,6 57,7 57,6 58,5 58,9
2.1.3. Nguồn và phân loại chất thải rắn y tế
Theo định nghĩa, chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải dạng rắn phát sinh
trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm,
phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo.
Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới, kể
cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO)
khá nhất quán và nhìn chung đều bao gồm các loại chính như sau:
a/ Nhóm chất thải lâm sàng (clinical waste): bao gồm 5 phân nhóm
khác nhau là:
 Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn (infectious waste): vật liệu thấm máu,
dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch, dẫn lưu v.v.
 Nhóm B: các vật sắc nhọn (sharps): như các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ,
dao lam dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ v.v.
10
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
 Nhóm C: chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét
nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm v.v.
 Nhóm D: (chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễm
khuẩn, thuốc gây độc tế bào kể cảc các lọ thuốc đã được sử dụng nhưng
còn tồn lưu dư lượng, và hoá chất có tính gây độc đối với tế bào.
 Nhóm E: bệnh phẩm (pathological waste): nhóm này bao gồm các mô
và cơ quan người, động vật, một phần chi thể bị cắt bỏ do các can thiệp
phẫu thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi
chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây ra
tác động tâm lý rất mạnh).

ngoại trú.
 Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực.
 Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị
và chăm sóc.
 Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân.
Tham khảo tài liệu nước ngoài cho thấy khối lượng chất thải rắn y tế cũng
được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, thay đổi theo loại bệnh viện mức phát thải
khác nhau theo các khoa phòng chuyên môn cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước
Chất thải bệnh viện nói chung
(kg/giường bệnh/ngày)
Chất thải y tế nguy hại
(kg/giường bệnh/ngày)
Nước thu nhập cao 1,2 – 12 0,4 - 5,5
Nước thu nhập
trung bình
0,8 – 6 0,3 - 0,6
Nước thu nhập thấp 0,5 – 3 0,3 - 0,4
Bảng 2.4: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện
Nguồn phát sinh Lượng chất thải theo từng bệnh viện
(kg/giường bệnh/ngày)
Bệnh viện đại học y
dược
4,1 – 8,7
Bệnh viện đa khoa 2,1 – 4,2
Bệnh viện tuyến huyện 0.5 – 1,8
Trung tâm y tế 0,05 – 0,2
Bảng 2.5: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng
bệnh viện

hàng ăn uống, sách báo v.v. mà số lượng người vãng lai này khá lớn nhiều khi
tương đương với số bệnh nhân nằm viện. Chính hiện trạng này làm cho khối lượng
phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải
bệnh viện cũng thay đổi theo (có thể tăng tỉ lệ khối lượng chất thải rắn sinh hoạt).
Kết quả này dẫn tới sự quá tải hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết
kế theo số giường bệnh. Sự quá tải này cũng là nguyên nhân dẫn đến quản lý, thu
gom và phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và không tuân thủ các qui định bắt
buộc, do đó dẫn đến tình trạng là một tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại có thể bị lẫn
vô chất thải rắn chung và phát tán ra môi trường bên ngoài, trở thành nguồn gây ô
nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trường và sức khoẻ.
Bảng 2.7: Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện
STT Đặc điểm, thông số
Giá trị
%
13
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
A Thành phần giấy các loại bao gồm cả mảnh carton 2,9
B Thành phần kim loại, vỏ hộp kim loại 0,7
C Thành phần thuỷ tinh, ống thuốc tiêm, lọ thuốc tiêm, bơm kim tiêm 3,2
D Bông, gạc, băng, bột bó gãy xương, nẹp cố định 8,8
E Chai thuốc, túi thuốc, chai dịch, túi dịch, túi máu, thành phần chất dẻo 10,1
F Bệnh phẩm 0,6
G Rác thành phần hữu cơ 52,7
H Đất, vật rắn khó phân định 21,0
(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải - 2004)
Chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm các thành phần chất thải trong các mục
phân loại C,D,E,F.
2.2. Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khoẻ
2.2.1. Tác hại của chất thải y tế lên sức khoẻ
a/ Các rủi ro từ chất thải y tế

 Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phục vụ
cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao
công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế.
 Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại bãi đổ rác
thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu rác.
Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ dịch vụ cơ sở y tế tư nhân, qui mô lẻ,
nằm rải rác cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ
do nguồn chất thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới. Đôi khi,
ngay cả những tủ thuốc gia đình hoặc một số tế nạn xã hội như tiêm chích ma tuý
cũng là nguồn phát sinh chất thải y tế nguy hại có tiềm năng gây rủi ro cao về môi
trường và sức khoẻ.
 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật thể trong thành phần chất thải y tế nguy hại có thể chứa đựng một
lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu,
HIV, viêm gan B. Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua
các hình thức sau:
 Qua da, qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc
nhọn gây tổn thương.
 Qua các niêm mạc, màng nhầy.
 Qua đường hô hấp do xông, hít thở phải.
 Qua đường tiêu hoá do nuốt, ăn phải.
Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê
trong bảng dưới đây qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tuỳ, chất
nhờn, nước mắt, tuyến nhờn.
15
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
Có một mối liên hệ đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do virus gây ra hội chứng
suy giảm miễn dịch người (HIV) và virus viêm gan B, C đó là những bằng chứng
của việc lan truyền các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường phát thải chất
thải rắn y tế. Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương

chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp Vk lao, virus sởi, streptococcus pneumoniac.
Các loại dịch
tiết, đờm
16
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
Nhiễm khuẩn mắt Virus herpes
Dịch tiết của
mắt
Nhiễm khuẩn sinh dục Neiserreria gonorrhoeac, virus herpes.
Dịch tiết sinh
dục
Nhiễm khuẩn da Streptococcus spp Mủ
Bệnh than Bacillus antharacis.
Chất tiết của
da (mồ hôi,
chất nhờn)
Viêm màng não Não mô cầu (neisseria meningitides) Dịch não tuỷ
AIDS HIV
Máu, chất tiết
sinh dục
Sốt xuất huyết Các virus: junin, lassa, ebola, Marburg.
Tất cả các
sản phẩm
máu và dịch
tiết
Nhiễm khuẩn huyết do tụ
cầu
Staphylococcus spp Máu
Nhiễm khuẩn huyết do

cứ ai tới gần và tiếp xúc chúng.
Trong những trận mưa lớn, các hoá chất diệt côn trùng bị rò rỉ có thể thấm
sâu vô đất và tiếp theo gây ô nhiễm nước ngầm. Sự nhiễm độc có thể xảy ra do
tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm hoá chất, do hít phải hơi độc hoặc do uống phải
nước hoặc thức ăn đã bị nhiễm độc. Các mối nguy cơ khác có thể là khả năng dẫn
đến các vụ hoả hoạn hoặc gây ô nhiễm do việc xử lý chất thải không đúng cách
chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc chôn lấp.
Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây
nên bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhất là hệ thống xử lý công
nghệ phân huỷ sinh học) hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên tiếp
nhận nguồn nước này. Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể xảy ra do sản
phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc
khác, do các kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các hoá chất
khử trùng và tẩy uế.
 Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào
Đối với các nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại
chất thải gây độc gen tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro
tiềm tàng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất
độc và khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó. Quá trình tiếp xúc với các chất
độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều
trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hoá trị liệu. Những phương
thức tiếp xúc chính là hít phải hoá chất có tính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi mùi
qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hoá do
ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc. Việc nhiễm độc qua đường tiêu hoá thường là do
ảnh hưởng của những thói quen xấu, chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet
18
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
trong các công việc như khi định lượng dung dịch, xét nghiệm sinh hoá. Mối nguy
hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và chất tiết nhất là các
bệnh phẩm cần xét nghiệm của những bệnh nhân đang trong giai đoạn điều trị

Bên cạnh việc lo ngại đối với những nguy cơ lây bệnh của chất thải rắn y tế
tác động lên sức khoẻ, cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng
19
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
tâm lý, ghê sợ đặc biệt là khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải phẫu, các bộ
phận cơ thể bị cắt bỏ trong phẫu thuật như: chi thể, dạ dày, các khối u, rau thai,
bào thai nhi, máu, tổ chức hoại tử, dập nát.
2.2.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khoẻ cộng đồng
a/ Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc
nhọn
Đối với những bệnh có khả năng truyền nhiễm, nguy hiểm do virus gây ra
như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt các y tá, hộ lý
là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua những vết thương do các vật sắc
nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên. Các nhân viên hành chính của bệnh viện là
những người vận hành hệ thống quản lý chất thải trong phạm vi bệnh viện cũng
như ngoài bệnh viện ở các trạm xử lý chất thải của địa phương, khu vực cũng có
nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn vệ sinh, những người
bới rác tại các bãi đổ rác mặc dù chưa có nhiều bằng chứng ghi nhận những nguy
cơ này. Nguy cơ của loại bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh nhân và cộng
đồng không phải tiếp xúc với chất thải y tế thấp hơn nhiều. Trong một số trường
hợp, một vài bệnh truyền nhiễm lây truyền và lan rộng ra cộng đồng xung quanh
nhiều khi trở thành dịch, một bằng chứng được ghi nhận là vụ dịch tả hoành hành
ở Trung Mỹ năm 1996-1997 mà nghi can chính là nước thải từ một bệnh viện
truyền nhiễm ở Peru không được xử lý và thải ra lưu vực, kết quả là gây nhiễm
bệnh và gây bùng phát thành dịch bệnh.
Các trường hợp tai nạn riêng lẻ hoặc nhiễm trùng thứ phát do chất thải y tế
gây ra đều được chứng minh bởi các tài liệu đáng tin cậy. Tuy vậy nhìn chung vẫn
khó đánh giá trực tiếp ảnh hưởng của chất thải rắn y tế, đặc biệt là ở các nước
đang phát triển. Vẫn còn những nghi ngờ đối với những trường hợp nhiễm khuẩn
với số lượng lớn mà tác nhân gây bệnh do tiếp xúc với chất thải y tế.

tất cả các nhân viên có thể đã tiếp xúc với chất thải đã được báo cáo với các nhân
viên lao công và nhân viên xử lý chất thải, tỷ lệ hàng năm ở Mỹ là 180 phần
nghìn. Mặc dù các tổn thương có liên quan đến công việc trong số các nhân viên y
tế và những ngưới thu gom rác hầu hết là các tổn thương cơ lý như sang chấn,
bong gân, va đập và căng thẳng mệt mỏi do làm việc quá sức. Tuy vậy vẫn có một
tỷ lệ đáng kể các tổn thương là do các vết cắt, đâm thủng do các vật sắc nhọn có
lẫn trong chất thải rắn gây ra.
Cho đến thời điểm hiện nay tại Việt Nam vẫn chưa có một công trình
nghiên cứu nào phản ánh được tình trạng tổn thương do nghề nghiệp của các nhân
viên y tế và các nhân viên các Công Ty Môi Trường Đô Thị cũng như người dân
sống cận kề bãi rác thải có lẫn rác từ các bệnh viện.
b/ Ảnh hưởng của các chất thải hoá chất và dược phẩm
Trong khi không có tài liệu khoa học nào cho thấy mức độ phổ biến của
bệnh tật gây ra do chất thải hoá chất hoặc dược phẩm từ các bệnh viện đối với
cộng đồng, thì nhiều trường hợp nhiễm độc qui mô lớn do chất thải hoá chất công
nghiệp đã xảy ra. Cũng có một số thông báo về nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm
21
QUẢN LÍ CHẤT THẢI RẮN
độc do việc vận chuyển hoá chất và việc vận chuyển dược phẩm trong bệnh viện
không đúng quy cách. Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, y tá, kỹ thuật viên, cán bộ hành
chính có thể có nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da do tiếp xúc
với các loại hoá chất dạng chất lỏng dễ bay hơi, dạng phun sương và các dung
dịch khác. Để hạn chế tới mức thấp nhất loại nguy cơ nghề nghiệp này nên thay
thế hoặc giảm lượng hoá chất độc hại xuống bất cứ lúc nào có thể và cung cấp các
phương tiện bảo hộ cho tất cả những người tiếp xúc trực tiếp với hoá chất. Những
khoa phòng nơi sử dụng và bảo quản loại hoá chất nguy hiểm cũng nên được thiết
kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ cá nhân, tập
thể và các kỹ năng xử lý, cấp cứu ban đầu cho những người có liên quan.
c/ Những ảnh hưởng của các chất thải gây độc gen
Thực chất cần phải có đủ thời gian để thu thập những bằng chứng về ảnh

một địa điểm mới, do đó làm thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị đã được
niêm phong. Sau đó một người dân đã chuyển tới địa điểm nơi bệnh viện đã được
di dời và vô tình nhặt được nguồn xạ và mang về nhà. Hậu quả là có 249 người
tiếp xúc chịu phơi nhiễm với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó hoặc
chết hoặc gặp phải hàng loạt các vấn đề về sức khoẻ. Đa số các tác hại của chất
thải phóng xạ trong cơ sở y tế được báo cáo qua các vụ tai nạn có liên quan đến
việc tiếp xúc với các nguồn phóng xạ ion hoá trong các cơ sở điều trị, như hậu quả
từ các thiết bị phát tia X quang hoạt động không an toàn, do việc chuyên chở, vận
chuyển các dung dịch xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát
trong xạ trị liệu.
2.2.3. Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường
Các vi khuẩn có trong chất thải y tế, được phát thải ra trong môi trường, có
thời gian tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên. Thời gian tồn lưu tác
nhân gây bệnh ngoài môi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ
yếu là yếu tố lý học, hoá học môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ nước,
tia cực tím, pH của môi trường, oxi tự do v.v.
Virus viêm gan B khá bền vững trong điều kiện không khí khô và có thể
tồn lưu trong nhiều tuần lễ trên một số các bề mặt vật ô nhiễm. Loại tác nhân này
có thể vẫn tồn lưu trong dung dịch sát khuẩn 70% cồn ethanol hay tồn tại tới 10
giờ trong nhiệt độ 60
0
C. Hiệp hội nhật bản nghiên cứu về chất thải cho biết, tác
nhân virus viêm gan B và C có thể tồn tại cả tuần lễ trong các giọt máu còn lưu lại
trong kim tiêm.
Virus HIV có thời gian tồn lưu ngắn hơn, chúng có thể tồn tại không quá 15
phút khi bị tác động của cồn ethanol 70% hoặc là chỉ có thể tồn lưu từ 3-7 ngày
trong điều kiện nhiệt độ ngoại cảnh và chúng bị bất hoạt nhanh chóng tại nhiệt độ
56
0
C.

đựng các vật sắc nhọn vào chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước hay vật dụng tự
tạo.
Theo qui định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được hộ lý và y công
thu gom hằng ngày tại khoa phòng. Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá còn chưa
được giáo dục, huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế. Tình
trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ khác cho nhân
viên trực tiếp tham gia vào phân loại thu gom, vận chuyển và tiêu huỷ chất thải.
3.2. Lưu trữ, vận chuyển chất thải y tế tới nơi tiêu huỷ
Chất thải rắn y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung
chuyển tại bệnh viện. Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những
hướng dẫn cho việc xây dựng, các khu vực trung chuyển chất thải rắn bện viện.
Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên
trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển. Các khu trung chuyển có
điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi
vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện. Một số
điểm tập trung rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại,
những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập. Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi
lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn qui định.
25

Trích đoạn Phân loại, thu gom chất thải bệnh viện Các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status