Xử lý nước thải sản xuất giấy pot - Pdf 15

Xử lý nước thải sản xuất
giấy
Công nghiệp sản xuất giấy chiếm vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế
nước ta. Cùng với sự phát triển của các nghành công nghiệp, dịch vụ khác,
nhu cầu về các sản phẩm giấy ngày càng tăng. Tuy nhiên, bên cạnh những
lợi ít đạt được to lớn về kinh tế – xã hội, nghành công nghiệp này cũng phát
sinh nhiều vấn đề môi trường bức xúc cần phải giải quyết, đặc biệt là nước
thải phát sinh trong quá trình sản xuất bột giấy, đây là loại nước rất khó xử
lý. Cần có biện pháp xây dựng các cơ sở gắn sản xuất với xử lý ô nhiễm
môi trường, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường.
. Nước thải của ngành công nghiệp giấy có hàm lượng COD khá cao 22000-
46500 mg/l, BOD chiếm từ 40-60% COD, phần lớn được gây ra từ những
chất hữu cơ không Lignin. Ngoài các chỉ tiêu ô nhiễm của nước thải dịch
đen đã được đề cập thì nước thải của xeo giấy có tỉ lệ COD, BOD, Lignin
không cao bằng nước thải dịch đen, nhưng các chỉ tiêu này cũng vượt quá
giới hạn cho phép. Do đó cần xử lý trước khi xả vào nguồn tiếp nhận là một
điều tất yếu.
I.THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT NƯỚC THẢI
- Dòng thải rửa nguyên liệu bao gồm chất hữu cơ hòa tan, đất đá, thuốc bảo
vệ thực vật, vỏ cây…
- Dòng thải của quá trình nấu và rửa sau nấu chứa phần lớn các chất hữu cơ
hòa tan, các chất nấu và một phần xơ sợi. Dòng thải có màu tối nên thường
được gọi là dịch đen. Dịch đen có nồng độ chất khô khoảng 25 đến 35%, tỷ
lệ giữa chất hữu cơ và vô cơ 70:30.
- Thành phần hữu cơ chủ yếu là trong dịch đen lignin hòa tan và dịch kiềm.
Ngoài ra, là những sản phẩm phân hủy hydratcacbon, axit hữu cơ. Thành
phần hữu cơ bao gồm những chất nấu, một phần nhỏ là NaOH, Na2S,
Na2SO4, Na2CO3, còn phần nhiều là kiềm natrisunfat lien kết với các chất
hữu cơ trong kiềm.
- Dòng thải từ công đoạn tẩy của các nhà máy sản xuất bột giấy bằng
phương pháp hóa học và bán hóa chứa các chất hữu cơ, lignin hòa tan và

đưa nước sang bể lắng 1 loại bỏ các cặn sinh ra trong quá trình keo tụ tạo
bông. Ở đây ta thu hồi bột còn một phần bùn được đưa sang bể chứa bùn.
Nước thải tiếp tục sang bể arotank. Bể Aerotank có nhiệm vụ xử lý các chất
hữu cơ còn lại trong nước thải. Tại bể Aerotank diễn ra quá trình oxi hóa các
chất hữu cơ hòa tan và dạng keo trong nước thải dưới sự tham gia của vi
sinh vật hiếu khí. Trong bể Aerotank có hệ thống sục khí trên khắp diện tích
bể nhằm cung cấp oxi, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hiếu khí sống,
phát triển và phân giải các chất ô nhiễm. Vi sinh vật hiếu khí sẽ tiêu thụ các
chất hữu cơ dạng keo và hòa tan có trong nước để sinh trưởng. Vi sinh vật
phát triển thành quần thể dạng bông bùn dễ lắng gọi là bùn hoạt tính. Khi vi
sinh vật phát triển mạnh, sinh khối tăng tạo thành bùn hoạt tính. Hàm lượng
bùn hoạt tính nên duy trì ở nồng độ khoảng 2500 – 4000 mg/l. Do đó, một
phần bùn lắng tại bể lắng sẽ được bơm tuần hoàn trở lại vào bể Aerotank để
đảm bảo nồng độ bùn nhất định trong bể. Nước thải sau xử lý sinh học có
mang theo bùn hoạt tính cần phải loại bỏ trước khi đi vào các bể tiếp theo, vì
vậy bể lắng 2 có nhiệm vụ lắng và tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải.
Nước sạch được thu đều trên bề mặt bể lắng thông qua máng tràn răng cưa.
Nước thải sau bể lắng sẽ tự chảy sang bể khử trùng qua Clo và được bơm
qua bể lọc áp lực đa lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính, để
loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó
hoặc không phân giải sinh học và halogen hữu cơ. Nước thải sau khi qua bể
lọc áp lực sẽ đi qua bể nano dạng khô để loại bỏ lượng SS còn sót lại trong
nước thải, đồng thời khử trùng nước thải trước khi nước thải được xả thải
vào nguồn tiếp nhận. Nước sau khi qua bể nano dạng khô đạt yêu cầu xả thải
vào nguồn tiếp nhận theo quy định hiện hành của pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status