Luận văn: Quy định về hôn nhân của luật Hồng Đức và luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000) – sự kế thừa và phát huy potx - Pdf 15

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển hàng triệu năm của loài người đã được đánh dấu bằng vô
số những thành quả trong đó có tập hợp các mối quan hệ được hình thành trong xã
hội. Tính văn minh của loài người thể hiện ở việc phát triển cộng đồng từ các mối
quan hệ từ thấp đến cao. Có thể nói gia đình là đơn vị tổ chức cơ bản nhất của xã
hội. Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối
quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc
quan hệ giáo dục. Tuy nhiên theo quan niệm hiện đại về gia đình thì hôn nhân là
tiền đề cơ bản để tạo nên một gia đình. Vấn đề hôn nhân và gia đình dần được xã
hội quan tâm nhiều hơn, đặc biệt trong lịch sử phạm trù “hôn nhân” đã được xuất
hiện khá lâu. Từ thời Trung Cổ với các chính sách của nhà thờ Kitô thì vấn đề thành
lập gia đình giữa nam và nữ cũng đã được đề cập đến.
Cùng với sự ra đời của nhà nước, Pháp luật luôn đóng vai trò là cán cân công
lý, là công cụ hữu ích giúp nhà nước quản lý tốt bộ máy pháp quyền. Vấn đề quan
hệ giữa các giai cấp, các giai tầng và các nhóm xã hội là những nhân tố quyết định
trực tiếp đối với Nhà nước và Pháp luật. Ở hầu hết các nước, hôn nhân và gia đình
đã được gán với một bộ luật quan trọng trong hệ thống luật pháp. Ở Việt Nam cũng
vậy, hiện nay nước ta đang đưa vào sử dụng bộ luât “hôn nhân và gia đình” – bộ
luật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X, kỳ họp thứ
7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000. Lịch sử cũng đã ghi nhận “Quốc triều hình
luật” hay còn gọi là “Luật Hồng Đức” của triều đình nhà Lê với nhiều điểm tích
cực mà trên cơ sơ đó Luật pháp nước ta hiện nay vẫn còn kế thừa và phát huy. Vấn
đề về quan hệ hôn nhân và gia đình trong bộ luật Hồng Đức là một trong những
điểm tiến bộ đáng kể. Nghiên cứu về những giá trị hữu ích trên và ứng dụng vào
thực tiễn Luật pháp nước ta hiện nay sẽ mang lại nhiều kết quả trong việc phát triển
kinh tế-văn hóa và xã hội. Nếu có một hệ thống luật pháp vững chắc, chặt chẽ và
phục vụ lợi ích cho đông đảo các giai tầng trong xã hội thì chắc hẳn xã hội ấy sẽ
phát triển một cách thịnh vượng và có chiều sâu.
1
Đó chính là lý do để em quyết định nghiên cứu đề tài: “Quy định về hôn

thời Lê Thái Tổ, đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành.
Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lê Lợi đã cùng với các đại thần
bàn định một số luật lệ về kiện tụng và phân chia ruộng đất của thôn xã. Những thứ
hình phạt, những lễ ân giảm trong Luật Hồng Đức (49 điều thuộc chương Danh lệ)
phần lớn đều được quy định trong thời Lê Thái Tổ. Ba mươi hai điều luật trong
chương Điền sản để pháp chế hóa các thể lệ quân điền cũng được quy định chặt chẽ
trong những năm Thuận Thiên (1428-1433) và được thực hiện suốt trong thời Lê
sơ.
Tuy vậy chỉ mới là bước đầu xây dựng, nên luật pháp thời Thái Tổ còn có
nhiều thiếu sót nhất là về phương diện tư hữu tài sản. Những thiếu sót ấy sẽ được
các triều vua sau bổ sung thêm.
Trong thời Thái Tông (1434-1442), một số nguyên tắc xét xử các vụ kiện cáo
và một số điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hành động giao thiệp với nước ngoài
được xây dựng thêm.
Đến năm 1449, Nhân Tông ban hành 14 điều luật khẳng định và bảo vệ
quyền tư hữu ruộng đất, quy định nguyên tắc xét xử những hành động xâm phạm
3
đến quyền tư hữu ruộng đất. Sang thời Thánh Tông, triều đình liên tiếp ban bố
nhiều điều lệ về kế thừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ty trật tự và đạo đức phong
kiến, về việc trấn áp mọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trị
của giai cấp phong kiến. Sách Hồng Đức thiện chính thư và Thiên Nam dư hạ tập
còn ghi chép lại nhiều điều luật ban bố và thi hành trong thời Thánh Tông, theo thứ
tự từng năm. Riêng trong Thiên Nam dư hạ tập, còn ghi lại 40 điều luật thi hành
trong năm Quang Thuận (1460-1469) và 61 điều trong năm Hồng Đức (1470-1497).
Năm 1483, Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các
phép lệnh đó ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, san định lại, xây
dựng thành một bộ pháp điển hoàn chỉnh. Đó là bộ Quốc triều hình luật, mà người
ta thường gọi là bộ Luật Hồng Đức, để đề cao vai trò xây dựng của Lê Thánh Tông.
Thực ra bộ luật đó không phải do Lê Thánh Tông sáng tạo ra, cũng không phải
được xây dựng riêng trong những năm Hồng Đức (1470-1497), mà là sản phẩm của

3.Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của
quan lại, các tội về chức vụ.
4.Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái
của tướng, sĩ, các tội quân sự.
5.Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình
và các tội phạm trong các lĩnh vực này.
6.Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung
sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm
chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội
phạm trong lĩnh vực này.
7.Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục.
8.Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một
số tội chính trị như phản nước hại vua.
9.Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và
các tội vu cáo, lăng mạ v.v
10.Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối.
5
11.Chương Tạp luật: 92 điều quy định về các tội không thuộc các nhóm tội
danh trên đây.
12.Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các
tội thuộc lĩnh vực này.
13.Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm
và các tội phạm trong lĩnh vực này.
1.2.1.2. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000)
Hệ thống chương điều
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 bao gồm lời mở đầu, 13
chương và 110 điều. Bố trí cụ thể như sau:
+ Chương I: Những quy định chung
+ Chương II: Kết hôn
+ Chương III: Quan hệ giữa vợ và chồng

Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 qui định chế độ hôn nhân-
gia đình và trách nhiệm của công dân – Nhà nước - Xã hội trong việc xây dựng,
cũng cố chế độ Hôn nhân-gia đình Việt Nam.
Tiểu kết
Hai bộ luật nêu trên thể hiện rõ bản chất riêng của từng xã hội, mang đậm nét
văn hóa đặc trưng của xã hội. Có thể thấy rằng, trong điều kiện phát triển của xã hội
Phong kiến với nền kinh tế trọng nông, các chế định, chế tài…nghiêng hẳn về việc
bảo vệ chế độ và việc duy trì xã hội phát triển theo xu hướng của giai cấp thống trị.
Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) có nhiều điều luật mang đậm tư tưởng Nho
giáo, những vấn đề về quan hệ gia đình, luật điều chỉnh hành vi cư xử của con
người sao cho phù hợp với đạo đức.Trong đó có nhiều điểm vẫn đang được xã hội
chấp nhận và được coi là những điểm tiến bộ cần phát huy.
Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) được xây dựng qua nhiều triều đại
khác nhau, mà cụ thể là được chọn lọc từ các triều đại như: Thái Tông(1434-1442),
Nhân Tông(1449), Thánh Tông(1483). Đây là một giai đoạn phát triển cao độ của
chế độ Phong kiến tập quyền Việt Nam. Trong đó công lao của triều vua Lê Thánh
Tông là đã san định các luật lệ của những triều vua trước để hoàn thành bước xây
dựng bộ pháp điển Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức).
7
Bộ luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng có một số điểm ảnh
hưởng của tư tưởng Nho giáo, điều này thể hiện khá rõ thông qua một số chương
liên quan đến quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân.
Hệ thống chương điều của bộ luật Hồng Đức được bố trí khá hợp lý với 13
chương và 722 điều. Trong đó các quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình được
tập trung chủ yếu ở chương Hộ hôn và chương Điền sản. Bộ luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam năm 2000 có hệ thống chương điều với các qui định khá rõ ràng, các
mục được phân ra cụ thể với nhiều lỉnh vực riêng trong quan hệ hôn nhân và gia
đình như: kết hôn, ly hôn, quan hệ vợ-chồng, quan hệ cha mẹ-con cái…
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH QUAN HỆ HÔN NHÂN TRONG LUẬT HỒNG
ĐỨC VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM (2000)

Tổ chức đăng ký kết hôn: Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên
nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn
tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn
trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên.
Những trường hợp không đươc kết hôn: (Điều 10) Việc kết hôn bị cấm
trong những trường hợp sau đây:
1. Người đang có vợ hoặc có chồng;
2. Người mất năng lực hành vi dân sự;
3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ
trong phạm vi ba đời;
4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với
con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ,
mẹ kế với con riêng của chồng;
5. Giữa những người cùng giới tính.
Đăng ký kết hôn: Điều 11
1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
(sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều
14 của Luật này.
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều
không có giá trị pháp lý.
9
Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì
không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.
2. Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa.
2.1.2. Chấm dứt hôn nhân
Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật)
Cưỡng chế ly hôn:
Buộc phải ly hôn (các điều 317, 318, 323, 324, 334) do hôn nhân đã vi phạm
các quy định cấm kết hôn.

(Quốc triều hình luật). Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản
của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình
nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản
chung). Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung. Khi ly hôn, tài sản
của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người.
Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do bố mẹ dành cho
được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng (vợ) để
lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng (vợ), hoặc người thừa tự bên chồng (vợ) giữ). Một
phần dành cho vợ (chồng) để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở
hữu). Khi người vợ chồng, chết thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng.
Đối với tài sản do hai người tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau: một
phần dành cho vợ (chồng) làm của riêng; một phần dành cho vợ (chồng) chia ra như
sau: 1/3 dành cho gia đình nhà chồng (vợ) để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ (chồng)
để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình
bên chồng. "Quốc triều hình luật" không nhắc tới động sản, chỉ đề cập tới điền
sản, theo Vũ Văn Mẫu: "Điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng
nông, các động sản khác chỉ là những vật có ít giá trị". Song trong "Hồng Đức thiện
chính thư" (điều 258-259) đã không gạt hẳn các động sản ra ngoài thừa kế. "Đến
như nhà cửa chỉ có thể chia làm hai, người sống được một phần làm chỗ ở, người
chết được một phần làm nơi tế lễ". "Còn đến của nổi, phải để cung vào việc tế tự và
theo lệ dân trả nợ miệng, còn thừa bao nhiêu cũng chia cho vợ con". "Của nổi" ở
11
đây được hiểu là vàng, bạc, lụa, vải, thóc lúa, giường chiếu, đồ sứ, mâm thau Như
vậy, pháp luật đã ghi nhận một cách bình đẳng sự đóng góp của người vợ trong tài
sản chung của vợ chồng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do hai vợ
chồng làm ra.
Quyền và nghĩa vụ chăm sóc con cái sau ly hôn: Thông thường sau khi ly
hôn, con cái sẽ theo người bố, tuy nhiên nếu đòi hỏi thì người vợ cũng se được chia
một nửa số con.
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000)

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem
xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào
việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình
được coi như lao động có thu nhập.
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành
niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình.
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên
nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì
phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng
thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Quyền và nghĩa vụ chăm sóc con cái sau ly hôn
+ Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi
dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người
không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
+ Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết
13
định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;
nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các
bên không có thoả thuận khác.
2.2. Những quy định về gia đình
2.2.1. Quan hệ giữa vợ - chồng
Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật)
Trách nhiệm của mỗi bên:

Phong kiến. Tuy nhiên, trong Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức) vẫn có một số
điểm tiến bộ trong quan niệm nam nữ. Điều 388 quy định: “Cha mẹ mất cả, có
ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em chị em tự chia nhau thì lấy một
phần 20 số ruộng đất làm hương hoả; giao cho người con trai trưởng giữ; còn
thì chia nhau”
Luật Hồng Đức kế thừa khá nhiều những tư tưởng tích cực của Nho giáo.
Điều đó thể hiện khá rõ qua một số điều luật liên quan đến quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình.
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam(2000)
Điều 35. Nghĩa vụ và quyền của con:
Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng
nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt
đẹp của gia đình.
Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.
Điều 48. Nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em
Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ
và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha
mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
Tiểu kết
Tiếp thu quan điểm Lễ của Nho giáo, các nhà làm luật triều Lê đã đưa ra
những qui định và hình phạt chặt chẽ nhằm bảo vệ lễ giáo phong kiến. Trong gia
đình, những hành vi vi phạm đạo lý của Nho giáo cũng bị qui định phải chịu hình
15
phạt theo hệ thống hình phạt ngũ hình ở Điều 1, đó là hình phạt từ nhẹ đến nặng
như: Suy, trượng, đồ, lưu, tử. Để cho giáo lý của đạo Nho được mọi người tuân theo
một cách triệt để, nhà làm luật đã dùng đến những hình phạt rất nặng để trừng trị
những hành vi trái với đạo lý Nho giáo. Ngoài xã hội, chịu ảnh hưởng tư tưởng
trung quân của Nho giáo, Quốc Triều Hình Luật đưa ra các hình phạt cho những
người phạm vào kỉ cương phép nước và trật tự xã hội, mưu mô làm việc đại nghịch,

ràng buộc trách nhiệm của nhau trong cuộc hôn nhân mặc dù đã rạn vỡ. Đây cũng là
một điểm đáng lưu ý.
+ Thứ tư: Tại các điều 373, 374 về việc phân chia tài sản sau ly hôn. Trong
đó đã phân chia ra tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng. Mặc dù tại một số
trường hợp mà cuộc ly hôn diễn ra do lỗi của người vợ, khi đó người vợ không
được nhận lại tài sản chung của 2 vợ chồng. Tuy nhiên việc phân định rạch ròi về
tài sản cũng là điểm tiến bộ mà luật pháp nước ta đang áp dụng tại điểm 2 điều 95
chương X luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Ngoài ra, luật Hồng Đức còn qui định việc phân chia tài sản khá hợp lý khi
một trong 2 chết. Và đặc biệt việc phân chia tài sản còn phải được chú ý trong
trường hợp hai vợ chồng có con cái. Những điều trên cho ta thấy về tầm nhìn của
các nhà làm luật thời Hồng Đức.
3.2. Luật Hồng Đức quan tâm đến người phụ nữ-ảnh hưởng đến tương lai
Quan hệ vợ chồng được qui định tại bộ luật Hồng Đức dần thể hiện rõ ràng
trách nhiệm của vợ chồng với nhau trong gia đình. Mặc dù trong giai đoạn xã hội
phong kiến nặng nề, tuy nhiên việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ vẫn được
nêu ra. Việc áp dụng các hình phạt cho người chồng khi không làm tròn trách nhiệm
của mình với gia đình, vợ con là một điểm đáng chú ý. Người vợ hoàn toàn có thể
được giải phóng trong cuộc hôn nhân nếu người chồng không quan tâm, chăm sóc
trong khoảng thời gian là 5 tháng. Một điểm đáng nhắc đến là ở đây, người vợ cả có
thể tham gia bàn bạc việc gia đình, dù chưa thật sự bình đẳng. Giá trị nhân văn được
luật Hồng Đức nêu lên là qui định việc để tang của người vợ đối với gia đình nhà
chồng. Ngày nay, công việc để tang được xem như là một lối sống của đa phần
người dân nước ta.

17
3.3. Tầm nhìn tương lai của luật Hồng Đức về vấn đề hôn nhân
+ Thứ nhất: Về độ tuổi kết hôn, mặc dù trong bộ luật chưa trình bày rõ ràng
nhưng theo “Hồng Đức giá nghi lễ” có chỉ rõ con gái từ 16 tuổi trở lên, con trai từ
18 tuổi trở lên mới được dựng vợ gã chồng. Luật pháp hiện nay đang áp dụng độ

quyết định. Nếu đường lối và chính sách của Đảng – Nhà nước đi lệch với những
mục tiêu định sẵn thì ắt hẳn các mục tiêu ấy ấy sẽ không được thực hiện. Do đó
những nhà lảnh đạo luôn phải thật sáng suốt trong việc đề ra và thực hiện các sách
lược. Hệ thống pháp luật là một lỉnh vực quan trọng như vậy. Các nhà làm luật luôn
tìm cách xây dựng, chỉnh sửa hệ thống Pháp luật sao cho phù hợp với sự phát triển
không ngừng của xã hội. Chính vì lẽ đó, nghiên cứu về hệ thống Pháp luật của nước
CHXH chủ nghĩa Việt Nam là một công việc thường xuyên cần được thực hiện
song song với sự phát triển của đất nước.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] : Tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia dình Việt Nam năm 2000 và các văn
bản hướng dẫn thi hành(NXB TP Hồ Chí Minh-522 trang)
[2] : Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (NXB Công an nhân
dân-PGS.TS.Hà Thị Mai Hiên chủ biên, 311trang)
[3] : Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật (NXB Công an nhân
dân, GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên(463 trang).
[4] : Bộ giáo dục và đào tạo: Pháp luật đại cương (NXB Chính trị quốc gia,
ThS.Lê Minh Toàn chủ biên, 487 trang)
20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status