tiểu luận hương ước - vai trò của hương ước trong quản lý xã - Pdf 15

TRƯỜNG………………
KHOA…………………………
Tiểu luận
ĐỀ TÀI:
HƯƠNG ƯỚC – VAI TRÒ CỦA
HƯƠNG ƯỚC TRONG QUẢN LÝ
LÀNG XÃ

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
I. Tìm hiểu chung về Hương ước: 3
II. Nội dung cơ bản của Hương ước làng: 4
1. Hương ước các làng quy định về chế độ ruộng đất.
4
KẾT LUẬN 13
LỜI MỞ ĐẦU
Theo dòng chảy của lịch sử, có những thứ sẽ mất dần đi, nhưng có những
thứ sẽ lại càng phát huy được vai trò, thế mạnh của mình trong thời đại mới
và tồn tại mãi mãi. Cũng như vậy, mô hình tổ chức làng xã đã xuất hiện từ
rất sớm và vẫn còn tồn tại bền vững cho đến tận ngày nay. Gắn liền với nó
chính là sự hình thành và phát triển của nền văn hoá làng xã. Trong đó,
Hương ước là một biểu hiện quan trọng của nền văn hoá dân gian ở làng quê
và mang đặc điểm riêng ý thức hệ của người dân trong mỗi ngôi làng.
Hương ước, luật làng đã tồn tại song song cùng với luật pháp và nắm giữ vai
trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, cắm rễ, ăn sâu trở thành nếp cảm,
nếp nghĩ của con người (Ví dụ như Hương ước của các làng Quỳnh Đôi là
một trong những bản Hương ước cổ nhất hiện nay, Hương ước của làng
Nhật Tân, Phù Xá Đoài hay Thổ Khối…) Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay,
Hương ước vẫn tiếp tục phát huy được các vai trò của nó đối với sự phát
triển của làng xã Việt Nam.

Hương ước sau khi được nhân dân, hội nghị cử tri hay hội nghị đại biểu Hộ
gia đình thông qua, thì cần phải được Uỷ ban Nhân dân cấp huyện phê duyệt
trước khi thi hành nhằm đảm bảo nội dung của Hương ước không trái với
các quy định của pháp luật hiện hành hay các quy định xử phạt nặng nề, các
khoản phí, lệ phí có thể gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân.
Như vậy, Hương ước ngày nay và trước đây đã xuất hiện một số điểm thiếu
đồng nhất, tuy nhiên, nội dung và vai trò của Hương ước làng xã trong đời
sống người dân Việt Nam ta về cơ bản vẫn không hề thay đổi.
II. Nội dung cơ bản của Hương ước làng:
1. Hương ước các làng quy định về chế độ ruộng đất.
Nông nghiệp là cơ sở kinh tế chính của làng xã Việt Nam . Hương ước các
làng đều khẳng định “việc nhà nông là cái gốc lớn” để bảo vệ, phát triển sản
xuất và đều ra một số quy định khuyến khích mọi người, mọi nhà tận dụng
đất đai để sản xuất và quy định về việc xử dụng ruộng đất. Như Hương ước
làng Quỳnh Đôi-Nghệ Tĩnh có tới 4 điều khoản nói về vấn đề này, trong đó
điều 9 quy định “làng xét các nơi trong đồng điền nơi nào trồng hoa quả thì
trồng cho hết không được bỏ hoang Nếu có người không cày bừa để ruộng
vườn hoang thì phải phạt”. Tuy nhiên, quy định về chế độ ruộng đất cơ bản
đã bị bãi bỏ vì hiện nay quy định này thuộc thẩm quyền của Nhà nước quản
lý.
2. Hương ước làng quy định về chế độ khuyến nông,
bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường và các danh lam
thắng cảnh, đền chùa, miếu mạo.
Về công tác khuyến nông bảo vệ sản xuất được chú trọng nhằm tận dụng
diện tích đất. Điều 113 Hương ước làng Quỳnh Đôi-Nghệ Tĩnh quy định:
"Nguyên làng ta có một dải ruộng hoang ở xứ Đập Bản và Vụng Cầu, làng
nên cho khai khẩn thành ruộng trồng trọt để làm mối lợi thêm cho dân làng,
nay làng bản hễ người nào có sức phá vỡ ra cày cấy được khoảng 4 năm,
làng cho ăn không phải nộp thuế, ngoài 4 năm thì cứ lấy lúa trên ruộng,

định về văn hoá ứng xử trong làng xã cũng được quy định rất rõ ràng, chi
tiết và khá chặt chẽ (quy tắc “kính lão đắc thọ”, “tôn sư trong đạo”…)
5. Quy định về thưởng và phạt trong Hương ước.
Trong làng xã thường hay xảy ra các vụ trộm cắp, đánh nhau hay nộp khoán
không đủ (thời trước đây)… cần được các điều lệ trong Hương ước điều
chỉnh. Ví dụ như về việc mất trộm, trong Hương ước làng Quýt Lâm có ghi:
“Hễ nhà ai bị ăn trộm mất đồ vật gì, mà sự chủ vẫn biết đồ ấy hiện chứa tại
nhà nào, thì phải chiếu theo tục cũ, lập tức tường với chức việc sở tại, thị
thiền cho soát xét, như xét được quả tang, khinh thì phân xử, trọng thì giãi
trình”. Nhiều quy định trong các bản Hương ước cổ trước đây thường có các
hình phạt khá nặng nề, chủ yếu đánh vào danh dự của cá nhân hay cả gia
đình, dòng họ người phạm tội, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, thậm chí gây thiệt mạng (Hình phạt gọt gáy bôi vôi
với những phụ nữ không chồng mà chửa). Tuy nhiên, đa số các bản Hương
ước hiện nay đều đã bãi bỏ hoặc thay thế những hình phạt như vậy, mang lại
tính văn minh cũng như dân chủ cho toàn nhân dân Việt Nam ta.
Như vậy, Hương ước có vai trò quan trọng đối với việc ổn định nếp sống
trong làng, sức mạnh của nó, một phần dựa vào hình phạt (cao nhất là đuổi
khỏi làng), một phần dựa vào phần thưởng. Song sức mạnh lớn nhất là bởi
dư luận khen - chê của dân làng.
Hương ước phản ánh tâm lý của dân làng, phản ánh một phương diện quan
trọng của văn hoá làng. Đó là các quan điểm của dân làng về điều hay, lẽ
phải, điều dở, điều trái, về cái đúng - sai, đáng trọng - đáng khinh. Sức mạnh
cưỡng chế của hương ước dựa vào lề thói, nếp sống quen thuộc của cộng
đồng làng. Đó là sức mạnh có tính chất tâm lý nằm sâu trong tiềm thức của
mọi dân làng. Hương ước vừa uốn người ta vào khuôn phép, và động viên
người ta hành động, gắn bó dân làng thành một cộng đồng chặt chẽ, đồng
thời điều tiết các trách nhiệm và các quyền lợi của mọi thành viên trong
làng. Do đó, hương ước có ý nghĩa trong việc bổ sung cho luật pháp khi cần
xử lý những vấn đề rất cụ thể nảy sinh từ nếp sống đặc thù của làng.

hướng các thành viên trong cộng đồng làng xã theo một nguyên tắc chung
nhất. Vì vậy, trên thực tế hương ước đạt được hiệu quả hơn người ta tưởng
và mặc nhiên tồn tại phát triển cho đến tận ngày nay.
Tuy nhiên, do hạn chế về nhiều mặt, hương ước xưa để lại không ít
những hậu quả như: tăng tính biệt lập, giảm tính thống nhất giữa các làng xã
làm cho người nông dân sống quen với luật tục hơn là sống quen với pháp
luật. Do vậy, từ xưa đến nay người dân vẫn truyền tai nhau câu cửa miệng là
“phép vua thua lệ làng”.
Từ khi Đảng và Nhà nước ta phát động cuộc vận động xây dựng gia
đình văn hóa, thôn, làng, bản, ấp văn hóa, người dân đã nhận thức đầy đủ
rằng trong xã hội các hành vi của công dân không chỉ chịu sự điều chỉnh của
pháp luật mà còn chịu sự điều chỉnh của nhiều phạm trù xã hội khác như
quan niệm đạo đức, tập quán, dư luận, tín ngưỡng tôn giáo.
Phải nói rằng, từ khi có chính sách mới của Đảng và pháp luật của
Nhà nước đối với nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng thì hộ gia
đình được coi là đơn vị kinh tế tự chủ. Đó là tiền đề cho việc xác lập vị trí
vai trò quan trọng của làng xã trên nhiều mặt, trước hết là vai trò hương ước
trong việc quản lý xã hội ở nông thôn và tổ chức các hoạt động văn hóa. Các
giá trị truyền thống văn hóa được khôi phục như đình làng được sửa sang và
lễ hội được mở ra.
Việc xây dựng làng văn hóa đã gắn kết tạo ra tính chất cấu kết cộng
đồng cao, phong tục tập quán cổ truyền được kế thừa. Đó là sự gắn bó đoàn
kết giúp đỡ lẫn nhau giữa người cùng dòng họ, xóm, ngõ, tổ, khu phố… khi
có công việc trọng đại như: tang ma, cưới xin hay các công việc đóng góp
xây dựng đường làng, ngõ xóm, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa.
Cuộc vận động thực hiện xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa
qua nhiều năm nay đã được khẳng định, quy ước làng văn hóa là một nội
dung rất quan trọng và không thể thiếu trong xây dựng làng văn hóa. Thực
chất đây là đòi hỏi hết sức khách quan của cộng đồng làng xã bắt nguồn từ
việc kế thừa truyền thống lập hương ước lâu đời của ông cha ta ngày xưa

trường, các danh lam thắng cảnh hay các đền chùa, miếu mạo của làng xã.
Điển hình như thời gian qua là tại xã Nghi Sơn, Quế Sơn, Quảng Nam, nơi
có một khu rừng nhỏ mang tên Miếu Cấm đã được cả dân làng nâng niu bảo
vệ, nguyên nhân là từ một bản Hương ước truyền từ đời xa xưa quy định:
“Cấm cư dân trong làng vào rừng chặt củi làm than. Nếu vi phạm sẽ bị làng
xử phạt. Nhẹ thì cảnh cáo, nặng thì đòn roi, nghiêm trọng hơn thì đuổi ra
khỏi làng”. Vì thế, không những chỉ người dân trong làng, mà ngay cả
những cư dân nơi khác cũng không dám vào săn bắt, chặt cây, dù rừng có rất
nhiều các loại gỗ quý.
Duy trì và phát huy thuần phong, mỹ tục và truyền thống văn hoá cộng
đồng, củng cố các giá trị đạo lý và nhân bản. Nuôi dưỡng, vun đắp ý thức
cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tinh thần bất khuất, tinh thần tự lực, tự chủ
cho mỗi thành viên trong cộng đồng làng xã, xây dựng ý thức cộng đồng
làng xã.
Trong Hương ước xưa cũng có nhiều điều “khuyến”. Như trong bài truyền
thống khuyến học của người Hà Nội xưa qua Hương ước (Tạp chí Xưa và
Nay - số tháng 10-1998) đã công phu ghi lại nhiều điều trong Hương ước
một số làng ở Hà Nội mà nội dung chính là khuyến khích việc học hành. Thí
dụ, Hương ước làng Nhật Tân, điều 102 ghi: “Dạy trẻ con có học thức phổ
thông là nghĩa vụ của người làm phụ huynh, không ai được từ”, hay Hương
ước làng Phù Xá Đoài (Đông Anh), có điều khoản ghi: “Con trai con gái 5,6
tuổi cho vào trường học. Bằng không cho đi học, chỉ nuông con để nghịch
giặc, chửi đánh nhau, thời bố mẹ phải phạt một cơi trầu (10 quả cau, giá tiền
một hào)”, Hương ước làng Cổ Nhuế, điều 98 ghi: “Làng trích tiền công để
mua giấy cho những con nhà nghèo mà hương hội xét không thể mua được”.
Làng nào cũng có khoản học điền để dành quỹ trả lương cho thầy giáo
trưởng làng và phát phần thưởng cho học trò giỏi, qua đó đã thúc đẩy tinh
thần hiếu học, ham học hỏi của người dân. Hay như về tinh thần văn hoá thì
tiêu biểu là ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã thực hiện được 100% khu
dân cư có Hương ước xây dựng nếp sống văn hoá, trong đó có quy định khá

của quan hệ làng xã. Đặc biệt là các làng xã cổ truyền Việt Nam bên cạnh
các đặc điểm có tính phổ quát, mỗi làng xã lại có các đặc điểm riêng của
mình. Do vậy, mỗi một cộng đồng làng xã cụ thể luôn cần đến các quy định
gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện cho mọi thành viên trong làng, phản ánh được
nhu cầu tổ chức và phát triển vủa mỗi làng, xã cụ thể. Bên cạnh đó, khi có
những chính sách của Nhà nước đưa xuống các vùng nông thôn thì nhờ có
Hương ước của các làng nên việc thực thi những chính sách đó được thực
hiện một cách nghiêm chỉnh hơn, nâng cao ý thức pháp luật của người dân
ta. Trong ý nghĩa ấy, Hương ước là phương tiện, công cụ bổ sung quan trọng
cho khả năng điều chỉnh của luật nước, thể hiện ở các việc cụ thể:
- Hương ước biến các quy định chung của pháp luật thành các quy định
cụ thể của làng: đơn giản hoá các quy định của luật nước, làm cho ý thức hệ
pháp luật của Nhà nước trở nên gần gũi và thâm nhập vào hệ tư tưởng, vào
tâm lý và lối sống của mỗi người dân, làm pháp luật trở nên dễ hiểu, dễ áp
dụng. Với lối hành văn dung dị, có vần điệu theo dân gian, Hương ước đi
vào đời sống một cách tự nhiên, nên thấm sâu vào đời sống cộng đồng mà ít
cần đến các phương tiện tuyên truyền, phổ biến ồn ào, tốn kém.
- Hương ước góp phần biến cải khuôn khổ cứng nhắc, các quy tắc có
tính nghiêm khắc lạnh lùng của luật pháp thành sự uyển chuyển, linh động
và biến hoá trong lối hành xử của các cộng đồng. Ở Hương ước, lệ làng, ta
nhận thấy các tinh thần khoan dung, độ lượng và uyển chuyển, hoá giải cái
khô cứng, hà khắc, đôi khi là tàn bạo của luật pháp.
- Hương ước đưa ra nhiều quy định cụ thể bổ khuyết vào các lỗ hổng
của pháp luật, trong các mối quan hệ cụ thể của cuộc sống làng xã. Các vấn
đề như chia ruộng đất công, lão quyền, nam quyền, phụ quyền, trưởng
quyền, an ninh làng xã, đời sống tâm linh của cộng đồng… Thường là
những vấn đề được quy định chung chung trong luật nước lại rất cụ thể trong
các Hương ước.
3, Những ảnh hưởng tiêu cực của Hương ước trong
sự phát triển của làng xã hôm nay:

là rất nhiều các thuần phong mĩ tục, các nét đẹp, các giá trị truyền thống của
từng làng xã nói riêng cũng như của cả dân tộc nói chung. Qua đó, ta có thể
nhận thấy Hương ước có vai trò vô cùng quan trọng, có thể là điều kiện thúc
đẩy, cũng có thể là cản trở đối với sự phát triển của làng xã. Vì vậy, yêu cầu
đặt ra là phải xây dựng những bản Hương ước phù hợp với nếp cảm, nếp
nghĩ của từng địa phương, đồng thời vẫn phải đảm bảo tuân thủ pháp luật,
phù hợp với thực trạng phát triển của mỗi địa phương. Bên cạnh đó, Đảng và
Nhà nước ta cũng đã có những quan tâm, chỉ đạo sát sao tới việc xây dựng
và xây dựng lại các bản Hương ước của làng xã thể hiện qua các cuộc vận
động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa (Bộ Văn hóa-Thông tin),
phát động từ nhiều năm nay, các thông tri, chỉ thị về "Cuộc vận động toàn
dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" (ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), "Xây dựng và thực hiện Hương ước, quy ước
của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư", "Xây dựng và thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở" (Thủ tướng Chính phủ) và ở Nghị quyết Hội nghị lần thứ V
Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (10/6/1993) cũng khẳng định:
“khuyến khích việc biên soạn Hương ước để làm cơ sở tổ chức, quản lý trên
địa bàn”.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đại cương về văn hoá Việt Nam - Phạm Thái Việt, Đào Ngọc Tuấn -
Nxb. Giáo dục – Hà Nội – 2003.
2. Cơ sở văn hoá Việt Nam - Trần Quốc Vượng (Chủ biên) – Nxb. Giáo
dục – Hà Nội – 2003.
3. Cơ sở văn hóa Việt Nam - Trần Ngọc Thêm – Nxb. Giáo dục – Hà Nội
– 2001.
4. Hương ước xưa, quy ước nay – Vũ Hạnh Hiên – Báo Xưa Nay - Số 5 –
1999.
5. Chuyên đề Hương ước: Kỷ yếu hội thảo Khoa học về Hương ước - Viện
nghiên cứu khoa học pháp lý, bộ Tư pháp.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status