CÁC LOẠI VÀ MÔ HÌNH VỀ CÁC THIẾT BỊ PHẢN ỨNG - Pdf 15

Tải xuống tệp đính kèm gốc
17.6. CÁC LOẠI VÀ MÔ HÌNH VỀ CÁC THIẾT BỊ PHẢN ỨNG:
Hầu hết các loại thiết bị giữ và kết nối đều đã được sử dụng như thiết bị phản
ứng hóa học, từ các vòi phun và bơm ly tâm đến hầu hết các tháp chi tiết hóa
và các chùm ống. Phần này dành cho các đặc tính cơ bản của các loại thiết bị
phản ứng chủ yếu, và cũng cung cấp một thư viện các loại thiết bị phản ứng đã
được sử dụng.
Điểm khác biệt rõ nhất là giữa các quá trình vận hành dạng gián đoạn và liên
tục và giữa các loại pha mà chúng được tiếp xúc. Một kiểu phân loại thích hợp
cho các loại thiết bị phản ứng trên cơ sở hai đặc điểm khác biệt được cho ở
hình 17.7.
Khi có hỗn hợp không đồng nhất , tốc độ chuyển hóa thường bị giới hạn bởi
tốc độ chuyển khối qua bề mặt giữa hai pha, vì thế có một bề mặt phân cách
pha lớn là điều mong muốn. Do đó, các chất phản ứng hoặc xúc tác rắn được
phân tách hoàn toàn, và chất lỏng tiếp xúc được đẩy với máy khuấy cơ hoặc
trong tháp đĩa / đệm hoặc trong các bơm ly tâm. Sự vận chuyển nhanh chóng
các chất phản ứng đến bề mặt trao đổi nhiệt bởi việc khuấy hoặc bơm làm tăng
cường quá trình truyền nhiệt và giảm tác hại của chênh lệch nhiệt độ.
Quá trình gián đoạn được sử dụng chủ yếu khi thời gian phản ứng dài hoặc
lượng sản phẩm yêu cầu hàng ngày nhỏ. Thiết bị gián đoạn tương tự thường
được dùng để tạo ra nhiều loại sản phẩm ở các thời điểm khác nhau. Mặt khác,
nó không thể phổ thông hóa như điểm chuyển tiếp kinh tế từ quá trình gián
đoạn sang quá trình liên tục. Một hoặc nhiều thiết bị gián đoạn cùng với các bể
tràn thích hợp có thể được sử dụng để mô phỏng quá trình liên tục trên cơ sở
một ngày hoặc lâu hơn.
THÙNG KHUẤY
Các thùng khuấy là loại thiết bị phản ứng gián đoạn phổ biến nhất. Loại quan
trọng chủ yếu được cho ở hình 17.8 và 10.1, và các kiểu điều khiển
mức ở hình 3.6. Quá trình khuấy để trộn các hợp phần ban đầu, để đạt được
đồng nhất trong suốt phản ứng, và để tăng cường quá trình truyền nhiệt ở tường
bao hoặc các bề mặt bên trong. Thiết bị phản ứng ở hình 17.9(b) xử dụng một

tua-bin ở phía dưới trên cùng một trục, các vách ngăn được cố định vào tường
của bể chứa, và có một tuabin phụ trên trục cho sự tuần hoàn hiệu quả của các
thành phần là một cơ sở cho sự thiết kế. Tuy vậy, việc thiết kế hợp lý cho thiết
bị pha trộn là có thể, nhưng trong trường hợp có tính quyết định các chuyên gia
phải được cố vấn thêm. Chương 10 cũng nói về vấn đề này.
Năng suất đầu vào trên đơn vị thể tích và tốc độ đầu cánh quạt thì thường
được sử dụng đo cường độ khuấy, tỉ lệ thích hợp của kích thước ống và vách
ngăn.
Biên độ thích hợp cho một số điều kiện phản ứng được cho ở bảng sau:
Hoạt động kW/m
3a
Tốc độ đầu cánh (m/s)
Pha trộn 0.05-0.1

Phản ứng đồng thể 0.1-0.3 2.5-3.3
Phản ứng với sự truyền nhiệt 0.3-1.0 3.5-5.0
Khí-lỏng, lỏng-lỏng 1-2 5-6
Bùn nhão 2-5
a
1kW/m
3
= 5.08 Hp/1000gal
Hệ số truyền nhiệt trong bể khuấy hoạt động được thảo trong phần 17.7.
Đối với một lượng nạp và độ chuyển hóa cho trước, thể tích tổng của một
CSTR giảm theo số bậc, nhanh chóng tại bậc đầu tiên và sau đó là chậm hơn.
Khi phản ứng là bậc 1, ví dụ như r = k.C, tỷ lệ của thể tích toàn phần thiết bị
phản ứng V
THIẾT BỊ PHẢN ỨNG THEO DÒNG CHẢY ỐNG
Trạng thái lý tưởng của thiết bị phản ứng theo dòng ống có (TFR) là dòng đẩy
lý tưởng, trong đó tất cả những phân tử không phản ứng có thời gian ổn định
cân bằng. Bất kỳ khuấy trộn trở lại nào xảy ra đều là ngẫu nhiên, là kết quả của
sự chảy rối tự nhiên hoặc được gây ra bởi sự cản trở của các khúc quanh đến
dòng chảy bởi các hạt xúc tác nhỏ hoặc đệm tháp hoặc các bộ phận phụ bên
trong các bể. Tác động của sự cản trở có thể là 2 cái mặt, tuy nhiên, trong đó
một số bộ phận khấy ngược có thể xảy ra, nhưng trong toàn bộ thì xem gần
giống như dòng đẩy được mở rộng vì trong phạm vi lớn sự chảy rối được hạn
chế.
Mọi yêu cầu của việc khuấy trộn ban đầu các chất phản ứng được thực hiện
trong vòi khuấy hoặc thiết bị khuấy trong dòng. Kết quả của phản ứng hóa học,
gradien nồng độ và nhiệt độ được phát triển trong các thiết bị phản ứng có dòng
chảy ống trực tiếp theo hướng trục.
Các TFR có thể là các ống tròn có đường kính từ 1 đến 15cm hoặc hơn hoặc
có thể là các bể có đường kính đo theo đơn vị mét. Hình 17.13 là các loại khác
nhau của các hệ bể. Các ống đơn của thiết bị phản ứng có chiều dài hơn 1000m
đã được sử dụng, trong các trường hợp chúng được uốn dạng cong như trên
hình 17.14 (f) và 17.15 (c). Bán kính của các bộ phận là một kết quả của sự cân
đối giữa giá của vật liệu, giá của bơm, và yêu cầu về nhiệt. Trong một số
trường hợp có thể là cần thiết để tránh vùng dòng chảy quá độ, mà có chỉ số Re
ở mức 2300-4000 hoặc hơn, nếu phản ứng là phức tạp và một độ dài của thời
gian ổn định là có hại.
Khi một số ống trong song song được cần đến, một hệ thống lồng ống được
sử dụng thực hiện sự truyền nhiệt: bể sau đó có thể được để ý như một thiết bị
trao đổi nhiệt trong đó một phản ứng xảy ra ngẫu nhiên. Sự truyền nhiệt đến
các ống đơn được hoàn thiện với các lớp bảo ôn trong hình 17.14 (f) và trong
một bộ gia nhiệt đốt trong hình 17.15 (c). Một số trong thiết kế của bộ gia nhiệt


Hình 17.11. Phân loại các bộ đóng cắt cho phản ứng của các khí với lỏng, các
cái này cũng tiện dụng cho các phản ứng mà chất lỏng không trộn lẫn được.
Bình: (a) với 1 bộ khuấy dẫn khí: (b) với các cánh khuấy có màng ngăn: (c) với
các ống hút: (d) với đầu vào của khí đi qua một cần có rãnh xoay: (e) Với ống
khuếch tán cho các phản ứng nhanh. (f) máy bơm tua bin tự mồi như một thiết
bị vừa phản ứng vừa pha trộn. (g) khoang đa bơm phun. Tháp: (h) tháp màng
rơi dòng chảy song song: (i) Tháp phun với pha khí tuần hoàn: (j) tháp đệm với
dòng chảy song song: (k) tháp đĩa với dòng chảy ngược. (l) một hệ thống
truyền nhiệt kiểu 2 ống xử dụng như một thiết bị phản ứng hình ống.

CÁC THIẾT BỊ PHẢN ỨNG KHI-LỎNG:
Trừ các trường hợp chất lỏng có khả năng bay hơi cao, các phản ứng giữa
các khí và các chất lỏng diễn ra trong pha lỏng, tiếp đó một sự vận chuyển của
các chất khí tham gia đi qua màng khí và lỏng. Vận tốc chuyển khối luôn luôn
là một chỉ tiêu chính hoặc là giới hạn trong tất cả các quá trình chuyển đổi. Dĩ
nhiên thiết bị để các phản ứng tương tự như hấp thụ các khí trơ thường được
gọi là các tháp và các bình khuấy. Hình 17.11 minh họa ở dạng các loại thiết bị
phản ứng lỏng hơi. Hình 17.17 biểu diễn các ví đặc biệt cho các thiết bị phản
ứng: Trong quá trình tổng hợp butynediol, acetylen tại áp suất cao được sục vào
trong fomanldehit lỏng tại nhiều vị trí dọc theo một tháp trong (a). Nhiệt được
hấp thụ của Nitro oxit trong nước để tạo ra axít nitric được loại bỏ theo 2 con
đường trong thiết bị (b) và (e). Các chất béo được hidro hóa trong một hệ thiết
bị phản ứng có khuấy (c) và dưới điều kiện gián đoạn trong một khoang có
khuấy và làm lạnh trong (d). Một thiết bị phản ứng dạng màng mỏng được sử
dụng cho phản ứng sunfo hóa dodecylbenzen với SO
3
trong (f). Hidro được
khuấy tuần hoàn trong một ống thông nhằm chuyển hóa nitrocaprolactarn trong
(g). Dạng ống chùm được sử dụng cho phản ứng amoniac và axít adipic trong

Các loại đệm cố được sử dụng khi các hạt xúc tác trong giới hạn đường kính
từ 2-5 mm. Các bình chứa các hạt rắn trơ với mục đích duy nhất là cải thiện
quá trình chuyển khối giữa pha và phát triển trạng thái dòng chảy khối là không
được đề cập ở trong mục này. Các ứng dụng khác của các đệm trơ cố định là
cho mục đích của truyền nhiệt, như trong các bộ sỏi gia nhiệt và các đệm nhiệt
dạng hạt.
Xúc tác trong một thiết bị phản ứng có thể được nạp vào theo nhiều đường,
như là:
1. Một đệm đơn lớn,
2. Một vài đệm nằm ngang,
3.ống đệm trong một lớp vỏ đơn.
4. Một lớp đệm với các ống cố định,
5.Các đệm trong các vỏ bọc riêng biệt.
Một số được minh họa trong hình 17.13 và 17.18. Dải thiết bị lớp đệm là chủ
yếu vì sự cần thiết cho việc điều khiển nhiệt độ bằng sự truyền nhiệt tương
xứng, nhưng cũng cho sự phân bố lại dòng chảy hoặc để điều khiển tổn thất áp
suất. Có một ít đệm cố định mà không có dự phòng cho truyền nhiệt. Chỉ khi
nhiệt của phản ứng bé nó có thể điều chỉnh nhiệt độ đầu vào như là thiết lập chế
độ đoạn nhiệt là khả thi: phản ứng khử hydro của butan là một ví dụ, được làm
việc theo cách trên.
Vì quá trình sản có tính lịch sư lâu dài và qui mô toàn thế giới, công
nghệ sản suất axít sunfuric và amoniac đã có các sáng tạo đặc biệt về thiết bị
phản ứng. Một số bản thiết kế cho sự oxy hóa SO
2
được minh họa trong hình
17.19. Những khác biệt cơ bản của chúng là trong chế độ điều khiển nhiệt độ
và nhằm thu được tốc độ thích hợp cho phản ứng tại nhiệt độ cao và độ chuyển
hóa mong muốn tại nhiệt độ thấp. Hình 17.19 (g) biểu diễn profile thiên nhiệt
độ đạt được trong thiết bị, và hình 17.20 trình bày biểu đồ điều khiển nhiệt độ
trong sản suất SO

Hình 17.14 Một số hình trạng thiết bị phản ứng bất thường. (a) bình đốt cháy
tạo etylen và acetylen từ hydrocarbon lỏng [Putton etd., Pet Refin 3ir (ll) B O 9
(1958) ]. (b) thiết bị phản ứng đệm dạng vòm cho phản ứng oxy hóa amoniac,
xử dụng lưới Pt-Rh [GilZespie and Kenson, Chemtech, 625 (Oct. 1971) ]. (c)
buồng đốt Schoenherr cho việc cố định nitro ở khí quyển. (d) sản phẩm của
anhydrit axít acetic và etenon dạng khí trong một bơm pha trộn. (e) thiết bị
phản ứng Phillips cho phản ứng polyme hóa ở áp suất thấp của etylen (thiết bị
phản ứng có ống tuần hoàn khép kín). (f) phản ứng polyme hóa etylen ở áp suất
cao.

ĐỆM DI CHUYỂN
Trong các bể chứa các vật liệu dạng hạt hoặc miếng di chuyển dọc xuống
theo khối lượng. Chất rắn có thể là một chất phản ứng hoặc xúc tác hoặc một
chất tải nhiệt. Phản ứng trên hình 17.28 (a) được xử dụng cho việc ổn định nitro
trong không khí ở khoảng 4000
o
F. Các viên đá ổn định nhiệt được đốt bằng
cách tiếp xúc trực tiếp với khí đốt, rớt vào vùng phản ứng không khí. Sau đó
được tuần hoàn bằng thiết bị đẩy để trở lại vùng nung. Việc xử lý khí phải
ngưng tại ở tốc độ khoảng 25000
o
F/giây để lấy lại nồng độ khoảng 1% nitro
oxit. Trong một chế độ hoạt động khác , 2 bộ phận được sử dụng đồng thời,
một được nung nóng trong khi cái khác thì phản ứng.
Thiết bị sỏi nhiệt, hình 17.28 (b) được sử dụng trong cùng một cách thức, ứng
dụng của nó để nhiệt phân dầu để tạo etylen cũng không chứng tỏ sự cạnh tranh
và đã bị từ bỏ.
Các bộ phận sử dụng ở trong hình 18.28 (c) được sử dụng tại một thời điểm
trong quá trình xúc tác craking của dầu khí. Xúc tác được vận chuyển giữa
khoang tái sinh và khoang phản ứng với guồng hoặc khí nâng. Một số dữ liệu

vôi trong hình 17.30 (c), nó hoạt động liên tục như thiết bị phản ứng có đệm
xúc tác di chuyển. Các bình này có đường kính từ 8 đến 15 ft và chiều cao là
50-80 ft. Để nung vôi, nhiệt độ cao nhất vào khoảng 2200
o
F, mặc dù sự phân
hủy tiếp tục xả ra tự do tại 1850
o
F. Nhiên liệu cung cấp có thể là than cốc được
trộn với các đá vôi nếu hoàn toàn bị vôi hóa có thể cho phép bổ sung thêm sỉ lò,
hoặc nhiên liệu khí hoặc lỏng. Tốc độ không gian là 0.8-1.5 lb CaO/ (giờ) (ft
3

của lò nung), hoặc 45-100lb CaO/ (giờ) (ft
2
của mặt cắt lò nung), sự phụ thuộc
vào kích thước và tính hiện đại của lò nung, phương pháp đốt, và kích thước
khối mà ở trong khoảng 4-10 in.
Các lò nung dạng quay có những ứng dụng cho các thiết bị phản ứng: giữa
sự phân chia tốt các chất rắn (xi măng), giữa các chất lỏng và chất rắn ( hạt
muối từ muối của axit sulfuric), giữa các khí và các chất rắn, và cho sự phân
hủy các chất rắn (SO
3
và thạch anh từ CaSO
4
). Lò nung là một cái xilanh hẹp
dài với tỷ lệ chiều dài/đường kính là10-20. Các lò nung thông dụng thì dài từ
100-125 ft, nhưng các lò xi măng thì lớn có đường kính khoảng 12ft và dài 425
ft được ứng dụng. Một độ nghiêng so với đường nằm ngang từ 2-5 độ là vừa đủ
để di chuyển các hạt theo chiều dọc. Tốc độ của phép xoay là 0.25-2 vòng trên
phút. Các khối kết đường kính lên đến 1 in hoặc các bột mịn được sử dụng. Cấp

phế liệu với các lò đốt có khoang đốt đơn, thường với nhiệt tái tạo với sự tiết
kiệm nhiên liệu. Lò đốt Siemens-Martin ở hình 17.30 (d) với một khoang đốt
rộng 13 ft và dài 40ft có năng suất vào khoảng 10 tấn/h thép với thời gian lưu là
10 h. Thể tích khoang đốt vào khoảng 5000 cuft và thể tích tất cả bộ tái tạo vào
khoảng 25000 cuft.

HÌNH 17.17. Các ví dụ về thiết bị phản ứng cho các quá trình lỏng-khí đặc
biệt. (a) thiết bị phản ứng nhỏ giọt để tổng hợp butinediol có đường kính 1.5 m
và cao 18m. (b) thiết bị hấp thụ Nitro oxit trong các cột đệm. (c) Hydro hóa
tuần hoàn các chất béo. (d) thiết bị phản ứng có khuấy cho phản ứng hydro hóa
theo đợt của các chất béo. (e) quá trình hấp thụ nitro oxide trong tháp đĩa. (f)
một thiết bị phản ứng màng mỏng để tạo dodecylbenzen sunfonat với SO
3
. (g)
thiết bị phản ứng có khuấy cho phản ứng hydro hóa caprolactan. (h) thiết bị
phản ứng có buồng đốt để tạo adiponitrit từ axít adipic trong sự có mặt của axít
photphoric
BẢNG 17.9.Các ví dụ về các quá trình tạo tầng sôi có đệm
A. Quá trình xúc tác
1.Cracking dầu và reforming.
2.Thu hồi benzen nồng độ cao từ dầu khí.
3.Sản xuất olefin từ dầu thô.
4.Clo bằng quá trình oxy hóa HCl
5.Acetylen từ metan
6.Điều chế từ ác andehyt chưa bão hòa
7.Tái sản xuất hỗn hợp nitro từ các amin
8.Oxy hóa SO
2
thành SO
3

11.Đốt cháy sunfua trong một đệm cát
12.Phân hủy axít sunfuric thải và các sunfat
13.Cracking các clorit như FeCl
2
, NiCl
3
AlCl
3

14.Bay hơi Re
15.Đốt cháy quặng đá vôi và dolomit
16.Nung xi măng
17.Khử bớt các quặng sắt và oxit sắt
18.Clo hóa quặng của nhôm, titan, Ni, Co và thiếc
19.Clo hóa các piryt thiêu và các quặng sắt
20.Clo hóa đá vôi
21.Canci hóa nhôm hidroxit từ nhôm
22.Điều chế nhôm sunfat từ boxit
23.Điều chế nhôm florit, urani tetra và hexaflorit
24.Điều chế W nguyên chất từ florit
25.Canxi hóa phốt phát
26.Điều chế phosphorus oxyclorit
27.Điều chế carbondisunfit
28.Điều chế hydrazin
29.Điều chế axít nitric
30.Điều chế nitrat từ amoniac và Na
31.Điều chế Na carbonnat
32.Điều chế hydro cianua
33.Hydroclorin hóa nguyên tử nhiên liệu U
34.Điều chế Urani trioxit từ nitrat

của các phân đoạn dầu mỏ. Vì các xúc tác thoái hóa trong một vài phút, nó
được xoay vòng liên tiếp giữa khoang phản ứng và khoang tái sinh. Hình 17.31
(a) là một kiểu của các thiết bị như vậy. Thiết bị tripper hơi nước là cho sự loại
bỏ lớp dầu trước khi xúc tác được nung. Trang thiết bị điều khiển chính của các
hệ thống cạnh nhau được biểu diễn trên hình 3.6 (h).
Các bể xúc tác chất pha lỏng rất lớn. Kích thước và cách vận hành của
một đơn vị nhiệt dung (khoảng 50, 000 BPSD, 60hg/s) được biểu diễn trong
hình. Dữ liệu khác cho một thiết bị phản ứng cần 15, 000 BPSD thì có đường
kính là 25 ft và dài 50 ft. Sự tắc nghẽn xúc tác và các dữ liệu khác như một
thiết bị phản ứng thiết kế bởi Kraft, Ulrich, và O’Connor (trong Othmer (Ed.),
Fluidization, Reinhold, New York, 1956) như liệt kê sau:
Mục Đại lượng
Đơn vị điện tích danh nghĩa 15, 000 BPSD
Xúc tác liệt kê, tổng 250 tấn
Xúc tác liệt kê, thiết bị tái sinh sử dụng đệm 100 tấn
Vận tốc bề mặt, thiết bị tái sinh 2.5 fp
Đệm đặc, thiết bị tái sinh 28.0 lb/cuft
Khói lò cộng với các hạt rắn đặc, đầu vào cyclon 0.5 lb/cuft
Tốc độ xoay của xúc tác , đơn vị 24.0 tấn/ phút
Tốc độ xoay xúc tác, đến các cyclon 7.0 tấn trên phút
Tốc độ tiêu hao xúc tác, kỳ vọng của thiết kế 2 tấn/ ngày

Hình 17.31 (b) là của một đơn vị mà sự cracking hầu hết xảy ra trong một
đường truyền, một công đoạn mà trở thành khả thi với sự phát triển của xúc tác
zeolit hoạt tính cao. Phản ứng hoàn toàn ở khoang trên, nhưng chức năng chính
của khoang đó là để phân tách sản phẩm và xúc tác đã hỏng. Trong sự tương
phản để đệm pha đặc của một thiết bị phản ứng lớn, trong nó sự pha trộn có thể
gần như lý tưởng, đường truyền chiết suất loãng thì gần hơn trong dòng đẩy lý
tưởng. Do đó, một khoang phản ứng nhỏ hơn nhiều thỏa mãn: hơn nữa, sự phân
bố sản phẩm tốt hơn và hiệu suất về lượng gasoline lớn hơn. Các dạng tương tự

làm lạnh. Một sự hóa khí than cốc điển hình được cho trong phần (e): rất nhiều
tro than lưu thông theo nguyên liệu cấp vào để chống lại xu hướng kết tụ của
các hạt than đá. Thiết bị phản ứng H-coal ở phần (f) hoạt động với hỗn hợp 3
pha. Xúc tác không lưu thông nhưng lại có các bọt khí trong không gian. Hoạt
tính được duy trì bởi sự xả ra và làm đầy lại 1-2% xúc tác ngưng lại trên một
ngày. Điều kiện xảy ra quá trình là 450
o
C và 3000psig. Than đá và dầu nặng
còn dư được xử lý hoàn toàn. Đơn vị được biết đến như một “tầng hóa lỏng”.
Tài liệu về hiện tượng hóa lỏng và các công nghệ thì phổ biến. Một
thư mục được cho ở trong Ullmann’s Encyclopedia (1973, Vol. 3, pp, 458-
460). Quyển sách bởi Cheremisinoff và Cheremisinoff (1984) có nhiều hơn 500
bảng tóm tắt về bài báo về thủy động lực học chất lỏng, sự pha trộn và truyền
nhiệt, nhưng một số ít trong công nghệ thiết bị phản ứng. Tài liệu khác vế sự
hóa lỏng được trích dẫn trong các phần tham khảo ở chương 6.

Hình 17.20. Điều khiển nhiệt độ trong các thiết bị phản ứng đa đệm giống
như để tận dụng các tốc độ cao của phản ứng ở nhiệt độ cao và sựu biến đổi cân
bằng thuận tiên hơn tại các nhiệt độ thấp. (a) các đường cân bằng của phản ứng
đoan nhiệt và phản ứng đẳng nhiệt trên biểu đồ cân bằng cho quá trình tổng hợp
amoniac. (b) sự oxy hóa SO
2
trong thiết bị phản ứng có 4 tầng đệm tại áp suất
khí quyển là chủ yếu. (c) tổng hợp metanol trong một thiết bị phản ứng có 4 lớp
đệm bằng quá trình ICI tại 500atm: không để gỉ sắt: 35% metanol tại 250
o
C, 8,
2% tại 300
o
C, các nồng độ được cân bằng.

Vỏ bạc lót 14.2 34.2 22.8 56.4
Phần trao đổi nhiệt 15.5 30.0 25.4 23.8
Áp suất bể 130 128 182 240
Các dữ liệu đặc trưng cho một thiết bị biến đổi làm lạnh ICI dung lượng
1300 tấn/ngày:
Áp suất (psig) 2200 3200 4000 4700
Lưu lượng khí vào (MM scfbb)
a
25.8 21.2 19.8 19.0
Thể tích xúc tác (ft
3
) 2600 1730 1320 1030
Áp suất bể

Phía trong đường kính (in.) 120 102 96 89
Dài (in.) 663 606 528 488
Khối lượng (tấn)

Vỏ bạc lót 68.5 40.8 29.2 23.6
Bộ phận trao đổi nhiệt 37.1 25.4 20.7 17.9
Áp suất bể (kém hơn) 186 184 187 189
Độ giảm áp của bộ biến đổi (psi) 140 104 87 91

a
Thành phần: 2% NH
3
, 12% mất hoạt tính (CH
4
+A), 21.5% N
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status