Mỹ thuật Việt Nam thời hiện đại (từ
cách mạng 1945 đến nay)
Mỹ thuật Việt Nam thời hiện đại (từ cách mạng 1945 đến nay)
Nói tới Việt Nam là chúng ta nói tới một dân tộc so bốn ngàn năm lịch sử dựng nước
và giữ nước. Có biết bao nhiêu là sử sách đã ghi lại những chiến công hào hùng, vẻ
vang của quân và dân ta qua các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh truyền thống đấu tranh chống giặc giữ nước thì dân tộc ta còn có một nền
nghệ thuật phát triển khá sớm, ngay từ thời tiền sử. Chúng ta đã tìm thấy những dấu
vết đầu tiên của nghệ thuật tạo hình đó là những hình chạm khắc trên đá ở các hang;
các đồ dùng sinh hoạt, cảnh săn bắn trải qua những bước ngoặt thăng trầm của đất
nước nền nghệ thuật nước nhà cũng chịu ảnh hưởng không ngừng cho tới nay. Biến
đổi nổi bật nhất là mỹ thuật Việt Nam thời hiện đại (từ cách mạng 1945 đến nay).
+ Những ngày đầu cách mạng và kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).
Cách mạng tháng 8/1945 thành công đưa đất nước vào kỷ nguyên Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc. Đồng thời cũng mở ra một trang sử mới cho mỹ thuật Việt Nam.
Từ những hạt nhân là một số hoạ sỹ hoạt động bí mật trong những " tổ chức văn hoá
cứu quốc thời tiền khởi nghĩa ". Giờ đây cả giới mỹ thuật bị cuốn hút vào thể loại vẽ
tranh cổ động biểu thị ý chí toàn dân quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc
với nhiều chất liệu khác nhau những tác phẩm này đã hướng mỹ thuật Việt Nam vào
con đường mới, với nhân sinh quan cách mạng. Một số hoạ sỹ còn phân vân với
những níu kéo của thẩm mỹ cũ, thì Hồ Chí Minh sau khi xem triển lãm đã góp ý chân
tình " các chú vẽ nhiều thiếu nữ khoả thân, vẽ nhiều hoa, cái ấy cũng đẹp, nhưng đẹp
trên cao, sao các chú không vẽ cái đẹp dưới đất chung quanh chúng ta ".
Đồng thời tháng 10/1945 trường Cao đẳng mỹ thuật được mở ra nhưng do chiến tranh
không học được. Song được cách mạng cổ vũ và lãnh tụ quan tâm, các hoạ sỹ và các
nhà điêu khắc đã tự tin, tích cực chuẩn bị cho cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc đầu
tiên trong chế độ mới và các hoạ sỹ đã giành cả tâm huyết của mình trong việc sử
dụng ngòi bút làm vũ khí tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật, ca ngợi lãnh
tụ và các anh hùng thời đại: Tranh tượng về Bác Hồ (Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung,
Phan Kế An ) tự vệ chiến đấu (Văn Bình) đã báo hiệu sự ra đời của nền nghệ thuạt
hai trận địa phản phong và phản đế, có người đã đổi cả chính cuộc đời nghệ thuật như
hoạ sỹ - liệt sỹ (Tô Ngọc Vân) sinh 1906 - 1954 tại Hà Nội. Tốt nghiệp trường Cao
đẳng mỹ thuật Đông Dương 1931, là Hiệu trưởng đầu tiên của trường mỹ thuật kháng
chiến mở ở chiến khu Việt Bắc. Là một hoạ sỹ nổi tiếng của mỹ thuật Việt Nam hiện
đại, trước cách mạng vẽ tranh các thiếu nữ thị thành đài các (thiếu nữ bên hoa huệ, 2
thiếu nữ ) sau cách mạng tháng 8 và kháng chiến ông chuyển sang vẽ tranh về chiến
sỹ vệ quốc đoàn, những ông già nghệ thuật chất phác, những cô thôn nữ người dân tộc
thuỳ mị ký hoạ là một thể loại nổi tiếng của ông với tác phẩm: Đốt đuốc đi học, chị
cốt cán, con nghé quả thực ngoài ra còn có một số tác phẩm nổi tiếng của một số tác
giả cùng thời: cái bát (Sỹ Ngọc), vệ quốc quân canh đêm (Nguyễn Tự Nghiêm)
+ Nền mỹ thuật Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ
(1954 - 1975).
Giữa năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hoà bình lập lại trong cả nước
giới mỹ thuật có điều kiện tập trung về thủ đô Hà Nội, họ tổ chức một cuộc triển lãm
thực sự mang tính toàn quốc, là sự tổng kết của mỹ thuật kháng chiến. Từ đây có
nhiều công trình mỹ thuật được xây dựng như: 1957 hội mỹ thuật Việt Nam được
thành lập, trường Trung câp mỹ thuật được nâng cấp thành trường Cao đẳng. 1962
viện mỹ thuật - mỹ nghệ được thành lập, 1966 bảo tàng mỹ thuật nhánh thành tất cả
nói lên tiềm năng của mỹ thuật cách mạng thật dồi dào, và được giới thiệu ra thế giới
tiêu biểu với những tác phẩm: " Nhớ một chiều Tây Bắc " (Phan Kế An) là hồi ức về
một dĩ vãng đầy hào hùng, đầy oanh liệt, đầy tình yêu người, yêu thiên nhiên, một dĩ
vãng đầy hào húng đã đi vào lòng người bao thế hệ con cháu đất Việt, hình dáng đoàn
quân chiến sỹ nhỏ bé so với núi rừng nhấp nhô, hùng vĩ, càng tăng thêm lòng quyết
tâm rất cao của các chiến sỹ này.
Tác phẩm " Bình minh trên nông trang " (Nguyễn Đức Nùng) được vẽ bằng màu bột
với mảng màu nóng rực, rắn chăc, đã diễn tả hình dáng của một anh bộ đội với cánh
tay rắn chắc, hoành tráng trước một thiên nhiên rộng lớn, lấp lánh ban mai.
Tác phẩm này diễn tả cảnh tát nước rất sôi động của nhóm người nông dân, họ vui vẻ,
cười đùa, cùng nhau tát những gàu nước vào đồng, " Tát nước đồng chiêm " là một bài
thơ ca ngợi cuộc sống lao động của người nông dân tạo niềm tin cho tiền phương về
XHCN Châu á (Trung Quốc, Triều Tiên, Ma Cao), 1959 tại 8 nước XHCN Châu Âu.
Triển lãm mỹ thuật Việt Nam luôn giành được cảm tình của nhân dân thế giới.
Trong sự phát triển của mỹ thuật trên đây có cả chiều rộng và chiều sâu, chưa bao giờ
có một đội ngũ tạo hình đông đảo đi vào mọi mặt của cuộc sống sôi động. Từ đó lại
dẩy lên phong trào mỹ thuật không chuyên ở khắp các mặt trận sản xuất và chiến đấu,
các hình tượng nghệ thuật đã được khẳng định và đi vào lịch sử. Các hoạ sỹ đã vẽ rất
nhiều chủ đề, đề tài trong cuộc sống, chiến đấu khác nhau.
Trước hết là hình ảnh người chiến sỹ. Hoạ sỹ (Nguyễn Sáng) rất thành công ở đề tài
này với " Giặc đốt làng tôi " diễn tả cảnh người phụ nữ và em be dân tộc phải đưa
nhau đi di cư vì làng bị giặc đốt phá cùng với những hình ảnh đó hình ảnh một chiến
sỹ bộ đội.
Tác phẩm " Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ " là tác phẩm diễn ra sự căm thù đã thành
sức mạnh quyết chiến, quyết thắng càng hy sinh, càng kiên định lập trường, cả một tập
thể gắn bó theo Đảng, dựng hình đơn giản về nét và màu, bố cục thoáng và rất khoẻ.
Tác phẩm " Tiếng đàn bầu " (Sỹ Tốt) và một hình ảnh cũng rất gần gũi, họ là lực
lượng nòng cốt, chính trong cuộc đấu tranh này đó là hình ảnh người nông dân, họ vào
tranh cũng thật xôn xao.
Trong số họ, có những người không trực tiếp tham gia chiến đấu trên trận tuyến mà họ
chiến đấu ngay tại quê (hậu phương) sản xuất lương thực phục vụ tuyền tuyến như tác
phẩm " Con nghé " (Nguyễn Tự Nghiêm), " Tổ đội công miền núi " (Huỳnh Tích
Chù), " Con nghé của thực " (Tô Ngọc Vân), " Về nông thôn sản xuất " (Ngô Minh
Cầu), " Một buổi cày " (Lưu Công Nhân) Bên cạnh nền nông nghiệp xã hội mới còn
gắn dần với công nghiệp và hình ảnh người công nhân cũng chiếm chỗ trong tranh
một cách đĩnh đạc như các tác phẩm: " Mỏ đèo nai " (Nguyễn Tiến Chung), Một loạt
tranh (Nguyễn Đỗ Cung) như: Công nhân cơ khí, học hỏi lẫn nhau, tam ca, mời chị
em ra họp để thi thợ giỏi đã nêu bật những gương sáng lao động, gian khổ nhưng chủ
động, chững chạc. Tác phẩm " Công nhân cơ khí " diễn tả giờ làm việc trong nhà máy
chỉ với ngòi bút và tầm quan sát tinh tế của mình, hoạ sỹ Nguyễn Đỗ Cung đã cho
người xem một không khí làm việc hăng say, khoẻ khoắn, rắn chắc của những người
công nhân này. Họ hầu như quên hết mệt nhọc chỉ dồn sức vào lúa và rồi tạo ra những
Gia Định tập trung đào tạo theo trường quy, hăng hái hoạt động văn hoá nghệ thuật,
một nhóm văn nghệ sỹ ra đời với những màu sắc chính trị khác nhau, trong đó tiêu
biểu có nhóm sáng tạo gồm: hoạ sỹ Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng chủ trương
phá bỏ những kinh nghiệm trường quy cũ cố gắng tiếp cận với nghệ thuật phương
Tây, đề cao các chủ quan của người sáng tác, không cần biết đến tính dân tộc, vồ vập
màu sắc, và chất liệu để phô diễn hình thể hơn là đi tìm hình tượng của tác phẩm: chú
trọng triển lãm cá nhân.
Từ năm 1960 với sự can thiệp sâu hơn của Mỹ, một lối sống thực dụng lan tràn, nghệ
thuật như trò chơi xã hội thương mại, các hoạ sỹ không chú trọng vẽ, thích vẽ sao thì
vẽ. Cho đến giữa thập nguyên 60 nền nghệ thuật đã có phần ổn định, tỉnh nghộ hơn,
thúc đẩy một ý thức tìm về nguồn. 1966 các hoạ sỹ trẻ có năng lực thành lập " Hội hoạ
sỹ trẻ Việt Nam " đã khơi dậy ý thức trách nhiệm của người làm nghệ thuật. Một số ít
phóng khoáng thực tại bằng cách lánh vào những cơn mơ với những tâm trạng day
dứt: Nguyễn Trung, Nguyễn Phước, Đinh Cường Trong sự ngột ngạt ấy cũng có một
số hoạ sỹ tiến bộ tích cực, có trách nhiệm hơn phản ánh nghệ thuật với một tình cảm
của riêng mình: nếu " Nguyễn Trung mới miêu tả những gương mặt đau thương của
những người mẹ, người vợ để tố cáo chiến tranh thì Văn Đen đã dùng bút pháp tả thực
vẽ cảnh khốn khổ của những người lầm than để tố cáo xã hội phồn hoa bề ngoài ".
Huỳnh Bá Thành đã có tranh vạch mặt kẻ thù trên báo chí chính họ đã làm cho chính
quyền Sài Gòn phải run sợ và đã khủng bố điên cuồng cả bằng toà án và nhà tù. Tuy
nhiên phong trào mỹ thuật vẫn đi lên, chính điều này đã thúc đẩy động lực cho những
hoạ sỹ tiến bộ với sự giác ngộ cao đã đứng hẳn về phía cách mạng. lên chiến khu vừa
cầm bút sáng tác, vừa cầm súng chiến đấu như anh Cổ Tấn Long Châu, Nguyễn Văn
Kinh, Trọng Phương và cũng theo tiếng gọi cách mạng không ít những hoạ sỹ dám
quên mình, không sợ nguy hiểm cho tính mạng đã hăng hái vào những nơi ác liệt nhất
để ghi nhanh những cảnh hiếm thấy trong lịch sử, để kịp thời động viên khích lệ ý chí,
lòng quyết tâm cao để dành thắng lợi, ghi lại những giây phút huy hoàng, căng thẳng
Đáng tiếc thay đã có 50 hoạ sỹ đã hy sinh trong khi đang sáng tác trên trận địa những
tác phảm được các hoạ sỹ ghi lại sau này đã trở thành những tư liệu rất quý giá để vừa
động viên quân dân ta, bên cạnh vạch trần rõ bộ mặt độc ác của bọn cướp nước. Mặc
ra đời đó là nền mỹ thuật Việt Nam sau ngày thống nhất đất nước.
Từ năm 1975 đã hội tụ thành một dòng chảy lớn mà thành tựu đã được ghi nhận bằng
vô số những cuộc triển lãm lớn của cá nhân, của nhóm, và nhất là triển lãm mỹ thuật
toàn quốc mở đều đặn năm năm một lần, điều này chứng tỏ rằng khuynh hướng con
đường phát triển của nền mỹ thuật Việt Nam khi đất nước thống nhất đã được quan
tâm hơn, chú trọng hơn rất nhiều, mở ra một hướng đi lên mạnh mẽ của nền mỹ thuật.
Đến đây mỹ thuật đã có dấu hiệu của sự chuyển mình từ một nền mỹ thuật gắn bó với
chiến tranh đang bước sang phản ánh cuộc sống hoà bình xây dựng xã hội chủ nghĩa
như tác phẩm: " Phố cổ " (Bùi Xuân Phái) đây là tác phẩm được vẽ bằng sơn dầu, diễn
tả một góc nhỏ phố cổ của Hà Nội, là đề tài luôn được Bùi Xuân Phái say mê khám
phá, sáng tác. Những cảnh phố vắng với những đường nét xô lệch, mái tường rêu
phong, những đầu hồi và mái ngói đen sạm màu thời gian luôn xuất hiện trong tranh
của ông.
Tranh của hoạ sỹ gợi cho mỗi người đi xa luôn khát khao, cảm nhận được nỗi thiếu
vắng Hà Nội một cách sâu sắc. Đằng sau những hình ảnh ngõ Phất Lộc, cây đa cổ thụ
ở ngõ Gạch hay ngõ Hàng Mắm người xem tìm thấy vẻ đẹp của thủ đô Hà Nội qua
những thăng trầm của lịch sử. Vì thế, người yêu nghệ thuật đã đặt tên gọi cho những
tác phẩm về phố cổ Hà Nội của ông là " Phố phái ". Ngoài Bùi Xuân Phái còn rất
nhiều hoạ sỹ khác nữa, với các tác phẩm mang nội dung cuộc sống hàng ngày bình
dị: Điện về bản (Hà Cắm), Bộ đội về bản Mèo (Trần Lưu Hậu), Ngày vui có
Bác (Xuman)
Sau 5 năm đất nước bước vào kỷ nguyên mới, triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1980
thực sự là một cuộc hội tụ lớn của nghệ thuật tạo hình cả nước, là một bước tiến nhảy
vọt, bộc lộ tiềm năng sáng tác mới hứa hẹn bước phát triển mạnh mẽ trong những năm
tới - nhất là về mặt ngôn ngữ nghệ thuật. Tiêu biểu một số tác phẩm như: Tượng Bác
Hồ bên suối Lênin (Diệp Minh Châu), Mẹ chiến sỹ (Hoàng Trầm), Đảo tiền tiêu (Tạ
Quang Bạo)
Ngày nay vẫn không ít nhiều tác giả vẫn đang rất say sưa với đề tài cách mạng, tình
cảm, tình quân dân, tuy cuộc kháng chiến đã qua những ký ức trong một số người hoạ
sỹ lão thành vẫn còn như ngày nào. Họ một phần phục hồi lại ảnh cũ, một phần họ vẽ
hài hoà, mạnh mẽ nhưng không cứng nhắc, là một bức hoạ đẹp, cân đối. Thể hiện thật
tinh tế, giản dị nhưng rất nghệ thuật
Giờ đây các hoạ sỹ đều xâm nhập, sâu sát với xã hội, làng xóm để lấy tình cảm hứng
sáng tác tranh, có những tác phẩm rất mộc mạc chân quê như tác phẩm: Vợ chồng
người hàng nước cũng với bố cục gồm hai người, xung quanh họ là những đồ dùng
thô sơ, giản dị, cốc nước, ấm không khí thật ấm cúng khối mảng rõ ràng, được sáng
tác 1996
Tác phẩm " Ngày mùa ở Đông Anh Hà Nội " là tác phẩm ca ngợi về nông nghiệp, chất
liệu bằng màu dầu, tác giả dựng lên một bố cục hài hoà cân đối, những đống rơm cao
ngất, một người phụ nữ đang làm việc một con trâu và một người con trai đang gánh
cũng chỉ hai người nhưng nhìn vào có cái gì đó rất đậm không khí miền quê: yên tĩnh,
thanh bình đây cũng là một đề tài được rất nhiều hoạ sỹ thành thị ưa thích, họ đã có
những chuyến đi xâm nhập ở nông thôn hàng tháng có khi cả đời để tìm động lực sáng
tác. Ngoài ra còn có tác phẩm bằng lụa của Ngô Minh Cầu cũng đề tài những con
người nơi thôn quê cùng con trâu.
Nhìn chung các hoạ sỹ thời nay đã tìm cho mình một con đường riêng, thể hiện với
một thái độ tình cảm trong toàn tác phẩm, chính vì vậy mỗi tác phẩm ra đời là một
niềm vui lớn với họ, họ coi tác phẩm như "đ ứa con " của họ, họ nâng niu trân trọng.
Bước sang thập kỷ 90, công cuộc đổi mới đã có kết quả rõ rệt, đất nước khởi sắc hẳn
lên, mỹ thuật cũng đạt được những thành tựu rự rỡ. Các ngành đều có hoạt động sôi
nổi nền hội hoạ có những ưu thế thuận lợi về cách hoạt động và thu hút được nhiều
hướng đi vào đời sống: tượng đài, đài tưởng niệm ở các trung tâm của các thành phố
lớn, xuất hiện nhiều công trình kiến trúc có quy mô lớn bằng chất liệu vững, nhiều
cuộc triễn lãm đã cùng diễn ra trong một lúc, triển lãm hội hoạ ngày nay đã trở thành
sinh hoạt cập nhật của xã hội, hàng loạt các phòng tranh cứ mọc lên khắp nơi, nhưng
tất cả không phải đều là tác phẩm kiệt tác, có thể có nhiều tác phẩm không mang một
nội dung cụ thể nào, cứ lan man một phần cũng do cơ chế thị trường chạy theo lợi
nhuận đồng tiền, họ đã đánh mất đi vẻ đẹp của " mỹ thụât ". Nhưng nhìn chung số
văn hoá thế giới mà hoàn thiện mình và toả sáng.
Sống giữa môi trường nhiệt đới, thiên nhiên hào phóng ban phát ân huệ vừa nghiệt
ngã, thử thách, dân tộc ta đã hợp sức lại để tạo thế ứng xử linh hoạt: lợi dụng, cải tạo
và đấu tranh nhằm khai thác và chế ngự hiệu quả nhất.
Ngoài ra nạn ngoại xâm luôn thường trực, dân tộc ta giữa những thời gian dựng nước
ngắn ngủi, luôn phải tiến hành chiến tranh giải phóng và kháng chiến trường kỳ, vinh
quang nhiều nhưng phải hy sinh lớn về cả xương máu và của cải. Trong tình hình ấy,
dân tộc ta phải bám lấy thực tại và vượt lên để rồi biểu hiện lại cuộc sống của mình
bằng nghệ thuật mà rõ nhất là ở mỹ thuật với sự cao đẹp của tâm hồn hướng thiện.
Trong mỗi giai đoạn, bên cái chung còn có nhiều cái riêng do điều kiện cụ thể của xã
hội quy định: các nhà nước quân chủ tự chủ, nhưng mỗi vương triều có một cách quản
lý đất nước khác. Do đó cũng tạo nên diện mạo mỹ thuật khác ở từng thời kỳ.
Chẳng hạn " Mỹ thuật thời Pháp thuộc (1885 - 1945 )" sau khi nhà Nguyễn được
thành lập thì đúng lúc ấy Chủ nghĩa tư bản phương Tây đang tích cực tìm kiếm thị
trường sang phương Đông. Vừa lúc bôn ba địch khôi phục nghiệp chúa thì đã bị khởi
nghĩa nông dân Tây Sơn quật đổ, Bá Đa Lộc làm đại diện đã ký với Pháp bản điều
ước. Do Pháp đang gặp nhiều khó khăn nên điều ước không được thi hành. Sau khi
thắng Tây Sơn, Gia Long đã có những ưu đãi nhất định với người Pháp và các giáo sỹ.
Năm 1817 Pháp đòi thi hành điều ước Bá Đa Lộc ký năm 1787 nhượng Đà Nẵng và
Côn đảo cho chúng. Sau khi Minh mạng lên ngôi bèn cấm đoạt Thiên chúa và từ chối
buôn bán với Pháp tạo ngăn cách với phương Tây. Do những biến động ở Trung Quốc
MInh mạng đã cử tàu đi Pháp và Anh để giao dịch buôn bán và tìm hiểu nhưng đã bị
Anh và Pháp từ chối. Vả lại xã hội Việt Nam chưa có đủ nhân tố bên trong để đón
nhận tiến bộ kỹ thuật và văn minh của phương Tây để cải cách đất nước. Ngay cả khi
có những điều trần của một số người Việt cấp tiến, dù tự Đức có để mắt tới vẫn bị
triều đình bác bỏ.
Năm 1858 chúng chính thức mở màn tấn công Đà Nẵng.
Năm 1859 tiếp tục chuyển vào chiếm Gia Địh.
Năm 1862 triều đình phải ký nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp.
Năm 1867 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ mất nốt vào tay giặc.
Còn những trường mỹ nghệ tuy chỉ ở trình độ sơ cấp nhưng những thợ giỏi Việt Nam
đã phát huy được kinh nghiệm truyền thống cha ông và tiép thu được phương pháp
khoa học mới, đã đưa nghệ thuật của mình phát triển lên tầng cao mới. Từ những
trường như mỹ thuật Thủ Dầu Một, mỹ thuật Biên Hoà…, nhiều mặt hàng mộc, sơn
mài in đá, gỗ, chạm đồng, sơn dầu, tranh lụa… lên đến trình độ tinh xảo của nghệ
thuật.
Về những mở đầu cho mỹ thuật mới:
Mỹ thuật dần đã hoà nhập với thế giới đương đại để trở thành hiện đại theo khoa học
mới. Do sự ham thích của vài cá nhân, sau trở thành tổ chức của chính quyền thực dân
Pháp.
Người đi đầu của nền hội hoạ Việt Nam là Lê Văn Miếu (1873 - 1943) ông sinh ra ở
Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Năm 1888 được Vua Đồng Khánh cử
sang Pháp học, ông rất ghét quan trường nên học xong lại sang học trường mỹ thuật
Paris từ 1891 - 1895. Ông đã xuất sắc cả hai trường nhưng 1895 về nước không có đất
dụng võ nên ông đã tham gia nhiều phong trào cách mạng. ở Pháp ông tiếp thu được
những kiến thức hội hoạ hiện đại. Về nước trong sáng tạo đã kết hợp với lối vẽ dân tộc
và đã trở thành cầu nối nghệ thuật truyền thống với nghệ thuật hiện đại.
Lên Văn Miếu sáng tác không nhiều song tác phẩm lại bị thất lạc gần hết. ở Bảo tàng
mỹ thuật Hà Nội còn sưu tầm được hai bức " Chân dung cụ Tú mền ", " Bình văn ", ở
Huế cũng giữ được hai bức " Chân dung cụ ông và cụ bà Nguyễn Khoa Luận " và một
số Bảo tàng của các tỉnh cũng giữ được một vài tác phẩm. Sáu bức không nhiều ngoài
những tranh chân dung, chỉ một bức " Bình văn " đã phản ánh sinh hoạt học đường
đầu thế kỷ XX nhằm giác ngộ tinh thần yêu nước cho học sinh. Do đó ông với bức
bình văn là một cái mốc và đẹp đẽ.
Sau Lê Văn Miếu là ông Huỳnh Tựu có lẽ là người thứ hai được học ở Pháp. Lúc ông
ở Phi Châu về có vẽ một số chân dung bản thân và phong cảnh nhưng đều thất lạc cả.
ở trường nghệ thuật trang trí và đồ hoạ Gia Định ông dạy vẽ sơn dầu và làm phụ tá
cho Giám đốc ăngđrêgiơ nhiều năm, đến năm 1926 được cử làm Giám hiệu, ông chỉ
giữ được chức trong vòng một năm.
Hoạ sỹ Nam Sơn tên thật Nguyện Vạn Thọ (1890 - 1973) chủ yếu đi lên bằng tự học
đẳng mỹ thuật Đông Dương. Tháng 10 năm 1925 khai giảng và chính thức đi vào hoạt
động đào tạo khoá I (1925 - 1930).
Năm 1945 mở được 18 khoá với 149 sinh viên.
Trong 20 năm hoạt động (1925 - 1945) đội ngũ giáo viên, giáo sư có tất cả là 31 người
Việt Nam có 6 người, mà từ khoá V mới có hoạ sỹ Nam Sơn dạy vẽ trang trí, các khoá
VI, VII, X, XIII và XIV mới lần lượt thêm các giáo viên là nhà điêu khắc Gioócgiơ,
hoạ sỹ Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân…
Các hoạ sỹ và nhà điêu khắc Việt Nam được đào tạo theo phương pháp khoa học
phương Tây. Đào tạo cơ bản gồm những môn học cơ sở (giải phẫu người, định luật xa
gần, lịch sử mỹ thuật Việt Nam và Thế giới, đọc biểu kiến trúc cổ) và môn học cơ bản
như: hình hoạ nghiên cứu, bài tập điêu khắc, bài tập trang trí.
Đào tạo chuyên khoa làm các bài tập theo thể loại và chất liệu khác nhau. Đào tạo
được xác định song do điều hành của những Giám đốc khác nhau nên từng thời cũng
có xu hướng khác nhau.
Năm 1925 - 1937 trường do hoạ sỹ Vichtotacđiơ làm Giám đốc. Ông là hoạ sỹ có tài,
ông đã phát hiện ra cái đẹp độc đáo của nghệ thuật truyền thống Việt Nam, và óc sáng
tạo, bàn tay khéo léo của nghệ nhân Việt Nam.
Dưới sự điều hành của Vichtotacđiơ, sinh viên được đào tạo thành nghệ sỹ với những
sáng tạo vừa theo quy phạm hàn lâm, biết vượt qua những ràng buôvj máy móc có
tính công thức. Năm 1930 - 1938 trường mở các lớp dự bị để đào tạo nguồn.
Năm 1937 - 1943 sau khi Vichtotacđiơ mất, nhà điêu khắc Giôngse thay chức Giám
đốc nhưng lại chỉ muốn "Đ ào tạo những người thợ mỹ nghệ ". Năm 1943 Mỹ ném
bom ở Hà Nội, trường chia làm 3 bộ phận sơ tán. Khoa hội hoạ và một số bộ phận nhỏ
khoa điêu khắc lên Sơn Tây do hoạ sỹ Nam Sơn, Tô Ngọc Vân phụ trách. Khoa kiến
trúc và một phần lớn khoa điêu khắc vào Đà Lạt do Giôngse phụ trách. Các lớp mỹ
nghệ về phụ lý do Gioocgiơ phụ trách. Năm 1945 Nhật đảo chính Pháp nên trường
cũng đóng cửa.
Với sự ra đời và hoạt động của trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, Việt Nam đã
có một trung tâm đào tạo các nghệ sỹ tạo hình chính quy ở cấp cao. Bên cạnh chương
trình và phương thức học mang tính hàn lâm của phương tây, còn tìm hiểu truyền
nghiên cứu để hoàn chỉnh một chất liệu hội hoạ thì ngay giai đoạn thể nghiệm ban đầu
này, hoạ sỹ Nguyễn Gia Trí đã khám phá ra những sắc màu mung lung đến huyền
diệu, vượt ra khỏi chất liệu khác để đưa lên tranh tạo nên tác phẩm độc đáo. Khi
trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương đóng cửa, đội ngũ hoạ sỹ và nhà điêu khắc
Việt Nam đã trở nên đông đảo, nội dung ngày càng gắn với nhân sinh xã hội, một số
người đã sớm giác ngộ trở thành những chiến sỹ văn hoá đóng góp tích cực cho thắng
lợi của cách mạng tháng tám năm 1945.
Mỹ thuật Việt Nam trong thời quân chủ, chủ yếu thể hiện ở tượng Chùa và trang trí
đình làng, có một số tranh lụa và đồ hoạ, còn đội ngũ nghệ sỹ gần như vô danh không
để lại được mấy tên tuổi, thì giờ đây vào thời cận đại, mỹ thuật Việt Nam có sự đổi
mới về chất, khởi sắc hẳn lên. Bên cạnh những thành tựu về mỹ nghệ vẫn phát triẻn
theo hướng truyền thống, việc trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương được thành
lập, về khách quan đã đào tạo được đội ngũ hoạ sỹ tạo hình có nghề, nắm vững
phương pháp nghệ thuật khoa học phương Tây, song từ dòng máu dân tộc và sự đam
mê sáng tạo, đã kết hợp nhuần nhuyễn hai dòng nghệ thuật Đông - Tây, đẩy mỹ thuật
Việt Nam sang trang mới hoà nhập với thế giới trong đó có những kiện tướng trên
từng chất liệu.
****
Trong kho tàng mĩ thuật Việt Nam rất đa dạng và phong phú về các thể loại tranh,
mĩ nghệ, điêu khắc.
Mĩ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 nằm trong một quá trình chuyển
biến và phân hoá quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Thế kỷ XIX với nhà
Nguyễn một triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã đặt đất nước ta vào hoàn
cảnh mới, sự giao tiếp với phương Tây và ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa đã tạo lập
một nền nghệ thuật đa dạng mang nhiều yếu tố phức tạp bên ngoài. Tuy vậy, nét nghệ
thuật cổ truyền vẫn được bảo lưu qua các công trình kiến trúc, điêu khắc, mĩ thuật dân
gian.
Mĩ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến 1945 là nền mĩ thuật bản lề của hai thế kỷ,
nó đã chứng minh phần nào sự phân hoá nghệ thuật hiện đại thế giới.
Giai đoạn này kế tiếp những thành tựu nghệ thuật ở giai đoạn trước nó và hình
ông thơ mộng nhẹ nhàng, êm ái với màu sắc ngon ành rung cảm. Bức tranh " Thuyền
trên sông Hương" là một trong những tranh phong cảnh của ông sáng tác năm 1935 đã
chứng minh điều đó, hiện có mặt ở phòng mĩ ảnh Tô Ngọc Vân
thuật cận đại của bảo tàng. Tác phẩm " Hai thiếu nữ và em bé" ( Sơn dầu 1944 ). "
Thiếu nữ bên hoa huệ" ( Sơn dầu 1943 ), " Thiếu nữ bên hoa sen" ( Sơn dầu 1944 )
được coi là những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn cuối chót của sự nghiệp sáng tác
của ông theo xu hướng lãng mạn.
Bức tranh " Thuyền trên sông Hương" ( 1935 ) – thời mà Tô Ngọc Vân cùng một số
người đang đi sâu vào nghiên cứu chất liệu sơn dầu du nhập từ Âu Châu sang nước ta.
Tô Ngọc Vân với tư chất độc đáo của mình đã tách ra khỏi ảnh hưởng của lối vẽ sơn
dầu Âu Châu và tạo cho mình một phong cách vẽ sơn dầu có nhiều tìm tòi bắt nguồn
từ nghệ thuật truyền thống của Việt Nam Tranh " Thuyền trên sông Hương"
Cách diễn đạt nhiều chi tiết với khối nối và sáng tối đầy đủ nhằm biểu hiện mức độ
cao về thực tế cuả Âu Châu không phù hợp với cảm xúc, nhân quan của người nghệ sỹ
Việt Nam. Nên tuy học phương pháp của Âu Châu mà các nghệ sỹ của ta đã chuyển
được thành lối diễn đạt riêng của mình. Trường hợp của Nguyễn Phan Chánh về lụa
cũng như trường hợp của Tô Ngọc Vân về sơn dầu là những chứng minh cụ thể. Bằng
chất liệu sơn dầu ông đã chứng minh cụ thể giữa khối nối và nhiều chi tiết, giữa sáng
tối chi li, từng độ đậm nhạt, đến khái quát cuả mảng hình và màu sắc. Tìm cái chủ yếu
và cất nhịp với chất liệu khó tính của thế giới.
Trong tranh màu sắc êm, trầm không chối mắt, màu sắc, ở một nơi mà màn sương
ẩm phủ mờ, khắc hẳn với màu sắc ở một nước Châu Âu có khí hậu khô hanh. Các sắc
không đến độ cao của nó vì ánh sáng cũng không toả hết năng lượng của mặt trời vì
còn có màn hạt ẩm dày đặc trong khí quyển, có nhiều người cứ cho là họa sĩ của ta vẽ
Bức tranh " Em Thuý" ra đời 1943 cùng thời với bức tranh " Thiếu nữ bên hoa huệ"
của Tô Ngọc Vân. Trước cách mạng, đối với Trần Văn Cẩn, đề tài chủ yếu của ông là
thiếu nữ, phụ nữ. Ông tìm vẻ đẹp nội tâm trong con người họ, tác phẩm " Em Thuý"
đã đạt đến mức điêu luyện của sơn dầu, phát huy quy chế mạnh của sơn dầu và đạt
hiệu quả cao trong việc diễn tả tinh tế ngoại hình và chiều sâu tâm lý của nhân vật.
" Em Thuý" được thể hiện trên khuôn khổ 60 x 45 cm. Trong tranh hoạ sĩ sử dụng
lối vẽ sơn dầu mỏng và mềm mại. Đó là phảng phất một chút kỹ thuật và phong cách
vẽ tranh lụa. Với lối diễn tả ấy, ông đã thể hiện thành công vẻ đẹp trong sáng, thơ
ngây của một em bé gái. Nhìn tổng thể bức tranh, tác giả đã diễn tả với gam màu ấm
nóng, pha chút lạnh nhẹ tạo cảm giác thật tự nhiên, thoải mái. Khuôn mặt hình trái
xoan, xinh xắn, cặp mắt to đen lánh, tạo nên một vẻ đẹp thông minh, phúc hậu. Nổi
bật lên trong sự phối hợp không gian nhiều mảng màu là bộ váy trắng mỏng, nhẹ, tao
nhã của " em Thuý". Cách bố trí mảng màu của
hoạ sĩ thật ấn tượng, từ chiếc vòng tay, mái tóc, chiếc ghế với mảng đậm đến khuôn
mặt trắng hồng, và cả không gian tạo nên một nhịp điệu hài hoà, cân đối.
Đôi mắt " em Thuý" mở to, đen, tròn long lanh đến ngây thơ, hồn nhiên. Đôi mắt ấy
chứa đựng bao nhiêu điều, cả cuộc đời trong sáng của em, một cái nhìn đăm chiêu sâu
lắng. Có thể rằng, điểm nhìn của em không là vật gì cả mà là không gian vô định.
Người ta thường nói: "Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn". Đúng vậy, với " Em Thuý", Trần
Văn Cẩn đã nói lên điều đó. Một trong những thành công của tác phẩm là đôi mắt của
em, là con đường dẫn đến tâm hồn, tình cảm. Hiện trên khuôn mặt ngây thơ ấy là một
vẻ đẹp tuyệt đối đến ngỡ ngàng đối với người xem, chiếc ghế nâu đỏ làm nền cho
mảng trắng của chiếc váy cô bé nổi bật. Mặc dù nó không làm tương phản đến khó
chịu cho bức tranh mà tạo nên sự hài hoà sắc độ, mềm mại của chất liệu, thuần tuý của
vẻ đẹp tâm hồn.
Sự thành công tuyệt đối trong bức tranh là sự cảm nhận và cách thể hiện những tình
cảm đó của tác giả qua nhân vật của mình. Đến với " Em Thuý" đồng thời ông cũng
bộc lộ đựơc tâm hồn cảm xúc của mình.
Bức tranh " Em Thuý" hiện đang được trưng bày ở Viện bảo tàng Mĩ thuật Việt
Nam. Bức tranh đã để lại cho kho tàng Mĩ thuật Việt Nam nói chung và lĩnh vực sơn
Song song với xu hướng lãng mạn, xu hướng hiện thực trong hội hoạ và điêu khắc
cũng phát triển khá mạnh và hầu như đối lập với xu hướng lãng mạn. Đề tài chủ yếu
của xu hướng này là sinh hoạt nông thôn với cảnh lao động lam lũ cực nhọc. Tuy
tiếng nói tố cáo xã hội chưa mạnh mẽ nhưng phong cách cuả các tác giả hiện thực đã
phần nào nói lên tâm trạng phản kháng một xã hội bất công. Hoạ sĩ tiêu biểu cho xu
hướng này là Nguyễn Phan Chánh.
Hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh Các tác phẩm về lụa của ông như: " Chơi ô ăn quan", " Rửa rau cầu ao" (1931), "Ra
đồng", " Đi chợ về" ( 1937" đã chứng minh điều đó. Đặc điểm tranh lụa của ông là
những gam màu nâu ấm, trắng phớt, các độ đậm nhạt điểm tô cho nhau trên một gam
màu chủ đạo là nâu, đỏ nâu, tạo nên một không khí dịu dàng cổ kính. Cách tạo hình
của ông là diễn tả theo mặt phẳng, lối diễn tả này tiếp thu nhiều ở tranh cổ Việt Nam
mà ông đã làm quen từ trước.
Với bức " Chơi ô ăn quan", Nguyễn Văn Chánh vẽ theo phương pháp hiện đại và đã
được trưng bày ở triển lãm đấu xảo quốc tế thuộc địa tại Pari 1934, cũng là tác phẩm
đầu tay của hoạ sĩ, một trong những nhà mĩ thuật lớp đầu của nước ta, tiếp thu kỹ
thuật diễn tả phương Tây nhưng lại mang nhiều tính dân tộc rất độc đáo.
Tranh vẽ trên lụa, diễn tả bốn thiếu nữ đang chơi ô ăn quan – một trò chơi phổ biến
của dân gian từ miền Trung trở ra Bắc. Khi trưng bày ở nước ngoài, người ta chú thích
là trò chơi của trẻ em. Hai em là vai chính được diễn tả toàn diện còn hai em phụ thì
ghép với em chính bên phải thành một mảng nhỏ bên trái và một mảng lớn bên phải.
Người ta không cảm thấy lệch mà lại thấy cân đối bởi những mảng đen trắng và sáng
tối phân bố một cách tài tình. Màu chính là màu nâu và đen với nhiều sắc nhi và cung
bậc nên không tạo ra sự nặng nề, trái lại bằng cách cấu tạo hình và mảng đẹp nên càng
làm cho mảng thêm chiểu sâu và có âm thanh.
Người viết bài có ý tiếc là mảng thơ này làm cho bố cục mất thanh thoát. Nếu không
có thì hay hơn. Bức tranh diễn đạt các em gái chơi một trò chơi mà bài thơ không nói
gì đến điều ấy.
"Đương ngây thơ chưa quen gì màu son phấn
Chỉ biết đua nhau đuổi bướm tranh hoa
Nhưng lại đón được màu xuân hơn nơi lầu son gác tía
Mà không học thói làm mây làm mưa trên núi Đương Đài"
Cái ý ấy không nói gì đến trò chơi lại nói về cái ẩn ngầm sau nội dung kia là vẻ đẹp
của tuổi thơ. Đúng là các em trên tranh tuổi từ mười đến mười bốn, mười lăm. Đang
ngây thơ chưa biết gì đến những công việc của người phụ nữ trong xã hội, cần có
những nhu cầu khác nhiều hơn.
Tranh lụa " Chơi ô ăn quan" của hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh đến nay vẫn mang một
giá trị không thể phủ nhận được.
Với lối thể hiện trên tranh khắc gỗ, những nét khắc vững vàng, tỉ mỉ, nhịp điệu,
màu sắc vừa đơn giản vừa quý, hoạ sĩ Đức Thuận để lại cho chúng ta hai tác phẩm có
giá trị về nền hiện thực " Bến thuyền sông Hồng", " Đánh cá" ( 1931 ). Đánh dấu mốc
lịch sử, tiêu biểu cho ngành Mĩ thuật Việt Nam có các hoạ sĩ trên. Nhìn lại lịch sử mĩ
thuật Việt Nam nói chung, nghệ thuật tạo hình thời cận đại nói riêng ở giai đoạn1930
– 1945 là một thời kỳ có nhiều biến động và phân hoá sâu sắc. Đó là một bước phát
tiển nhanh chóng của hội hoạ Việt Nam. Nó phản ánh thực trạng xã hội trước một
bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng tháng Tám 1945 và nối tiếp là thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp hình thành.