NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh là một nhu cầu cấp thiết mà chủ
trương đường lối của Đảng và Nhà nước đã xác định và chỉ rõ. Giáo dục
thẩm mỹ là giáo dục cái đẹp và hướng học sinh vươn tới cái "chân - thiện
- mỹ" nghĩa là vươn lên để sáng tạo bằng khát khao nghệ thuật nhằmo hái
lấy những cái đẹp trong kho tàng nghệ thuật vô cùng rộng lớn.
"Cái đẹp" trong nghệ thuận của mỗi dân tộc xét cho cùng thì nó đều
có nguồn gốc căn nguyên từ nghệ thuật của dân tộc đó. Dân tộc Việt Nam
ta là một dân tộc có hơn bốn nghìn năm văn hiến, một dân tộc không chỉ
kiên cường anh dũng trong chống giặc ngoại xâm mà còn rất giàu trong
sáng tạo nghệ thuật để lại cho hậu thế một kho tàng vốn cổ đồ sồ, thất
đáng khâm phục. Vốn cổ dânt ộc đó thật phong phú và đa dạng, nó ẩn
chứa trong mình những nét độc đáo thật bất ngờ !
Trong nền nghệ thuật cổ Việt Nam, tranh dân gian là một giá trị
được nói đến khá nhiều bởi tự thân những bức tranh dân gian mang trên
mình những nét độc đáo, đặc sắc. Từ góc độ tìm tòi, trau dồi chuyên môn,
bằng hiểu biết riêng của mình tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu về "nét độc
đáo trong tranh dân gian Việt Nam" lấy đó làm cơ sở cho bài giảng về
tranh dân gian Việt Nam trong chương trình mỹ thuật lớp 6 THCS. Ngoài
ra bài viết này còn cung cấp cho học sinh những điều ma các em chưa
được đọc trong SGK, những điều các em còn mơ hồ. Mặt khác lầy đó làm
phong phú thêm cho hiểu biết về Mỹ thuật dân tộc trong mỗi học sinh
bằng những giờ ngoại khoá - nói chuyện Mỹ thuật.
Là một giáo viên đang giảng dạy Mỹ thuật, tôi mong muốn bài viết
sáng kiến kinh nghiệm này sẽ góp thêm một tiếng nói trong công cuộc giữ
gìn, bảo tồn, phát huy "Nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc".
- 1 -
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
Đất nước ta đã trải qua biết bao thăng trầm, biến thiên của lịch sử. Với
ấm cho những tâm hồn luôn hướng thiện. Những màu sắc như nóng dần lên, dấy
lên những nỗi niềm hy vọng cuộc sống. Tờ tranh đã góp phần tạo nên không khí
- 2 -
Tết cổ truyền của dân tộc. Nếu như về vật chất có bánh chưng, bánh dày, thịt
mỡ, dưa hành thì về tinh thần không thể thiếu vắng tờ tranh, câu đối.
Trải qua mấy trăm năm tồn tại và phát triển, đến nay tranh dân gian vẫn
còn mang ý nghĩa thời đại to lớn. Song hiện nay tranh dân gian không còn phát
triển rầm rộ như ngày xưa nữa. Một phần do các nghệ nhân giỏi ít dần đi, một
phần do thị trường tiêu thụ tranh bị thu hẹp, tranh dân gian đang dần bị mai một
do cuộc sống hiện đại.
Trong hoàn cảnh như vậy, việc nghiên cứu nét độc đáo trong tranh dân
gian nhằm góp thêm một tiếng nói trong công cuộc xây dựng ý thức gìn giữ bảo
tồn và phát huy tính sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật của cha ông ta.
Quá trình hình thành và phát triển của những dòng tranh chính ở Việt
Nam: Tranh dân gian đã tồn tại rất lâu trong phạm vi cả nước, song nói đến
tranh dân gian Việt Nam ta nghĩ ngay đến hai dòng tranh chính:
• Tranh Đông Hồ hay tranh Làng Mái (ở Hà Bắc)
• Tranh Hàng Trống (ở Hà Nội).
Đó là hai dòng tranh tiêu biểu của tranh dân gian Việt Nam, ngoài ra ở
Huế có làng tranh Sình cũng được biết đến từ lâu. Song phạm vi của đề tài này
chỉ tìm hiểu những bức tranh quen thuộc của hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng
Trống.
• Tranh Đông Hồ:
Nổi bật tranh tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam với nhiều giá trị dân tộc
xứng đáng là đại biểu của tranh dân gian Việt Nam, tham gia trong kho tàng
tranh dân gian thế giới (các trưng bày ở Pháp, Nga). Một số nhà nghiên cứu
nghệ thuật cho rằng tranh dân gian Việt Nam nói chung và tranh Đông Hồ nói
riêng có thể ra đời từ thời Lý (1010 - 1225) và thời Hồ (1400 - 1470) được duy
trì và phát triển vào thời Hậu Lê (1427 - 1788), song rõ ràng hơn và được nhiều
người khẳng định: Tranh dân gian Việt Nam được phát triển vào thế kỷ XVII và
Do nghệ nhân Hàng Trống chiều theo thị hiếu của thị dân lại có ý bắt
chước tranh dân gian Trung Quốc nên cái chất phác hồn hậu của nghệ thuật dân
gian phần nào không được giữ nguyên, tuy vậy tranh Hàng Trống lại có tinh tế
về cả nét và màu
Trong khuôn khổ tiểu luận này chỉ có ở mức tìm hiểu, phân tích khái quát
một số bức tranh quen thuộc nhằm nêu được nét độc đáo đặc sắc trong tranh dân
gian Việt Nam.
II. NỘI DUNG:
- 4 -
Đánh giá về tranh dân gian có nhiều ý kiến khacsnhau. Để thấy được cái
đẹp, cái độc đáo hiện hữu trong tranh dân gian chúng ta cần giải quyết các quan
hệ đã được đặt ra.
• Độc đáo ở chỗ nào ?
• Phải chăng tranh dân gian là một phần bản sắc văn hoá của dân
tộc ?
Tranh dân gian Việt Nam từ trong nhân dân lao động mà ra, nó phục vụ
đắc lực, kịp thời đúng lúc nên được ưa thích trở thành món ăn tinh thần không
thể thiếu. Hình ảnh những bức tranh dân gian đã in sâu vào tâm hồn người dân
Việt Nam và lưu truyền qua biết bao thế hệ ắt hẳn phải thật là độc đáo đáng để
gìn giữ. Cái đẹp thanh cao trong truyền thống dân tộc sẽ tồn tại vĩnh hằng với
thời gian.
1, Tính độc đáo trong nội dung thẩm mỹ - tư tưởng giáo dục sâu sắc:
Qua nghiên cứu, tìm hiểu chúng ta thấy rõ tranh dân gian Việt Nam rất
đẹp -độc đáo và có sức hấp dẫn mạnh mẽ. Bởi đã phản ánh những tâm tư
nguyện vọng, hoài bão chính đáng mà bao đời họ hằng mong ước là có được
cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Nói đến giá trị nội dung của bức tranh khắc gồ dân gian Việt Nam trong
bản báo cáo "Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam", đồng chí Trường
Chinh đã nói: " bên cạnh văn hoá chính thống của các thời đại, có cả một nền
văn hoá nhân dân còn lưu lại trong phương ngôn, ngạn ngữ, Cao dao, truyện cổ
đàn", "lợn đàn"…
Hay để chúc tụng một cuộc sống hạnh phúc vợ chồng con cái sum họp
đoàn tụ, ấm no, thuận hoà quấn quýt bên nhau thì có tranh: "Trống - mái và đàn
gà con" hay còn gọi là "Gà thư hùng". Xưa kia mọi người đều có quan niệm
đông con nhiều cháu là có hạnh phúc và họ luoono cầu mong cho con cái luôn
mạnh khoẻ, có tranh "Thất đồng" (tranh Hàng Trống) vẽ những em bé vui chơi
bên gốc cây đào, thật khoẻ mạnh vui tươi. Tất cả biểu hiện sự dồi dào sung túc
có tư thế tự hào, tự lực như muốn giáo dục với thế hệ sau rằng: hạnh phúc và ấm
no do mình tự tạo ra bằng sức lao động của chính mình. Những bức tranh dân
gian mang trên mình nội dung thẩm mỹ hết sức độc đáo, nó được hình thành
nên từ các nghệ nhân vô danh, họ hập thu từ cuộc sống thực tế, nhận thức và
hiểu một cách thấu đáo rồi chuyển thành những nội dung cô đọng nhất, súc tích
nhất mang đến cho người xem những bức tranh vui tươi, hóm hỉnh mà thật sâu
lắng.
Để tỏ lòng biết ơn và ca tụng công đức của người xưa đồng thời để giáo
dục tư tưởng tinh thần yêu nước, đấu tranh dân tộc trong quần chúng nhân dân
các nghệ nhân đã đem lại cho người xem những dấu ấn lịch sử oanh liệt, hiển
hách của dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo,
v.v và mảng tranh theo truyền thuyết thần thoại như: "Phù đồng Thiên Vương
đại phá giặc Âu", "Thạch Sanh" giáo dục cho mọi người biết sống vì chính
- 6 -
nghĩa, lấy điều thiện làm gốc, làm lẽ sống. ấy là tinh thần hiếu nghĩa của dân tộc
Việt Nam ta mấy ngàn năm lịch sử.
Bên cạnh truyền thống lâu đời của dân tộc mà ông cha ta muốn gửi gắm
đến mọi người qua những tờ tranh nhỏ họ còn gửi đến những bức thông điệp về
sự hăng hái, say sưa, nhiệt tình trong lao động sản xuất. Mưu cầu một cuộc sống
đầy đủ về vật chất, thoải mái về tinh thần, sức khoẻ. Những bức tranh tát nước,
cày cấy, chăn nuôi gà lợn, những chú lợn no tròn ủn ỉn bên hông nói lên điều
mong ước những vụ mùa bội thu. Cùng với hoạt động sản xuất thì cũng dành thì
giờ cho những sinh hoạt hội hè một cách vui vẻ, đầm ấm như: "Chợ quê", "ngày
nhẹ nhàng hoà quyện vào nhau tạo nên một bộ mặt hết sức độc đáo cho tranh
dân gian Việt Nam. Cũng như tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống gồm nhiều
loại: tranh sinh hoạt, tranh lịch sử, tranh thờ, tranh cảnh vật và tranh minh họa.
Mỗi loại có hàng trăm bức, mỗi bức có một vẻ đẹp khác nhau về nội dung lẫn
cách diễn đạt. Tất cả tạo thành một nét riêng độc đáo, một thẩm mỹ mang tính
chất đô thị dân tộc.
Ở thành thị vốn là nơi "văn hay, chữ giỏi" các nghệ nhân đã dùng chữ tạo
thành tranh, hay cao hơn có chữ ngay trên từng nét. Nghệ nhân dân gian vẽ
hình, khi thì người hoạt động theo một câu chuyền kể, khi thì vật tượng trưng
như rồng, cá, công, nước, mây, trời ngoài việc dùng chữ Hán, chữ Nôm, nghệ
nhận dân gian Hà Nội còn dùng vật tượng trưng và người để tạo nên những bức
tranh đặc sắc. Chỉ nêu lên đây một số hình ảnh thì chúng ta cũng thấy được
nghệ thuật diễn tả của người xưa phong phú và độc đáo biết chừng nào. xin chú
ý đến "tranh gà" hình dáng con gà trống gáy sáng trông đầy oai vệ, đầu ngẩng
lên, mắt mở to, ức ưỡn ra, đuôi xoè rộng đó là lúc đang chuẩn bị cất tiếng gày
chào buổi bình minh. Xung quanh con gà chỉ có cúc và tảng đá đủ để nói lên
được bối cảnh thiên nhiên. Trong tranh dân gian Việt Nam thiên nhiên dường
như đóng vai trò thiết yếu, dù đôi khji chỉ mang tính trang trí nhưng nó đủ để
giải thích quan niệm thẩm mỹ của dân tộc. Thiên nhiên gắn kết hoạt động sinh
hoạt giữa con người và loài vật làm tôn lên vẻ đẹp nghìn đời: thiếu thiên nhiên
là thiếu cuộc sống !
Một nét đặc đặc sắc nữa của tranh Hàng Trống là loại "tranh thờ" đặc biệt
là loại tranh Hổ: "Hắc Hổ", "Bạch Hổ", "Ngũ Hổ" vì được dùng để thờ nên có
danh từ kèm theo là "Thần Tướng" nếu vứt bỏ phương diện mê tín thì ta thấy ở
những bức tranh ấy là một sức sống mãnh liệt, ấn tượng thân thuộc và gần gũi.
Nhìn chung tranh Hàng Trống chuyên vẽ những đề tài đô thị, nó không
chỉ là những bức tranh chúc tụng đơn thuần mà còn phản ánh sinh hoạt của thị
dân, thể hiện ước mơ quan niệm về cuộc sống, nhận thức về vẻ đẹp cuả cha ông
thủơ trước một cách phóng khoáng, mạnh bạo và mang nét độc đáo riêng. Vài
nét khái quát chừng nào ta thấy được sức sáng tạo hết sức độc đáo về nội dung
về mình đã mô tả rõ chủ đề. Các nhân vật được sắp đặt ở những vị trí xứng đáng
càng tôn thêm vẻ đẹp tinh thần thượng võ và gợi được không khí đua tài trong
ngày hội vật. Cảnh hai đô vật đang ngồi ôm đùi thu trước ngực gợi lên tiết trời
xuân còn se lạnh với ánh mắt, nét mặt chăm chú theo dõi cuộc đua tài. Phía trên
hai xâu tiền thưởng hay tràng pháo treo hai bên như đang treo ở trước sân đình
chỉ bằng vài chi tiết đó đã tạo được không gian và không khí của ngày hội vật
một cách tài tình và độc đáo.
* Tranh đánh ghen:
Mảnh hình và màng trống cân đối nhịp nhàng. Tranh không diễn tả chiều
sâu không gian và thời gian diễn ra sự việc khắc hoạ được thái độ ghen tuông
- 9 -
quyết liệt của người vợ cả, dáng vẻ vênh váo chanh chua của người vợ lẽ được
chồng yêu và chân dung điệu bộ của anh chàng đa thê muốn dàn hoà mâu thuẫn
trong gia đình với triết lý ích kỷ "thôi thôi bớt giận làm lành, chi điều sinh sự
nhục mình, nhục ta". Tranh miêu tả khái quát nhưng lại rất thực, toàn bộ cảnh
kịch chiến được đặt trên nền đỏ tươi của nền tranh làm tăng thêm sức mạnh của
chủ đề, nêu bật tiếng cười thâm thuý, mỉa mai của quần chúng nhân dân với lối
sống đa thê nhiều thiếp.
* Tranh hứng dừa:
Miêu tả bằng khía cạnh trào lộng, vui vẻ và hóm hỉnh. Hình ảnh vững
chãi của cây dừa và nét uyển chuyển của hai nhân vật làm cho khung cảnh thêm
sinh động, hồn nhiên mộc mạc. Với không gian miêu tả ước lệ, ý nhị đã nêu bật
tình cảm sôi nổi, chân thật của tuổi trẻ không muốn bị gò bó trói buộc. Trong
khuôn khổ của xã hội phong kiến.
Khen ai khéo dựng nên dừa.
Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi.
Hình ảnh và lời thơ quyện chặt lấy nhau phản ánh tình cảm lứa đôi trong
sáng, mộc mạc, một lối sống đẹp của thanh niên nam mữ lúc bấy giờ. Một cái
nhìn mới mẻ, độc đáo của các nghệ nhân ta.
Bên cạnh yếu tố thâm thuý giản đơn mà hồn hậu hóm hỉnh các nghệ nhân
Ví dụ: người thiện với gương mặt tròn bầu hiền tư, dáng người khoan thai
nho nhã. Người ác: được miêu tả má bạnh, mày xách mắt trợn, tay đao tay kiến,
chân chữ bát
- Con trai: vai to nở nang, mạnh khoẻ.
- Con gái: yếm thắm, váy dài, vai xuối lẳng.
- Trẻ em: Tóc chỏm đoà, mày lá liễu, trán thông minh, đôi mắt sắc, mồm
mím lại như đang cười mĩm, mặt tròn đầy như trăng rằm đôi vai cong xuôi liền
với hai cánh tay tròn chắc.
Diễn tả vật cũng vật "ước lệ tạo hình dân gian" lâu dần trở thành "phong
cách tạo hình dân gian".
Lấy việc tả "con lợn ăn cây ráy" làm thí dụ: toàn thân con lợn được cách
điệu khá cao về mặt nghệ thuật trông như nửa thực nửa hư. Dáng đứng bình
thản, bốn chân dạng ra, bụng xề xuống, lưng cong, mũi như nhìn từ ở thế đối
mặt, đuôi xoà như chiếc quạt, cái xoáy âm dương nhỏ to trên lưng (theo quan
niệm á Đông xoáy âm dương tượng tưng cho sự sinh tồn).
Lối cách điệu này trông thật táo bạo, nhưng là cái táo bạo có suy nghĩ tìm
tòi, có chủ định nghệ thuật rõ ràng.
Chính những yếu tố mang đậm chất tạo hình như vậy đã lưu lại trong
người xem những ấn tượng sâu sắc và tranh dân gian Việt Nam đã tìm được chỗ
đứng cao trên diễn đàn văn hoá dân gian trong nước và trên thế giới.
- 11 -
3, Tính độc đáo trong "ngôn ngữ tạo hình" (màu sắc - đường nét -
hình mảng) chất liệu và hình thức thể hiện:
* Chất liệu: (giấy in và bảng màu):
Giấy in: Một nét độc đáo nữa trong tranh dân gian Việt Nam và Đông Hồ
nói riêng và loại Giấy Dó, một loại giấy mang tính biểu cảm cao. Đây là loại
giấy có thể tạo ra và giữ được cái tươi mát, sáng sủa mịn màng của hình, nét và
màu sắc. Trước kia những tờ tranh làm bằng giấy dó thường chỉ có 3 nền màu:
vàng - hồng - trắng (điệp). Giấy có nền màu trắng sáng gọi là giấy điệp vì được
phủ lên một lớp hồ điệp trắng óng ánh. Dung dịch pha chế này được khuấy,
nhân tạo nên sự nhất quán giữa nội dung và hình thức diễn tả tình cảm, tính
cách nhân vật như tranh: Đánh vật, hứng dừa, đánh ghen, gà đàn, đám cưới
chuột với những nét khắc viền đậm dứt khoát, khoẻ mà không khô cứng, chức
nhưng mềm mại của tranh Đông Hồ, nét viền thanh mảnh và uyển chuyển nhẹ
nhàng, mượt mà của tranh Hàng Trống như: công chúa, cá chép ngắm trăng,
tam đa, thất đồng và những hình ảnh của xã hội đương thời đã được tái tạo rất
điển hình trong phong cách truyền thống càng tăng thêm vẻ đẹp của tranh.
Hình ảnh cô đọng, đường nét đã được chọn lọc rồi, các nghệ nhân thể
hiện ra bằng các vạch mạnh, dứt khoát và lưu loát đặt đâu trúng đấy, tạo ra
những hình tượng đi thẳng vào nghệ thuật cảm thụ của người xem.
Đường nét trong tranh dân gian chẳng những tạo ra dáng hình mà còn gợi
ra được tính cách và thể chất của đối tượng. Trong tranh hứng dừa, đường con
của người trèo và người hứng đều mơn mởn, nhởn nhơ đầy chất rỡ tình, toát lên
sự êm ái của da thịt, lạc quan hồ hỡi của tâm trí.
Việc sử dụng màu sắc rất tài tình có thể nói đã đạt tới chuẩn mực tuyệt
mỹ, mỗi tranh mỗi vẽ. Những hoà sắc tương phản, rực rõ mà không sặc rõ loè
loẹt.
Những đường nét - hình mảng được đặt ra hợp lý đúng lúc, đúng nơi càng
làm tăng thêm vẻ đẹp đầy tính thẩm mỹ của những bức tranh khắc gỗ Việt Nam,
vẻ đẹp ấy vẫn tồn tại cho đến ngày nay và là nền tảng cho việc phát triển nền
nghệ thuật dân tộc.
* Hình thức thể hiện:
Một trong những nét độc đáo khác mang đặc điểm dân tộc của tranh khắc
gỗ dân gian Việt Nam là nghệ thuật, kỹ thuật khắc - in tranh. Cho đến nay
chúng ta mới rút ra được 3 phương pháp chủ yếu:
- Sử dụng nhiều bản gổ: một bản nét và nhiều bản gỗ màu.
- Chỉ sử dụng 1 bản gỗ nét (không có bản gỗ màu) và tô màu.
- Không sử dụng gỗ nào, chủ dùng bút lông hoặc cọ mềm vẽ trực tiếp lên
tờ tranh theo thói quen nhà nghề.
- 13 -
học ở những người dân lao động Việt Nam, mang đậm màu sắc tư tưởng triết lý
Phương Đông rõ rệt.
Những bức tranh dân gian còn mang những ý nghĩa giáo dục to lớn, tràn
ngập tính nhân văn, tính thời đại hết sức độc đáo. từ những tờ giấy Dó, những tứ
màu in, "thuốc cái" tưởng chừng như bình thường dưới khối óc bàn tay của các
- 14 -
nghệ nhân đó đã trở thành những công cụ tạo hình thật độc đáo, không thể phủ
nhận.
Bằng nghệ thuật tạo hình, đơn giản về hình thức nhưng người xem cũng
đã thấy được cái thần, cái hồn thâm thuý sâu xa trong mỗi bức tranh kết hợp với
phương thức thể hiện độc đáo tạo thành "mảnh đất sống" của mỗi bức tranh.
Với mảng màu độc đáo trong sáng, rực rỡ. Những màu nguyên chất thô
sơ ấy biến hoà vô cùng phong phú hình thành quan niệm màu sắc độc đáo với
tính dân tộc, tính giai cấp, quyện thành một nguyên thể thống nhất trong vẻ đẹp
độc đáo của tranh. Đó là những giá trị nghệ thuật không bao giờ mất đi mà trái
lại khi xã hội ngày càng văn minh, con người ngày càng phát triển thì càng cần
thiết tìm về với cội nguồn, với văn hoá đặc sắc của dân tộc mà tranh dân gian
góp phần không nhỏ thời gian việc hình thành nên bản sắc văn hoá dân tộc.
Tranh dân gian là một di sản quý báu của nền văn hoá Việt Nam chứa
đựng tình dân tộc, chứa đựng cái đẹp phục vụ cho tư tưởng, tình cảm dân tộc.
Là tinh hoa "ngon ngọt" tích luỹ qua hàng trăm năm vì vậy những con người
hậu thế chúng ta cần trân trọng giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị tích
cực của tài sản vô giá ấy !
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Giáo trình đồ hoạ - Khoa đồ họa trường mỹ thuật Hà Nội
2, Lược sử mỹ thuật và mỹ thuật học (đào tạo giáo viên THCS) - Chu
Quang Trứ, Phạm Thị Chỉnh, Nguyễn Thái Lai - NXB giáo dục - 1998.
3, Mỹ thuật tập II (giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học) - Trình Thiệp -
ứng Thị Châu, Bộ giáo dục - đào tạo - Vụ giáo viên - Hà Nội - 1992.
4, Nghệ thuật đồ hoạ: Nguyễn Trân - NXB Mỹ thuật - Hà Nội - 1995.