Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển mạnh
mẽ.Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển sôi động, với sự đa dạng
của các loại hình doanh nghiệp ngoài các Công ty Nhà nước, THHH, công ty
cổ phần,… cạnh tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn. Đó vừa
là động lực để thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh cho các doanh
nghiệp vừa là thử thách rất lớn đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải vận động,
luôn sáng tạo để lựa chọn hướng đi đúng đắn nhất cho riêng mình. Doanh
nghiệp nếu không tự tìm cho mình một vị trí vững chắc để phát triển thì sẽ
khó tồn tại, dần dần sẽ bị tụt hậu và tự đào thải ra khỏi môi trường kinh
doanh. Vì vậy, tổ chức tốt công tác quản lý, hoạch định chiến lược kinh doanh
nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp là vấn đề các nhà quản lý
kinh tế rất quan tâm nhằm tạo vị thế và uy tín của mình trên thương trường.
Quản lý kinh doanh sản xuất nói chung và kế toán nói riêng là công cụ rất
đắc lực trong việc thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết cho
mỗi doanh nghiệp. Kế toán doanh nghiệp sẽ vẽ ra bức tranh toàn cảnh về
thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp về mọi mặt từ
nguồn tài chính, sự vận động của tiền tệ, các hoạt động sản xuất, tiêu thụ hàng
hoá,… từ đó các nhà quản lý có thể dựa vào những số liệu đó để nắm vững
tình hình tài chính của công ty, những nhìn nhận đúng đắn thực chất, đầy đủ
công tác điều hành, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong đơn vị mình
để đưa ra những giải pháp, chiến lược kinh doanh mới theo xu hướng phát
triển của thị trường cũng như của Công ty giúp cho Công ty ngày càng phát
triển trong sản xuất kinh doanh.
Với vai trò hết sức quan trọng như vậy hạch toán kế toán nói chung và
bộ phận kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
nói riêng đóng góp một vị trí không nhỏ. Công tác sẽ giúp doanh nghiệp tìm
ra những hạn chế cần khắc phục và phát huy những lợi thế để không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mă sản phẩm, chủng loại
cũng như công dụng chức năng, tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ
XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
Bán hàng hay còn gọi là tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ là quá trình thực
hiện trao đổi hàng hóa, dịch vụ thông qua các phương tiện thanh toán để thực
hiện giá trị của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Trong quá trình đó doanh nghiệp
chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ gắn với phần lợi ích hoặc rủi ro
cho khách hàng đồng thời khách hàng phải trả cho doanh nghiệp một khoản
tiền tương ứng với giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó theo giá thỏa
thuận hoặc chấp nhận thanh toán. Khoản tiền hay khoản nợ này gọi là doanh
thu bán hàng, nó là cơ sở xác định kết quả bán hàng và kết quả hoạt động kinh
doanh.
Hàng bán có thể là thành phẩm do đơn vị sản xuất ra( DNSX), cũng có
thể là các loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái
vật chất mà mua vào với mục đích để bán( DNTM).
Bán hàng là quá trình chuyển hóa vốn hàng hóa, dịch vụ sang vốn bằng
tiền và hình thành kết quả, là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn.
Như vậy, quá trình bán hàng chỉ được hoàn tất khi thỏa mãn hai điều
kiện là:
- Giao sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng
- Khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản
xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong
một thời kỳ nhất định, biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ.
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt
động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác.
* Kết quả hoạt động kinh doanh thông thường là kết quả từ những hoạt động
tạo ra doanh thu của doanh nghiệp, đây là hoạt động bán hàng, cung cấp dịch
vụ và hoạt động tài chính.
hàng, tránh hiện tượng thất thoát tiềm tàng, ảnh hưởng đến kết quả chung.
4
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Tổ chức chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ hợp lý,
hợp pháp. Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản và sổ sách phù hợp với đặc
điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị.
* Sử dụng phương pháp xác định GVHB, quản lý chặt chẽ chi phí bán
hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chi phí khác nhằm tối đa hóa lợi
nhuận.
* Sử dụng phương pháp tổng hợp cân đối kế toán để phản ánh mối quan
hệ cân đối vốn có giữa chi phí, thu nhập và kết quả.
Thực hiện tốt các yêu cầu trên góp phần đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ,
nâng cao hiệu quả hoạt động, thu lợi nhuận cao, góp phần tăng nguồn thu cho
ngân sách nhà nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
Để thực hiện tốt vai trò quan trọng đó, kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng có nhiệm vụ sau:
- Phản ánh, kiểm tra và giám sát tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng về số
lượng, chất lượng, giá cả và thời hạn thanh toán.
- Tính toán đúng đắn giá vốn của hàng đã bán, tổng hợp, phân bổ đầy đủ,
chính xác và kịp thời các khoản CPBH, CPQLDN cho từng loại hàng bán…
nhằm xác định đúng KQBH đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện các dự
toán chi phí của doanh nghiệp.
- Phản ánh và tính toán đúng đắn, chính xác DTBH, DTT và KQBH, kiểm tra
tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và KQKD của doanh nghiệp. Kiểm
tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch phân phối lợi
nhuận, kỷ luật thanh toán và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
- Cung cấp thông tin, phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và định kỳ phân
tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân
giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán
đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. Sản phẩm sau khi bàn
giao cho khách hàng được coi là tiêu thụ khi người mua thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán.
- Bán theo phương thức trả góp:
Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Người mua thanh toán lần
đầu tại thời điểm mua hàng, số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các
6
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Thông thường, số tiền
trả ở các kỳ tiếp theo bằng nhau, trong đó gồm một phần doanh thu gốc và
một phần lãi trả chậm. Về thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi
người mua thanh toán hết tiền hàng. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao
hàng cho khách và được khách hàng chấp nhận thanh toán, hàng hóa bán trả
góp được coi là tiêu thụ.
- Bán hàng đổi hàng:
Theo phương thức hàng đổi hàng, người bán đem sản phẩm, hàng hóa
của mình để đổi lấy sản phẩm, hàng hóa của người mua. Giá trao đổi là giá
bán sản phẩm, hàng hóa đó trên thị trường.
*) Phương thức gửi hàng đi bán.
Theo phương thức này, định kỳ doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàng
trên cơ sở thỏa thuận hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng tại địa
điểm đã quy ước trong hợp đồng. Khi xuất kho gửi hàng đi bán thì hàng hóa
vẫn thuộc quyyền sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào khách hàng thanh
toán hoặc chấp nhận thanh toán thì khi ấy hàng mới chuyển quyền sở hữu và
được ghi nhận DTBH.
Các hình thức trong phương thức này là:
- Bán buôn theo hình thức gửi hàng.
- Bán hàng đại lý ký gửi.
• Xác định trị giá vốn của hàng bán:
Trị giá vốn của = Trị giá vốn của hàng + Chi phí bán hàng và chi phí
Hàng bán xuất kho để bán quản lý doanh nghiệp phân
bổ cho số hàng đã bán
Khi xuất kho cần tính trị giá vốn hàng xuất bán theo một trong các
phương pháp sau:
Phương pháp thực tế đích danh: theo phương pháp này khi hàng xuất
kho phải theo dõi riêng từng lô hàng về số lượng cũng như đơn giá khi xuất ra
sử dụng thuộc lô hàng nào thì tính theo giá của lô hàng đó.
Phương pháp bình quân gia quyền:
8
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo phương pháp này, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính
theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị
từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình
cũng có thể được tính theo thời kỳ hoặc mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ
thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Đơn giá
Bình quân
=
Trị giá mua thực tế
của hàng tồn đầu kỳ
+
Trị giá mua thực tế của
hàng nhập trong kỳ
Số lượng hàng tồn
đầu kỳ
+
Số lượng hàng nhập
Trị giá hàng hóa
tồn cuối kỳ
+
Trị giá hàng xuất
bán trong kỳ
Trong đó: “Hàng hóa tồn cuối kỳ” bao gồm hàng hóa tồn trong kho,
hàng hóa đã mua nhưng còn đang đi trên đường và hàng hóa gửi đi bán nhưng
chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu.
1.2.2.2. Kế toán giá vốn hàng bán.
Chứng từ kế toán :
- Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.
Tài khoản sử dụng:
- TK 632- Giá vốn hàng bán
Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Sơ đồ 1.1: Kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp KKTX
TK 111, 112, 331 TK 632 TK 155,156
TK 155,156 Giá vốn hàng bán trả lại
Xuất bán trực tiếp
TK 157
Hàng gửi đại lý TK 911
Kết chuyển xác định
kết quả
Hàng hóa mua về bán ngay
TK133
10
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh
nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không
phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ
tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là
tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu
làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu.
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc
sẽ thu được. Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận
giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định
bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-)
các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán
và giá trị hàng bán bị trả lại.
Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay
thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các
khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận
doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận
doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao
dịch tạo ra doanh thu.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra
doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của
hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương
đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý
của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị
hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản
tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
* ) Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất
- Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh
nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào
doanh thu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả
chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.
- Những sản phẩm, hàng hoá được xác định là tiêu thụ, nhưng vì lý do
về chất lượng, về qui cách kỹ thuật người mua từ chối thanh toán, gửi trả lại
người bán hoặc yêu cầu giảm giá và được doanh nghiệp chấp thuận, hoặc
13
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
người mua mua hàng với khối lượng lớn được chiết khấu thương mại thì các
khoản giảm trừ doanh thu bán hàng này được theo dõi riêng biệt trên các Tài
khoản 531 - Hàng bán bị trả lại, hoặc Tài khoản 532 - Giảm giá hàng bán, Tài
khoản 521 - Chiết khấu thương mại.
-Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hoá đơn bán hàng và đã thu
tiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì
trị giá số hàng này không được coi là tiêu thụ và không được ghi vào Tài
khoản 511- "Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ" mà chỉ hạch toán vào
bên Có Tài khoản 131- "Phải thu của khách hàng" về khoản tiền đã thu của
khách hàng. Khi thực giao hàng cho người mua sẽ hạch toán vào Tài khoản
511- "Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ" về trị giá hàng đã giao, đã thu
trước tiền bán hàng, phù hợp với các điều kiện ghi nhận doanh thu.
- Đối với trường hợp cho thuê tài sản, có nhận trước tiền cho thuê của
nhiều năm thì doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tài chính là số
tiền cho thuê được xác định trên cơ sở lấy toàn bộ tổng số tiền thu được chia
cho số năm cho thuê tài sản.
- Đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước trợ cấp, trợ giá theo
qui định thì doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được Nhà nước chính thức
thông báo, hoặc thực tế trợ cấp, trợ giá. Doanh thu trợ cấp, trợ giá được phản
lý.
TK 511 có 5 TK cấp 2:
TK 5111 – Doanh thu bán hàng hoá
TK 5112 – Doanh thu bán các thành phẩm
TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK 5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá
TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư
TK5118 – Doanh thu khác
15
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong đó: DN thương mại chủ yếu sử dụng TK 5111 – Doanh thu
bánhàng hóa
- TK 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ”: Tài khoản này dùng để phản
ánh doanh thu số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong nội bộ
doanh nghiệp.
TK 512 có 3 tài khoản cấp 2:
TK 5121 – Doanh thu bán hàng hoá
TK 5122 – Doanh thu bán các thành phẩm
TK 5123 – Doanh thu cung cấp dịch vụ
Trong đó: DN thương mại chủ yếu sử dụng TK 5121 – Doanh thu bán
hàng hóa
1.2.3.3. Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ chủ yếu
Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Sơ đồ số 1.3: Trình tự kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ
doanh thu bán hàng
TK911 TK511,512 TK111,112,131
TK521,531.532
K/c DTThuần để Các khoản CKTM,
XDKQKD GGHB,HB trả lại PS
cung cấp thông tin kế toán để lập báo cáo tài chính.
1.2.4.1. Kế toán Chiết khấu Thương mại
• Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua hàng với khối lượng lớn
Tài khoản này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà
doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc
người mua hàng đã mua hàng (sản phẩm, hàng hoá), dịch vụ với khối lượng
lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế
mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.
Hạch toán tài khoản này cần tôn trọng một số quy định sau:
Chỉ hạch toán vào tài khoản này khoản chiết khấu thương mại người
mua được hưởng đã thực hiện trong kỳ theo đúng chính sách chiết khấu
thương mại của doanh nghiệp đã quy định.
17
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường hợp người mua hàng nhiều lần mới đạt được lượng hàng mua
được hưởng chiết khấu thì khoản chiết khấu thương mại này được ghi giảm
trừ vào giá bán trên “Hoá đơn (GTGT)” hoặc “Hoá đơn bán hàng” lần cuối
cùng. Trường hợp khách hàng không tiếp tục mua hàng, hoặc khi số chiết
khấu thương mại người mua được hưởng lớn hơn số tiền bán hàng được ghi
trên hoá đơn lần cuối cùng thì phải chi tiền chiết khấu thương mại cho người
mua. Khoản chiết khấu thương mại trong các trường hợp này được hạch toán
vào Tài khoản 521.
Trường hợp người mua hàng với khối lượng lớn được hưởng chiết
khấu thương mại, giá bán phản ánh trên hoá đơn là giá đã giảm giá (đã trừ
chiết khấu thương mại) thì khoản chiết khấu thương mại này không được
hạch toán vào TK 521. Doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã trừ chiết
khấu thương mại.
Phải theo dõi chi tiết chiết khấu thương mại đã thực hiện cho từng
doanh thu bán hàng’’ được thể hiện ở phần trên.
1.2.4.2. Kế toán Hàng bán bị trả lại
• Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ
bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
Là số sản phẩm hàng hoá doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, nhưng bị
khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh
tế như: Hàng kém phẩm chất, sai qui cách, chủng loại. Hàng bán bị trả lại
phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lại hàng, số lượng
hàng bị trả lại, trị giá hàng bị trả lại, đính kèm hoá đơn.
Trường hợp hàng bán bị trả lại vào kỳ kế toán (niên độ Kế toán sau) tức là ghi
nhận doanh thu và xác định kết quả kinh doanh, kế toán phản ánh doanh thu,
thuế GTGT của hàng trả lại ghi nhận vào chi phí của kỳ này, trị giá vốn của
hàng trả lại nhập kho ghi nhận doanh thu kỳ này.
Để phản ánh giá trị hàng bán bị trả lại, kế toán sử dụng
TK 531- Hàng bán bị trả lại
Trình tự hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu:
• Trình tự kế toán hàng bán bị trả lại được thể hiện qua sơ đồ : ‘’Sơ đồ số
1.3: Trình tự kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu
bán hàng’’ được thể hiện ở phần trên
Trường hợp hàng bán bị trả lại vào kỳ kế toán (niên độ Kế toán sau) tức
là ghi nhận doanh thu và xác định kết quả kinh doanh, kế toán phản ánh
doanh thu, thuế GTGT của hàng trả lại ghi nhận vào chi phí của kỳ này, trị giá
vốn của hàng trả lại nhập kho ghi nhận doanh thu kỳ này.
1.2.4.3. Kế toán giảm giá hàng bán
19
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng bán kém
phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Giảm giá hàng bán là số tiền doanh nghiệp phải trả cho khách hàng
+ TK 6414: Chi phí khấu hao tài sản cố định để phục vụ cho quá trình tiêu
thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, phương
tiện vận chuyển, bốc dỡ.
+ TK 6415: Chi phí bảo hành sản phẩm là các khoản chi phí bỏ ra để bảo
hành sản phẩm, hàng hóa trong thời gian bảo hành
+ TK 6416: Chi phí dịch vụ mua ngoài là các khoản chi phí dịch vụ mua
ngoài phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ như: Chi
phí thuê tài sản, thuê kho, thuê bến bãi, thuê bốc dỡ vận chuyển tiền hoa hồng
đại lý vv…
+ TK 6417: Chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ nằm ngoài
các chi phí kể trên như chi phí tiếp khách, hội nghị khách hàng, chi phí quảng
cáo giới thiệu sản phẩm hàng hóa.
*). Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu được thể hiện qua sơ đồ
sau:
Sơ đồ số 1.4 : Trình tự kế toán chi phí bán hàng
TK 111,112,152,153 TK641-chi phí BH 111,112
Chi phí vật liệu, công cụ Các khoản thu giảm chi
133
TK334,338
CP tiền lương&các khoản theo lương TK 911
TK214, k/c chi phí bán hàng
Chi phí KH TSCĐ
TK 352
Dự phòng phải trả về CP bảo hành
hóa sản phẩm TK 352
TK142,242,335 hoàn thành chi phí bảo
Chi phí phân bổ dần, chi phí trích hành sản phẩm HH
truớc
TK512
bài, thuế giao thông, cầu phà…
+ TK 6425: Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chung toàn doanh nghiệp như:
Tiền điện nước, thuê sửa chữa TSCĐ, tiền mua và sử dụng các tài liệu kỹ
thuật, phát minh, sáng chế, chi phí trả cho nhà thầu phụ
+ TK 6426: Chi phí bằng tiền khác là các khoản đã chi khác bằng tiền ngoài
các khoản đã kể trên, như chi hội nghị, tiếp khách, chi công tác phí, chi đào
tạo …
22
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*) Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu:
Sơ đồ 1.5 : Trình tự kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
TK 111,112,152,153 TK642-chi phí QLDN 111,112
Chi phí vật liệu, công cụ Các khoản thu giảm chi
133
TK334,338
CP tiền lương&các khoản theo lương TK 911
TK214, k/c chi phí QLDN
Chi phí KH TSCĐ
TK 352
Dự phòng phải trả về CP bảo hành
hàng hóa sản phẩm TK 139
TK142,242,335 hoàn thành trích lập
Chi phí phân bổ dần, chi phí trích dự phòng năm trước
truớc
TK351
trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất
việc làm
TK139
dự phòng phải thu khó đòi
TK3387
TK413
(6)
(1)
(2)
(3)
TK 515
Học Viện Tài Chính Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chú thích:
(1): Các khoản lãi được chia từ hoạt động đầu tư, cổ tức, lãi định kỳ của trái
phiếu, tiền lãi cho vay.
( 2 ) : Các khoản lãi khi bán hàng trả chậm, trả góp.
(3) : Chênh lệch tỷ giá thuần khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tê
(4): Khoản chiết khấu thanh toán khi mua hàng được hưởng
(5) : Khoản lãi chênh lệch ngoại tệ tính vào thu nhập hoạt động tài chính.
( 6) : Tính thuế GTGT phải nộp đối với hoạt động tài chính theo phương pháp
trực tiếp ( nếu có).
(7) : Cuối kỳ hạch toán, kết chuyển các khoản doanh thu hoạt động tài chính
thuần để xác định kết quả kinh doanh
25
SV: Phạm Thị Phương Thúy Lớp: LC14.21.24
TK911
TK 111, 112, 331
TK 111,112
(7)
(4)
(5)