Giáo trình Cơ sở chăn nuôi - Chương 6 potx - Pdf 16


113
Chương 6
CÁC LOẠI THỨC ĂN
VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN 6. 1 . PHÂN LOẠI THỨC ĂN
Mục đích, ý nghĩa : Muốn sử dụng chính xác thức ăn cần biết rõ đặc tính và đặc
điểm của từng loại thức ăn để lựa chọn và phối hợp khẩu phần phù hợp với từng vật
nuôi, từng phẩm giống khác nhau theo từng thời kỳ sinh tr
ưởng và mục đích sử dụng
khác nhau. Có thể phân loại thức ăn theo các phương pháp sau :
6.1.1. Phân loại theo nguồn gốc (theo 1rma-1983, Richard và Church-1998)
6.1.1.1. Thức ăn có nguồn góc thực vật
- Thức ăn xanh.
- Thức ăn thô.
- Thức ăn rễ củ, bầu bí.
- Thức ăn sản phẩm phụ nông nghiệp.
- Thức ăn hạt :
+ Hạt hoà thảo.
+ Hạt họ đậu.
+ Hạt cây có dầu.
6.1.1.2. Thức ăn có nguồn gốc động vật
- Sữa và sản phẩm phụ của ngành chế biến sữa.
- Sản phẩm thừa của lò sát sinh, chế biến thịt.
- Sản phẩm phụ của ngành gia công chế biến thuỷ sản.
- Các loại thức ăn động vật khác như : Giun, trai, hến, ếch nhái . . .
6.1.1.3. Thức ăn khoáng
- Bột xương, bột vỏ sò. bột khoáng, thạch cao, đá vôi . . .
- Premix khoáng đ

dầu cá
6.1.2.7. Thức ăn bổ sung đặc biệt
Có nhiều nguồn gốc khác nhau như kháng sinh, chất kích thích sinh trưởng, chất
làm tăng mùi vị, nấm men, khoáng vi lượng
6.1.3. Phân loại theo giá trị sinh sản
Bao gồm 2 loại là thức ăn sinh lý toan tính và kiềm tính. Trong chăn nuôi, thức
ăn thuộ
c loại sinh lý toan tính và kiềm tính có ý nghĩa rất lớn trong nuôi dưỡng, nhất là
gia súc sinh sản. Thức ăn toan tính và kiềm tính không phải là sự biểu hiện ra bên
ngoài như chua hay chất mà phải dựa vào kết quá của sự phân giải tạo thành sản phẩm
cuối cùng của thức ăn trong cơ thể gia súc mang tính chất gr. Nếu phản ứng với axit là
thức ăn kiềm tính còn phản ứng với kiềm là thức ăn toan tính. Thông thường, thức
ăn
giàu protit có thành phần các chất khoáng có tính axit như S. Cl, P hoặc chứa nhiều
axit vô cơ thuộc loại thức ăn sinh lý toan tính (N cho axit uric, S cho axit sunfuric, Cr
cho axit clohydric), hầu hết thức ăn động vật thuộc loại này.
Các loại thức ăn khác như thức ăn xanh, củ quả, thức ăn ủ chua lên men, đều
thuộc loại thức ăn sinh lý kiềm tính vì các loại thức ăn này thành phần có nhiều gốc
khoáng Na+, K+. Ca2+, Mg2+ Trong nuôi dưỡng gia súc đực giống cầ
n nhiều thức
ăn sinh lý toan tính, gia súc cái giống cần nhiều thức ăn sinh lý kiềm tính. Thức ăn
toan tính có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tinh trùng, phù
hợp với cơ chế trao đổi chất của đực giống, còn thức ăn sinh lý kiềm tính có vai trò
kích thích sự tạo sữa, làm tăng sản lượng sữa ở gia súc sinh sản. 115
6.2. ĐẶC ĐIỂN CÁC LOẠI THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN
6.2.1. Thức ăn xanh
Thức ăn xanh là loại thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi ở trạng thái tươi xanh

khoáng vi lượng : Mn, Zn đạt 593 và 168 ppm ; Co và Cu đạt 5,8 và 22,1 ppm. Tỷ lệ
protit cao, hàm lượng 1yzin và methionin cao., có thể phơi khô và nghiền bột bổ sung
5% vào khẩu phần ăn cho gà đẻ làm tăng sản lượng trứng, sử dụng nuôi lợn và vịt cho
kết quả tốt.
+ Bèo tấm cánh nhỏ : Bèo tấm sinh trưởng nhanh vào mùa hè, sống trôi nổi trên
mặt nước hay ao ruộng, hàm lượng protit cao (đạt 180-190gr/kg vật chất khô). Sử
dụ
ng để nuôi gà, vịt, lợn, cá rất tốt.
+ Cỏ hoà thảo (cỏ voi, có Ghi ne, cỏ pHngola…) : Hầu hết cỏ hoà thảo sinh
trưởng vào mùa hè, ra hoa kết quả vào vụ thu…, cỏ hoà thảo cho năng suất cao, chất

116
lượng tốt, protit thô trung bình 9,8% (75-145gr/kg vật chất khô) nhưng hàm lượng xơ
cao (269-72gr/kg chất khô), trong cỏ hoà thảo có chứa nhiều khoáng (Fe : 450 mg, Zn
: 24mg, Mn : 1 trung. . . ) năng suất khoảng 25-30 tấn chất khô/ha/năm với 7-8 lứa cắt
đối với cỏ voi và 1 0-1 4 tấn/ha đối với cỏ ghi ne, 12-15 tấn/ha đối với cò pangola. Giá
trị dinh dưỡng 1900-2000 kcalo ME/1kg chất khô. Các loại cỏ này làm thức ăn cho bò
sữa, bò thịt rất tốt.
+ Cỏ họ Đậu : Liu điểm c
ơ bản là có hàm lượng protit thô cao (đạt 167gr/kg chất
khô), giàu vitamin và khoáng, hàm lượng chất khô 200-260 gr/kg thức ăn. Giá trị năng
lượng trao đổi ME cao hơn cỏ hoà thảo. Cây họ Đậu do có vi khuẩn nốt sần cộng sinh
ở bộ rễ nên có khả năng cố định đạm không khí, có tác dụng cái tạo đất. Nhược điểm
cơ bản là trong lá có saponin, nếu gia súc ăn nhiều sẽ sinh trưởng bụng, đầy hơi, khó
tiêu, có hại cho gia súc nên phải s
ử dụng hợp lý và kết hợp với cỏ hoà thảo để nâng
cao hiệu quả sử dụng.
+ Cây keo dậu (Leucaena leucocephala) : Lá keo dậu có hàm lượng prôtein cao
270-280gr/kg chất khô, tỷ lệ xơ thấp 155mg/kg chất khô, caroten cao đạt 200mg/kg
chất khô. Trong lá keo dậu có độc tố mimosine nên chỉ sử dụng 15-20% trong khẩu

- Tận dụng rộng rãi nguyên liệu, có thể diệt trừ nấm, sâu bệnh.

117
- Thiết bị đơn giản, dễ làm, dung tích nhỏ hơn nhà chứa thức ăn anh phơi khô.
* Nguyên lý ủ xanh : Dựa vào sự lên men của vi khuẩn lactic trong tự nhiên để
sản sinh ra axit lactic có tác dụng ngăn ngừa sự phân huỷ của các tế bào thực vật và ức
chế hoạt động của các loại vi khuẩn gây thối khác. Chính axit lactic là thuốc bảo tồn
thức ăn giúp cho thức ăn xanh được bảo quản trong thời gian dài mà không bị

hỏng.
* Các phản ứng hoá học cơ bản xảy ra trong hầm. hố ủ xanh :
- Hô hấp hiếu khí : Dấu hiệu đầu tiên là nhiệt độ tăng cao do tế bào thực vật tự
hô hấp sau khi thu hái với sự có mặt của ôxy trong hầm hố ủ, quá trình này xảy ra 5-6
giờ sau khi ủ. Nếu ôxy càng nhiều thì quá trình xảy ra càng mạnh và kéo dài, thức ăn
bị tổn thất sẽ lớn. Quá trình hô hấp sẽ phân gi
ải đường, tiêu hao năng lượng.
kcalo

- Hô hấp yếm khí : sau khi sử dụng hết ôxy tự do, tế bào thực vật tiếp tục sống nhờ
quá trình hô hấp đặc biệt trong tế bào, quá trình này phân giải chất đường thành rượu
và axit hữu cơ.

Những sản phẩm này tích luỹ trong tế bào làm cho tế bào bị chết.
Lượng đường và nước càng nhiều thì quá trình này xảy ra càng mạnh.
Khi lượng ôxy hết, tế bào thực vật sẽ chết. Cuối cùng còn lại các vi khuẩn yếu
khí : Vi khuẩn lactic, vi khuẩn axetic, vi khuẩn butyric… khối lượng các loại vi khuẩn
này rất lớn.
Ví dụ : trong 1 cm
3
cỏ tươi đậu ba lá có tới 5 triệu vi khuẩn axetic,12 triệu vi


119
Bảng 6.2. Điều kiện cần thiết để các loại vi khuẩn hoạt động
Điều kiện
sống
Vi khuẩn
lactic
Vi khuẩn
axetic
Vi khuẩn
butvric
Vi khuẩn
gây thối
Nấm mốc
Phân bố Rong Rong Rong Rong Rong
Yêu cầu
CO2
Yếm khí Hiếu khí Yếm khí tuỳ tiện
(không bắt buộc)
Tuỳ tiện Hiếu khí
Yêu cầu 20 – 65

hoạt động được, còn các vi khuẩn khác đều bị tiêu diệt.
- Thành phần nguyên liệu đem ủ :
Thức ăn xanh phải có hàm lượng đường nhất định để vi khuẩn lactic hoạt động
sinh ra lượng axit lactic cần thiết đàm bảo cho độ pH <= 4,2 ở trong hầm hố ủ. Lượng
đường đó gọi là hạn
độ đường tối thiểu được tính bằng công thức :
A = B . 1,7
Trong đó : A là hạn độ đường tối thiểu.
B là độ hoãn xung của thức ăn.
Độ hoãn xung của thức ăn được tính bằng tỷ lệ % của lượng axit lactic nồng độ
0,1 N, tính bằng gam dùng để nhỏ vào 100gr thức ăn khô làm cho pH giảm xuống
bằng 4,2.
Trong thực tế, chỉ có 60% đường được sinh ra axit lactic còn 40% đường sinh ra
khí thể và năng lượng. Do đó, mu
ốn tìm ra lượng đường cần thiết để sản sinh ra lượng
axit lactic đảm bảo cho pH <= 4,2 Sinh ra 60gr axit lactic cần có 100 gr đường. 120
Người ta chia thức ăn xanh thành 3 loại :
+ Loại dễ ủ xanh : Có hạn độ đường lối thiểu thấp : ngô, cây cỏ hoà thảo.
+ Loại khó ủ : Có hạn độ đường tối thiểu xấp xỉ lượng đường thực tế hoặc cao
hơn (ví dụ : lá khoai lang, bắp cải … ).
+ Loại không thể ủ xanh được : Thường là loại thức ăn có hạn độ đường nhỏ hơn
1 % lúc còn tươi.
- Hàm l
ượng nước
Nếu hàm lượng nước quá cao sẽ làm giảm lượng đường, đồng thời nồng độ axit
bị pha loãng do đó thức ăn khó u xanh tốt. Nhìn chung, độ ẩm từ 65 - 75% là tốt. Nếu
hàm lượng nước quá thấp sẽ khó nén chặt dẫn tới hàm lượng ôxy trong hầm hố ủ sẽ

- Các loài gia súc đang có chửa, cuối kỳ vồ béo không được cho ăn thức ăn ủ
xanh.
Lượng thức ăn ủ xanh nhiều nhất có thể cho ăn/ngày : Bò sữa : 7-15kg lừ
a, ngựa
:

121

6.2.1.2.3. Thức ăn xanh lên men
Là phương pháp chế biến thức ăn xanh trong chăn nuôi có hiệu quả cao, nhất là
chăn nuôi lợn. Thức ăn xanh lên men có một số đặc điểm sau :
- Lên men thức ăn xanh là phương pháp chế biến đơn giản, dễ làm, không phụ
thuộc vào thiên nhiên.
- Thức ăn xanh lên men có mùi vị thơm ngon nên có thể kích thích tính thèm ăn
của vật nuôi, kích thích tiết dịch tiêu hoá, làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn.
- Th
ức ăn xanh lên men giữ được nhiều chất dinh dưỡng, không bị tổn thất (nhất
là protit và vitamin).
- Làm lên men thức ăn xanh tiết kiệm được công chế biến và chi phí đun nấu nên
hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi.
* Nguyên lý : Giống như nguyên lý ủ xanh thức ăn, tức là tạo điều kiện yếm khí
và lượng bột đường để vi khuẩn lactic hoạt động sản sinh ra axit lactic làm cho thức ăn
có mùi vị thơm ngon h
ơn. Chỉ khác là điều kiện yếm khí không nghiêm ngặt như ủ
xanh và thường thêm muối vào để hạn chế vi khuẩn gây thối hoạt động. Thời gian ủ
ngắn (vài ngày) là có tác dụng chế biến thức ăn.
6.2.1.2.4. Thức ăn xanh phơi khô
Là phương pháp dự trữ sau khi thu hoạch bằng cách đem phơi khô nhằm dự trữ
cho mùa đông và giáp hạt ; chủ yếu dùng cho trâu, bò, ngựa.
Các loại cỏ xanh thiên nhiên là cỏ trồ

ải đều cỏ và lật cỏ thường xuyên mỗi giờ một lần. Cỏ phơi tốt phải có
màu xanh hoặc vàng xanh, mùi thơm mát, hàm lượng nước <l5%. Dự trữ bằng phơi
khô có nhược điểm chiếm nhiều diện tích nhà chứa cỏ.
6.2.1.2.5. Cỏ khô vitamin và bột cỏ khô
- Cỏ khô vitamin : Chủ yếu là các loại có trồng giàu vitamin như , cỏ mục túc, cỏ
họ đậu, tiến hành thu hoạch đúng thời v
ụ và đảm bảo kỹ thuật phơi theo phương pháp
hong gió trong bóng râm ; dùng để nuôi gia cầm, lợn, trâu, bò rất tốt.
- Bột cỏ khô : Dùng các loại cỏ họ đậu, cỏ mục túc trong thành phần có nhiều
protit và vitamin. Sau khi phơi khô, nghiền nhỏ thành bột trộn vào khẩu phần nuôi gia
súc, gia cầm, cá.
6.2.2. Thức ăn thô - khô
Thức ăn thô - khô gồm các loại rơm rạ, thân cây ngô, cây lạc và một số phế phụ
phẩm nông nghiệp khác phơi khô.
Thứ
c ăn thô - khô thường có hàm lượng xơ thô cao (20-37%) theo chất khô.
nghèo protit và năng lượng. Tuy nhiên, đây là loại thức ăn không thể thiếu đối với
chăn nuôi trâu bò ở các vùng đồng bằng và trung du.
+ Thức ăn rơm rạ : Hằng năm, nước ta có 7,6 triệu ha lúa với sản lượng thóc trên
30 triệu tấn và Cũng có khoảng 32 triệu tấn rơm rạ. Giá là năng lượng là
1664kcaloME/1kg khô, xơ là 35-42%, protit là 3-4%, 1ipit là 1-1.6%.
+ Cây ngô già sau khi thu bắp : Sản lượng ngô ở Việt Nam năm 1999
đạt 1,75
triệu tấn. Có trên 4 triệu tấn cây ngô già. Đây là nguồn thức ăn quan trọng giá trị năng
lượng 1894 kcaloME1kg khô, hàm lượng protit là 58gr/kg khô,. xơ thô cao là 326g/kg
khô.
Khi cho ăn phải xử lý bằng kiềm ủur ê, NH
3
+ Các loại thân lá cây họ đậu, lạc phơi khô đều có thể sử dụng để chăn nuôi trâu
bò, tuy nhiên phải chế biến tốt và bổ sung thêm các thức ăn khác.

Vật chất khô 42-43%. Trung bình 1kg chất khô có 22gr protit, 3-4gr 1ipit, 650gr
tinh bột trong sắn ngọt và 850gr trong sắn đắng. Giá trị dinh dưỡng : 1kg củ sắn tươi =
0,39đvlă.
Trên thế giới có khoảng 3 triệu người sử
dụng sắn làm lượng thực. Ở nước ta, sản
lượng sắn đạt trên 2,4 triệu tấn ( 1997) được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi lợn và
gia cầm năng suất 90-96 tấn/ha. Củ sắn tươi có chứa nhiều độc tố là cyannuaglucocid.
Mỗi khi tế bào của củ sắn bị phá huỷ do sây sát hay cắt thái, chất cyannuaglucocid bị
men linamaza ở ngoài tế bào hoạt hoá và sản sinh ra cyanhydric ( HCN ) tự do. HCN
gây độc cho gia súc. Nếu ở n
ồng độ thấp sẽ làm cho gia súc chậm lớn, kém sinh sản.
Nếu ở hàm lượng cao sẽ làm cho gia súc chết ngay. Hàm lượng HCN trong củ sắn biến
động từ 10-490mg/kg. Có lúc lên đến 785mg. Hàm lượng HCN trong củ sắn đắng cao
hơn củ sắn ngọt. Khi ngâm nước hay phơi khô, hấp chín sẽ làm giảm đáng kể HCN vì
các cyannuaglucocid trong sắn thuỷ phân thành HCN hoà tan hoặc bay hơi đi. Liều
độc HCN với người là lmg/1kg thể trọng, bò là 2mg/kg thể trọng.

124
Men linamaza có mặt ở ngoài tế bào, khi vỏ sắn bị sây sát hoặc thái lát. men này
có cơ hội tiếp xúc với cyannuaglucocid trong tế bào và giải phóng ra HCN.
Cơ thể tự giải độc được nếu HCN ít do thiosunfat nội sinh trong cơ thể tác dụng
với ion CN
-
tạo thành thiocianat và được thải ra ngoài theo nước tiểu. Khi hàm lượng
CN
-
nhiều sẽ gây ngộ độc do ton CN
-
ôxy hoá F
2+

khẩu phần nuôi trâu sữa, bò sữa, lợn nái nuôi con. Giá trị dinh dưỡng 0,1 là đvtă /1kg
bí đỏ tươi.
6.2.3.2. Phương pháp chế biến và dự trữ
6.2.3.2.1. Phương pháp dự trữ
Thức ăn củ quả chủ yếu là phơi khô để bảo quản được lâu phải phơi khô kỹ và
khi thu hái phải tránh sây sát vỏ, không thu hái khi trời mưa hoặc ngập nước.
- Nguyên lý : Vì thức ăn củ quả có hàm lượng n
ước cao, bột đường nhiều nên dễ
bị nhiễm vi sinh vật gây thối. Trong củ quả có men amylaza phân huỷ tinh bột thành
đường nên tỷ lệ đường tăng dần sau khi thu hái. Đó chính là lý do giải thích tại sao
khoai lang để lâu thì khí luộc sẽ cháy mật và rất ngọt, điều đó cũng giải thích khi nhiệt

125
độ càng tăng cao., đường sẽ bị phân giải thành H
2
0 Và CO
2
bay hơi làm cho củ khoai
bị xốp và giảm trọng lượng. Nếu để khoai lâu và độ ẩm cao thì khoai sẽ mọc mầm,
chất dinh dưỡng sẽ tập trung vào mầm nên phẩm chất khoai bị giảm đi.
Vì vậy muốn bảo quản tốt cần tạo những diều kiện sau :
+ Củ không được sây sát
+ Khi thu hoạch không bị ngập nước
+ Nhiệt độ bảo quản thấp ( 13- 16
0
C)
+ Độ ẩm không khí < 70%
+ Để nơi tối, hạn chế ánh sáng và phải khô ráo.
- Phương pháp bảo quản : Xếp khoai, bí đỏ…trên giá hoặc để nguyên cả dây củ
buộc thành túm treo lên gác bếp, tránh chất đống. Với sắn, cách bảo quản tốt nhất là


126
lyzin, tryptophan ở hạt hoà thảo.
6.2.4.2. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng
6.2.4.2.l. Hạt hoà thảo
Hàm lượng bột đường trung bình 70% , protit từ 8- 12%, xơ từ 15-4,1%, lipit từ
2-8%, khoáng từ 1,5-4%. Trong đó, canxi ít hơn photpho, có nhiều vitaminnhóm B và
E, ngô vàng có nhiều caroten, criptoxantin, xantophyl nên dùng để nuôi gà rất tốt. Tỷ
lệ tiêu hoá từ 80-90%, Giá trị dinh dưỡng từ 1,1 – 1,3 đvtă/1 kg hạt khô. Đại diện
chính là các loại lúa, ngô, mạch. cao lương.
Cám gạo là phụ phẩm chính của ngành xay xát gạo, là nguồn thức ă
n quan trọng
cho gia súc, gia cầm. Trong cám gạo có 12- 14% protit thô, 14- 18% lipit nên dễ bị
ôxy hoá, vì vậy cám không nên để lâu trong cám có rất nhiều vilamin nhóm B. Nhất là
B
1
(22,2mg), B
6
(13,lmg), biotin (0,43mg/kg cám). Giá trị dinh dưỡng là 0,94 đvtă/kg.
6.2.4.2.2. Hạt họ Đậu
Đặc trưng cơ bản là hàm lượng protit cao (22-40%), lipit từ 1-5%, gồm nhiều
cholesterol và 1euxitin. Riêng ở đậu tương, lượng lipit có 16-21%, chất khoáng nhiều
hơn hạt hoà thảo, Ca nhiều hơn P, nhiều vitamin D, ít caroten, tỷ lệ tiêu hoá đạt 80-
90%. Giá trị dinh dưỡng đạt 12- 14đvtă/1kg khô. Thường dùng làm thức ăn bổ sung.
6.2.4.2.3. Hại có dầu
Là loại thức ăn quý, có hàm lượng lipit cao (từ 14-46%), chủ
yếu sử dụng dưới
dạng khô dầu sau khi đã ép lấy dầu.
6.2.4.3. Phương pháp dự trữ và chế biến
6.2.4.3.1.Phương pháp dự trữ

thể hoạt động mạnh. Bình thường, đường dễ tan trong thức ăn hạt ch
ỉ có 0,5-2%. Sau
khi đường hoá, đường dễ tan tăng lên tới 8- 12% là thức ăn phù hợp cho gia súc non
như lợn con, bê con, gia súc vô béo.
- Phương pháp chế biến : Cho thức ăn hạt đã nghiền nhỏ vào thùng gỗ, cho nước
nóng 80
0
C-100
0
C theo tỷ lệ : 1kg thức ăn hạt cho 2-2,5 lít nước nóng, khuấy đều, ủ và
giữ cho nhiệt độ từ 55-60
0
C.
Cho quá trình thuỷ phân nhanh hơn, người ta cho thêm 4-5% bột mầm thóc mạch
nha. Sau khi ủ 5-6 giờ lấy ra cho gia súc ăn.
* Thức ăn hạt họ Đậu : Chủ yếu là rang chin, nghiền bột, trộn vào thức ăn nhằm
bổ sung dinh dưỡng, nhất là protit.
* Hạt có dầu : Thường rang chín, ép dầu, chỉ sử dụng khô dầu cho chăn nuôi.
6.2.5. Thức ăn có nguồn gốc động vật
Bao gồm tất cả các sản phẩm chế
biến từ thức ăn có nguồn gốc động vật như :
Bột thịt, bội xương, bột cá, bột máu, bột đầu tôm, sữa và những sản phẩm của sữa
Về mặt dinh dưỡng, đây là loại thức ăn quý có giá trí dinh dưỡng cao, là thức ăn giàu
protit, cân bằng tỷ lệ các axit amin không thay thế. Các nguyên tố khoáng cần thiết và
một số vitamin quan trọng như : B
12
,A, D, K, E tỷ lệ tiêu hoá và hấp thụ các chất
dinh dưỡng trong thức ăn giàu protit động vật rất cao.
6.2.5.1. Sữa nguyên chất
Là thức ăn lý tưởng của gia súc non. Vật chất khô trong sữa có thể tiêu hoá gần

để nguội 35
0
C rồi cấy vi khuẩn vào để trong tủ ấm 37
0
C trong 6-8 giờ. Lấy ra cho gia
súc ăn. Dùng không hết có thể bảo quản trong tủ lạnh.
Một cách chế biến khác là sấy khô sữa thành bột, phải sấy sữa trong phòng sấy
đặc biệt. Cho thành phần dinh dưỡng : là H
2
O (5-7% ). protit (30-33%). đường (44-
47%), lipit (0,5-l,5%), khoáng (7-8 %). Khi cho ăn phải trộn một phần sữa bột với 7
phần nước khuấy đều.
6.2.5.3. Sữa đã lây casein
Là sản phẩm phụ của sữa sau khi đã lấy casein để làm phomat.Vật chất khô ít
hơn chất khử bơ, thành phần hoá học có đường sữa 2/3-3/4 vật chất khô, lipit và protit
còn ít, tỷ lệ dinh dưỡng rộng 9/1 , giá trị dinh dưỡng 0,11 -0,12 đvtă/1kg, thường dùng
nuôi lợn cà trâu bò thị
t.
6.2.5.4. Bột tan
Là sản phẩm phụ của lò sát sinh và nhà máy chế biến thịt. Thành phần protit tiêu
hoá chiếm 60-65%, giá trị dinh dưỡng 1,5 đvtă /1kg.
6.2.5.5. Bột thịt xương
Nguyên liệu là xác gia súc chết mà người không ăn nhưng phải đảm bảo vệ sinh.
Không mắc bệnh truyền nhiễm, hoặc những phế phụ phẩm còn lại sau khi giết mổ gia
súc làm thịt hộp.
Cách làm : Cho nguyên liệu vào nồi hấp cao áp vài giờ, sau đó vớt h
ết chất béo
nổi lên trên rồi đem sấy khô và nghiền nhỏ thành bột. Thành phần thay đổi tuỳ vào
điêu kiện chế biến là nguyên liệu. Trung bình có : Nước (6-10%), protit (40-60%
khoáng (l0-30%) lipit ( 8- 15% ). Giá trị dinh dưỡng 0,89 đvtă/1 kg.

hơn hạt hoà thảo nhưng lại cao hơn hạt họ Đậu protit l0-12%cao hơn hạt hoà thảo bao
gồm nhiều loại axit amin quan trọng như hístidin 0,2%, acginin 0,5%, lyzin 0,5%
treonin 0,4%. tryptophan 0,4% hàm lượng xơ 10% cao hơn hoà thảo và họ Đậu lipit
12-15%, vitamin nhóm B rất cao : B
12
2,7mg, B
2
3mg, PP24,8mg, B
2
23,2mg, caroten
2mg/1kg. Giá trị dinh dưỡng cám gạo loại tốt 09- 1 đvtă/1 kg.
6.2.6.2. Sản phẩm phụ của nghề xay bột, làm đậu phụ
Bao gồm các loại hạt và bã sau khi ép lọc lấy bột làm bánh và làm đậu phụ.
Thành phần hoá học thay đổi tuỳ theo loại hạt đem chế biến.
- Bã ngũ cốc và khoai lang, sắn khi ướt : H
2
O 75-85%. protit 2,2% bột đường 10-
12%, lipit 5-8%, giá trị dinh dưỡng 0,2 đvtă/kg:
- Bã đậu phụ ướt : Nước chiếm 80%, protit 3-4%, bột đường 10% xơ 5-8%, giá
trị dinh dưỡng 0,2 đvtă/kg.
6.2.6.3. Sản phẩm phụ của nghề ép dầu
Và những sản phẩm còn lại sau khi đã ép dầu bao gồm nhiều loại khô dầu lạc,
khô dầu cám, khô dầu đậu nành, khô dầu dừa. bông
Đặc điểm : bột đường 33-36%, lipit ép thường còn 4-8% hoà tan chiết su
ất bằng
este còn 1-3%, xơ 5,1-1 1 %, protit thô 30-45%. khoáng 6-7% Vitamin chủ yếu là
nhóm B. Giá trị dinh dưỡng 1,2 đvtă/kg. Do đó. thường dùng làm thức ăn bổ sung cho

130
gia súc, gia cầm.

Thông thường, hàm lượng khoáng chứa trong các loại thức ăn không đủ thoả
mãn nhu cầu của gia súc, vì thế việc bổ sung thêm một số chất khoáng thích đáng có ý
nghĩa rất lớn trong chăn nuôi. Không những nó làm cho gia súc ngăn ngừa được những
bệnh tật về sinh lý sinh trưởng phát dục mà còn làm tăng sức khoẻ
và tính năng sản
xuất.
Các loại khoáng gồm có muối ăn (Nacl) bột xương, bột vỏ sò. thạch cao. khoáng
vi lượng
- Nacl : Cho gia súc ăn làm tăng khẩu vị và cung cấp Na, Cl. Muối mỏ ngoài
Nacl còn có MgSO
4
, Na
2
SO
4
, KCI, Mgcl
Mức ăn : Bò trưởng thành cho ăn : 25-50gr/ ngày
Ngựa : 20-40 gr/ngày
Dê cừu : 5- 15 gr/ngày
Lợn : 5- 1 0 gr/ngày
- Bột xương : Trong khẩu phần thức ăn hằng ngày của vật nuôi thường thiếu Ca,

131
P. Bột xương đã khử chất keo gelatin chứa 30-35% tricanxi photphat, dùng bổ sung
cho gia súc non sinh trưởng và gia súc chửa đẻ, nuôi con hay tiết sữa.
Mức cho ăn : Bò không vắt sữa : 60 gr/ngày
Bò vắt sữa cho con bú : 100 gr/ngày
Bò trên 1 tuổi : 45 gr/ngày, Bê dưới 1 tuổi :25 gr/ngày Iợn con : 5-8 gr/ngày
Lợn 4- 10 tháng : 10 gr/ngày
Cừu : 5-10 gr/ngày

9-20%
Hầu hết các loại kháng sinh khi vào cơ thể đều bị đào thải ra ngoài sau một thời
gian ngắn nên sử dụng kháng sinh cho gia súc ăn sẽ không ảnh hưởng đến phẩm chất
và mùi vị của thịt và sữa nếu ngừng cho ăn trước khi giết mổ 1 tháng. Sở dĩ kháng sinh

132
có tác dụng như vậy là vì kháng sinh đã làm mỏng thành ruột, làm tăng diện tích tiếp
xúc hấp thụ thức ăn và dinh dưỡng, tăng lượng máu lưu thong vách ruột, nâng cao tỷ lệ
tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong thức ăn.
Làm tăng hiệu quả sử dụng protit, khoáng, vitamin, tăng hồng cầu và bạch cầu
trong máu. Một số nhà khoa học cho ràng kháng sinh đã ức chế vi khuẩn có hại trong
đường ruột nên đã làm giảm bệnh ỉa ch
ảy, giảm tiêu hao dinh dưỡng, kích thích sinh
trưởng, tăng sức đề kháng của cơ thể. Kháng sinh ức chế vi khuẩn có hại làm chúng
không sử dụng được vitamin và dinh dưỡng của cơ thể. làm cho gia súc tận dụng triệt
để những vilamin do thức ăn đưa vào. Ngày nay, người ta thường sản xuất các hỗn hợp
premix kháng sinh-vitamin như biovit 40. biovit 80 ; kháng sinh-axit amin như :
biolyzin ; kháng sinh-khoáng vi lượng
6.2.7.5. Các kích tố
Bao gồm nhiều loại có lác dụng kích thích sinh trưởng sinh sản, vỗ béo, tiết s
ữa
và các loại gia cầm đè trứng.
Ví dụ : broxinet, eitripin bổ xung vào khẩu phần nuôi gia cầm làm tăng sản lượng
trứng ; huyết thanh ngựa chửa từ 1-3 tháng có tác dụng kích thích động dục ở gia súc
cái trâu bò, lợn stinben, dietin, stinbentron bổ sung nuôi gia súc cho thịt …
6.2.7.5.1. Bản chất, cơ chế tác đụ ng của kích tố
6.2.7.5.1.l. Bản chất của kích tố (hormon)
Hormon có nhiều loại nhưng bản chất hoá học của chúng chỉ nằm trong 2 nhóm
là nhóm có bàn chất protit và nhóm có bả
n chất lipit.

đặc biệt mô cơ và mô xương ; ACTH kích thích sự phát dục của miền vỏ
tuyến thượng thận
- Ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục của cơ thể : Biểu hiện rõ nhất là vai trò của
hormon oestrogen, androgen và kích tố tuyến yên như FSH, LH gây kích thích động
dục và hưng phấn ở gia súc.
- Hormon ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của cơ thể. Ví dụ : Oestrogen gây
trạng thái hưng phấn động dục
ở gia súc cái, androgen gây hưng phấn tính dục ở con
đực nên sau khi thiến, gia súc sẽ trở nên hiền lành, ít hoạt động, khả năng tích luỹ cao
do mất tác dụng của các loại kích tố này.
Cho đến nay, sau nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Người ta đã xác định cơ
chế tác dụng của hormon theo 3 hướng : hormon – màng, hormon - enzym và hormon
- đen.
- Hormon - màng : Tác dụng đầu trên người ta thấy của hormon lên màng tế bào
là thông qua cơ chế làm biến đổi tính thẩm thấu của màng tế bào nh
ờ có một chất cảm
thụ đặc biệt mà hormon được gắn lên màng tế bào gây ra sự biến đổi đặc biệt về cấu
trúc màng, làm mở rộng kích thước lỗ màng, làm tăng tính thẩm thấu. Đồng thời khi
gắn lên màng, hormon đã kích thích tổng hợp hoặc phân giải một số thành phần nào đó
của màng. Xúc tiến cho sự vận chuyển tích cực, hoạt hoá một số enzym nhất định,
nhất là các enzym tham gia quá trình ph
ản ứng sinh năng lượng, nhờ đó mà đẩy nhanh
quá trình vận chuyển chất qua màng tế bào (Willmer 1961. Weissman 1966 ).
Hormon có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận chuyển ion qua màng như mineran
cocticoit (androsteron) của vỏ thượng thận kể cả glucococticoit của tuyến này.
Theo Willmer và một số tác giả khác thì hormon của tuyến thượng thận có khả
năng làm biến đổi lớp photpholipit của màng, làm tăng tính thấm với ion.
Xecgheva và cộng tác viên nấm 1974 cho rằng : Hormon steroit có khả
năng làm
thay đổi trật tự tích điện âm dưới mặt màng tế bào. Được gây nên bằng sự vận chuyển

enzym glucoz-6-photphat dehydrogenaza
Qua vài dẫn liệu nói trên ta thấy rằng, trên cơ chế tác động của hormon - enzym,
tuỳ điều kiện cụ thể của phản ứng, nồng độ cơ chất, liều lượng hormon mà hormon
đóng vai trò hoạt hoá hoặc kìm hãm một hoặc một số enzym nào đó.
- Hormon - gen :
Cơ chế điều hoà di truyền của hormon trong sinh tổng hợp protit qua con đường
hormon-gen là một vấn đề
lý thú. Ta biết rằng để sinh tổng hợp protit, trước trên chuỗi
xoắn kép DNA phải tách đôi mới truyền mật mã thông tin di truyền để tổng hợp RNA
thông tin, trên chuỗi xoắn kép dài DNA có những đen cấu trúc SG
1
, SG
2
, SG
3
,… mỗi
bên cấu trúc giữ một mật mã riêng. Gen cấu trúc chỉ hoạt động khi gen vận hành O
mở, gen vận hành còn gọi là nên khởi động, gen này chịu sự điều khiển chi phối của
đến điều khiển RG. Nó điều khiển bằng cách sản sinh chất ức chế R (gọi là chất điều
hành), chất này có 2 đầu trung tâm : Một đầu R vô hoạt và đầu kia là R’ hoạt động.
Mới đây ng
ười ta tìm ra giữa nền khởi động O và đến điều khiển RG còn có một đến
tiền khởi động P (promotor) giữ RNA polymcraza.
Hormon có vai trò mở hoặc khoá trên bằng cách bám đầu R hoặc đầu R’ của chất
điều hành để cho phép hay không cho phép quá trình sinh tổng hợp protit được thực
hiện. Khi hormon bám mào đầu R’ thì chất điều hành này không ức chế được đen O
(mở đen). RNA polymeraza từ đen tiên khởi động P có thể qua O mà vào các gen cấu
trúc SG
1
, SG

Cho đến nay, nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Đức, Liên Xô cũ, Nhật Bả
n,
Bungari, Hungari, Canada đã dùng DES xoay quanh liều mg10 cho 1 con vật/ngày
đêm. Kéo dài 100 -120 ngày cuối kỳ vỗ béo. Còn nếu tiêm thì phải ngừng tiêm 100
ngày trước khi giết thịt. Liều uống từ 5-l0mg/1con/ngày đêm, kéo dài 100 ngày khi
cho ăn, người ta thấy chỉ có liều nhỏ kích tố được sử dụng còn 50-70% bị thải ra ngoài
theo phần. Ngoài ra, khi sử dụng DES, người ta còn thấy nó liên quan đến chế độ
chăm sóc, nuôi dưỡng và chất lượng thức ăn. Kết quả dùng DES nuôi bò chăn thả hiệ
u
quả thấp hơn béo nuôi nhốt. Thí nghiệm trên lợn cho thấy liều dùng 5mg/1kg thể trọng
(P)/ngày đêm cho hiệu quả cao hơn cả, làm tăng trọng 110-130% so với đối chứng.
Kích tố được sử dụng là broxynet (ETI), tương tự oenstrogen. Đối với ETI, dùng cả
phương pháp tiêm và ghép dưới da với liều lomg/1kg(p)/ngày đêm dạt hiệu quả cao
nhất. Tuy nhiên, người ta thấy phương pháp ghép tiện lợi hơn vì ghép chỉ làm một lần
còn tiêm phải thực hiện nhiều lần.
Hormon sinh dục đực andrrogen cũng có tác dụng kích thích đến quá trình tổng hợp
protit, tăng tạo máu nên trong thời gian qua nhiều nước đã tiến hành nghiên cứu sử

136
dụng các chế phẩm của chúng trong nuôi dưỡng gia súc lấy thịt. Nó được sử dụng dưới
dạng tertosterol propionat, metyltertosterol và metylandrostendiol. Ưu điểm của
hormon sinh dục đực là ít gây ảnh hưởng có hại cho người sử dụng và tác dụng kích
thích sinh trưởng, từng đồng hoá protit của nó mạnh hơn nhiều so với hormon sinh đục
cái (androstendiol là kích tố của lớp lưới miền vỏ tuyến thượng thận có cấu trúc, chức
năng tương tự
tertosterol).
Tuy nhiên, hormon sinh dục đực và chế phẩm của chúng không thể cho gia súc án
cùng thức ăn như oestrogen mà phải tiêm hoặc cho uống trực tiếp. Người ta đã nghiên
cứu cấy dưới da dưới dạng viên sau gốc tai có hiệu quả tác dụng rõ rệt. Liều lượng cấy
thường sử dụng 10 - 20mg/1bê hoặc cừu. Khi tiêm sử dụng liều 0,6-lmg/kgP đối với

Zeranon E Cấy cừu
Testosterol TS E Cấy Cừu non

137
Testosterol-
propionat
A Cấy Bê, Cừu non
Testosterol axetat
(TSA)
A Cấy Bê, cừu tơ
MetilTestosterol TS A Cấy Lợn
Trebolon axetat
(TBA)
A Cấy Bò tơ cái
Progesterol (PG) G Cấy Bò thiến, cừu
Menlengesterol
axetat (TBA)
A Cấy Bò tơ cái
TBA+estradiol 17 A/E Cấy Bò thiến, bê, lợn
TBA+zeranol A/E Cấy Bò thiến, bê, lợn
TBA+Hecxatrol A?E Cấy Bò thiến
TS+DES A/E Cấy Bò thiến, lợn lớn
MTS+DES A/E Cấy Bê, bò lớn, lợn
TSA+estradiol 17 A/E Cấy Bò thiến, bê
TS+ estradiol
benzoate
A/E Cấy Bê
PG+estradiol
benzoate
G/E Cấy Bò thiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status