HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH (Kỳ 3) - Pdf 16

HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH
(Kỳ 3)
BS LÊ TỰ PHƯƠNG THẢO

2/ Triệu chứng khách quan
a) Rung giật nhãn cầu (nystagmus): là triệu chứng chủ yếu
Rung giật nhãn cầu nhãn cầu do nguyên nhân tiền đình thường đánh theo
nhịp. Đó là cử động của nhãn cầu theo nhịp gồm sự nối tiếp nhau giữa hai pha:
pha chậm đưa nhãn cầu sang một phía (do tác động của hệ tiền đình), kế đến là
pha nhanh đưa nhãn cầu theo chiều ngược lại, đưa mắt về vị trí nghỉ ngơi (do tác
động của chất lưới cầu não).
Khi có triệu chứng rung giật nhãn cầu, chúng ta cần xác định hướng, chiều
và mức độ của nó.
· Hướng (direstion): Rung giật nhãn cầu tiền đình được gọi tên
theo hướng đánh nhanh vì chiều này được thấy rõ nhất khi khám lâm sàng.
Có thể là rung giật nhãn cầu ngang, dọc hoặc xoay tròn (cùng chiều kim
đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ), hoặc rung giật nhãn cầu hỗn hợp
(ngang –xoay tròn).
Hướng của rung giật nhãn cầu phụ thuộc vào vòng bán khuyên bị
kích thích, tức là phụ thuộc vào vị trí của đầu trong lúc khám bệnh. Rung
giật nhãn cầu được tạo ra lúc đầu là do sự di chuyển của nội dịch: pha chậm
của rung giật nhãn cầu đánh theo hướng của dòng nội dịch.
Chóng mặt là hiện tượng bù trừ theo hướng ngược lại: hướng pha
nhanh của rung giật nhãn cầu
· Chiều (sens): sang (P), sang (T) đối với nystagmus ngang, lên
trên, xuống dưới đối với nystagmus dọc, cùng chiều kim đồng hồ hoặc
ngược chiều kim đồng hồ đối với nystagmus xoay tròn.
· Mức độ:
Độ I: xuất hiện nystagmus có chiều đánh cùng chiều với phía mà mắt liêc
sang bên đó. Ví dụ nystagmus đánh sang (P) khi mắt liếc sang (P).
Độ II: nystagmus xuất hiện cả khi mắt ở đường giữa.

lên và hạ xuống chạm vào tay người khám lần nữa. Đối với người có rối loạn tiền
đình hai ngón trỏ không chạm tay người khám mà bị di lệch sang một bên, chúng
ta ghi nhận độ di lệch đó. Càng làm nhiều lần, góc độ di lệch có thể càng tăng.
Trong khi khám luôn chú ý chiều của hướng đi lệch, hướng tay lệch và
chiều chậm của nystagmus xem có sự tương hợp, sự hài hòa hay không.
c) Nghiệm pháp nhiệt: đây là một nghiệm pháp dễ thực hiện, giúp chúng
ta đánh giá được hoạt động của từng cơ quan tiền đình riêng biệt. Cho BN nằm
ngửa, đầu nâng cao ở góc 30
0
độ, giữ ống bán khuyên bên ở vị trí thẳng đứng, bơm
vào tai BN nước lạnh 33
0
hoặc nước nóng 44
0
trong thời gian khoảng 40 giây, thời
gian tối thiểu giữa hai lần thử là 5 phút, nước ấm ít gây khó chịu hơn nước lạnh.
Chú ý khám xem màng nhĩ có bị tổn thương trước khi làm nghiệm pháp nhiệt
(thủng màng nhĩ là chống chỉ định).
Ở BN tiền đình bình thường, kích thích nước lạnh xuất hiện rung
giật nhãn cầu với chiều chậm hướng về tai kích và chiều nhanh theo hướng ngược
lại.
Ở BN tổn thương tiền đình một bên: kích thích không có rung giật
nhãn cầu, hay xuất hiện rung giật nhãn cầu chậm, có biên độ yếu và thời gian ngắn
hơn so với bên lành.
d) Nghiệm pháp ghế quay (Bárány) : cho BN ngồi trên một ghế quay, đầu
cúi ra phía trước một góc 30 độ, cho ghế quay 10 vòng trong 20 giây, sau đó
ngưng lại, quan sát các phản ứng xuất hiện. Nếu chiều quay của ghế là sang bên
phải thì sau khi ngưng quay BN có rung giật nhãn cầu đánh ngang sang trái, khi
đứng ngã về bên trái, ngón tay lệch về bên trái.
Thường nghiệm pháp này dùng để khảo sát chức năng tiền đình hai bên ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status