Tài liệu PTMN: Những mẩu chuyện về Bác Hồ - Pdf 16

TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
NHỮNG CÂU CHUYỆN KỂ VỀ BÁC HỒ
1. EM ĐỘI VIÊN MẮT SÁNG
Hơ Nin năm nay lên chín rồi. Ngày em mới lên ba, mắt em đau nặng. Mẹ em đi
hái lá thuốc trong rừng sâu, lấy nước suối trên khe xa, đào rễ cây trong hang núi
đất hết lòng chạy chữa. Nhưng mắt em vẫn không khỏi. Em thành người khuyết
tật.
Cha Hơ Nin là du kích bị Pháp bắt giết trong một trận chống càn, nhà chỉ còn
mẹ và Hơ Nin, nên em phải vất vả. Em làm suốt ngày, ít nói, ít cười. Trong buôn
ai cũng khen em:
- Con bé Hơ Nin chăm làm, hát hay mà mù lòa, tội nghiệp!
Một tối, thiếu nhi trong buôn họp, đang bàn bạc sôi nổi thì em đến. Các bạn
đã giao hẹn với nhau ngày 19-5 vừa qua chưa làm lễ kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ
được. Ngày lễ mừng Bác sẽ làm chung với ngày Thiếu nhi Quốc tế sắp tới. Đến
ngày đó, mỗi đội viên phải có 50 cây chông. Hơ Nin chưa vào Đội. Em ngồi một
góc không ai để ý đến nên phải lên tiếng :
- Tôi có phải vót không các bạn?
- Vót cũng được, không cũng được.
Một bạn khác bảo:
- Thôi mày là con gái, con mắt mày không sáng, tìm cái cây trong rừng không ra,
cầm cán dao không chắc, đừng vậy!
Tan họp về nhà, Hơ Nin nhớ lại: Hôm qua anh bộ đội Ma Trang Lơng đến, nói
chuyện về Bác Hồ. Anh nói nhiều chuyện lắm: Bác Hồ suốt đời chịu khổ để lấy
lại nước cho đồng bào Kinh, đồng bào Thượng, Bác Hồ yêu nhân dân lắm. Bác
Hồ chỉ bảo mọi người cách đánh giặc ngoại xâm. Nhất là chuyện Bác Hồ yêu
thương chăm sóc trẻ em Anh nói tiếp: “Các em cứ ngoan ngoãn, cố gắng giúp
đỡ người lớn. Bao giờ cả nước độc lập, thống nhất, thế nào Bác Hồ cũng vào
chơi chưa biết chừng có em còn được Bác bế vào lòng, có em được vuốt râu,
được nhìn thấy mắt Bác sáng như sao trên trời”. Các bạn vui quá, bàn tán sôi nổi.
Hơ Nin hỏi mẹ:
- Bao giờ làm cái lễ mừng tuổi Bác Hồ và cái lễ của thiếu nhi nhiều nước hở mẹ?

huyện và biến thành một cuộc vận động lớn. Từ đó các anh bộ đội kể cho nhau
nghe chuyện em. Nhiều người không nhớ rõ tên. Họ chỉ gọi em là “Em đội viên
mắt sáng - Cháu ngoan Bác Hồ”
2. THÉP BÁC HỒ
Ngày ấy, công trường khu Gang thép được mở mang trên một vùng đồi núi Thái
Nguyên. Những cánh bộ đội chuyển ngành của từng sư đoàn kéo đến đầu quân.
Trong đầu mọi người đều hình dung và mơ tưởng một cách khác, những tưởng
nơi đây chí ít cũng đã thành nhà cửa đàng hoàng, có máy móc, có xe cộ. Ai dè,
một con đường cho ô tô vào cũng chưa có. Đồi núi nhấp nhô, xung quanh bạt
ngàn các thứ cỏ dại. Những nhát cuốc đầu tiên bổ xuống tóe lửa lại bật lên. Mọi
người từ chỗ chưng hửng, đến phát ngán.
Giữa lúc ấy, Bác Hồ về thăm. Bác về bất ngờ. Một ngày tháng sáu năm 1959,
nắng hầm hập như lửa. Anh em đang đào đất, dựng nhà, bận rộn với tre, với nứa
ngoài bến thì bỗng nghe tin Ban chỉ huy công trường triệu về có việc gấp. Tự
nhiên có người reo lên: “Hay là Bác Hồ về thăm?!”. Mọi người chẳng ai bảo ai,
cuốc xẻng trên vai quáng quàng chạy một mạch về phía một bãi rộng, sườn một
quả đồi đang san dở. Một chiếc ô tô đen, bám đầy bụi đường vừa đỗ, anh em đã
ùa tới. Hàng trăm, hàng nghìn người vây đặc kín quanh chiếc xe. Bác Hồ từ cửa
xe hiện ra râu tóc đều bạc phơ, mặt hồng hào. Bác mặc bộ quần áo ta, màu gụ,
chiếc áo hở khuy cổ, để lộ lần áo lót trắng trông vừa khỏe mạnh vừa phóng
khoáng. Anh em công nhân hò reo, hoan hô vui sướng. Người xúm đông, xúm đỏ,
Bác nhích lên một cách khó khăn. Những người được ở gần Bác nhất cố sức lấy
tay cản mọi người đang ùa tới, lấy chỗ cho Bác đi.
Sườn đồi cao, anh em phải kéo, nâng Bác lên. Nắng quá. Có mấy anh chạy đi
ngay kiếm mấy tàu lá cọ còn tươi xòe che nắng cho Bác. Bác giơ tay cho chúng
tôi trật tự rồi bắt đầu nói chuyện:
TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
- Công trường của các cô, các chú rất rộng lớn. Sau này sẽ có tới ba vạn người tới
ở. Thế mà bây giờ các cô, các chú mới có mấy nghìn người. Như vậy các cô các
chú có cái vinh dự là người đi trước.

- Thằng đế quốc to lù lù, có máy bay, đại bác, xe tăng, tầu bò, các cô các chú còn
đánh được nó, lẽ nào các cô, các chú lại chịu thua mấy con ruồi.
Cuối cùng, Bác nói:
- Hôm nay, Bác không đi thăm khắp công trường được. Bác nhờ các cô, các chú ở
đây chuyển lời hỏi thăm của Bác đến các cô các chú vắng mặt.
Tiễn Bác đi rồi mà lòng chúng tôi còn ngẩn ngơ, bàng hoàng như vừa qua một
giấc mơ. Chúng tôi bàn tán, khoe với nhau những gì mình được thấy ở Bác, suy
nghĩ không dứt về những lời Bác dạy. Nhưng trước nhất, chúng tôi thấy có cái vẻ
vang là có đi xây dựng khu gang thép mới được gặp Bác Hô, trong một kỷ niệm
thắm thiết như vậy.
TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
3. BỐN CÂU THƠ LỊCH SỬ RA ĐỜI NHƯ THẾ ĐẤY
Sau khi biên giới Việt - Trung được giải phóng, con đường số ba của Bắc Cạn trở
thành mạch máu của cuộc kháng chiến. Các đơn vị thanh niên xung phong của
miền xuôi và địa phương bám chắc trên mặt đường từng khúc. Ban ngày, giặc
Pháp bỏ bom phá cầu đường, ban đêm thanh niên và nhân dân lại ra sửa cho xe
đi.
Đêm ấy, trời tối lắm, đơn vị Liên phân đội thanh niên xung phong Một được
phép nghỉ để chuẩn bị ra mặt đường vào lúc gần sáng. Mọi người sửa soạn đi ngủ.
Dãy lán của các chị thanh nữ thỉnh thoảng còn vọng ra tiếng hát. Mấy dãy nhà của
nam giới cũng đã tắt đèn nhưng vẫn còn tiếng nói thì thầm, chốc chốc lại có tiếng
ai cười giòn giã. Bỗng một đồng chí cán bộ Ban chỉ huy Liên phân đội chạy qua
giữa hai dãy nhà nói to:
- Các cậu ơi, dậy liên hoan đi.
Bao nhiêu tiếng phản đối từ hai dãy nhà đáp lại:
- Ông chỉ huy nhà tôi hôm nay lạ thế ?!
Đồng chí cán bộ vào từng giường nằm của anh em mà nói nhỏ với mọi người:
- Có cán bộ Trung ương đến thăm chúng ta đấy, các đồng chí ra nghe nói chuyện
chung.
Mọi người hớn hở tung chăn, xuống giường. Sẵn củi nứa, mỗi đồng chí mang

lại thì không còn nhận ra đâu là miếng vải may từ lúc đầu tiên nữa.
Người về nước trong thời điểm đó và chọn hang Cốc Bó làm nơi trú ẩn. Cuộc
sống của Bác kham khổ đạm bạc cũng chỉ cháo ngô và rau rừng như những đồng
bào quanh vùng. Thấy Bác đã có tuổi, vất vả ngày đêm, lại phải ăn cháo ngô sợ
không đủ sức khoẻ nên các đồng chí đã bàn nhau mua gạo để nấu riêng cho Bác.
Biết vậy Bác đã kiên quyết không đồng ý. Có lần ngô non xay để lâu ngày mới
dùng đến, nấu cháo bị chua, các chú cán bộ đề nghị Bác cho nấu cháo gạo để Bác
dùng, Bác vẫn không nghe. Bác hỏi anh em:
- Có cách nào làm cho bắp non khỏi bị chua không?
Mọi người trả lời:
- Nếu rang lên thì có thể ăn được nhưng không ngon.
- Không ngon cũng được, thế thì rang lên mà ăn, không nên bỏ phí. Một hạt
bắp lúc này cũng quí.
Đầu tháng 4-1941, Bác và các cộng sự chuyển sang sống ở lán Khuổi Nặm.
Có chú bẫy được một chú gà lôi. Mọi người trầm trồ khen con gà đẹp quá và
muốn giữ lại làm cảnh. Bác bảo:
- Nuôi gà lôi giải trí cũng thích, nhưng hiện nay lương thực rất thiếu thốn,
cơm gạo chúng ta còn chưa đủ ăn thì các chú lấy gì để nuôi gà cảnh ?
Anh em thưa với Bác:
- Chúng cháu sẽ bắt sâu bọ để nuôi gà.
Bác đồng ý, nhưng chỉ được vài ngày sau con gà lôi gầy sút đi. Thấy vậy Bác
hỏi:
- Bây giờ chúng ta giải quyết thế nào đây ?
Biết ý, anh em thưa:
- Vậy xin phép Bác cho chúng cháu thịt gà ạ.
Bác nhất trí. Anh em hớn hở vì nghĩ hôm nay sẽ được cải thiện một bữa ra trò.
Nhưng khi thịt gà, Bác chỉ cho phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn tất cả
băm thật nhỏ cho nhiều muối và ớt rang mặn lên để vào ống tre ăn dần trong các
bữa sau. Bác còn dặn, nhớ để phần cho những chú đang đi công tác cơ sở chưa về.
Chỉ một miếng ăn nhỏ lạ miệng, Người cũng không quên anh em vắng nhà.

trong sinh hoạt hàng ngày không thể thiếu được của Bác.
Thời gian Bác còn khỏe, Người đọc báo, bản tin vào ban ngày, các buổi tối sau
9 giờ Người đọc sách. Bác có thói quen khi đọc, ngón tay đưa theo dòng, mắt dõi
theo, chỗ nào có vấn đề chú ý thì dừng tay ghi chép hoặc đánh dấu để dễ nhận biết
những chỗ cần chú ý, những số liệu và thông tin cần xử lý. Đọc báo, thấy gương
người tốt muốn thưởng Huy hiệu, Bác dùng bút bi hoặc bút chì màu đỏ khuyên
vào. Chỗ nào cần lưu ý, Bác đánh dấu gạch chéo (/); đánh dấu bằng chữ X và
gạch chéo (X/) là chú ý dòng; (!) là lạ; có vấn đề chưa rõ ràng, còn nghi ngờ,
Người đánh dấu chấm hỏi (?) và yêu cầu văn phòng xác minh lại. Đoạn nào cần
xem kỹ, Bác đánh dấu gạch chéo và chấm phẩy (/;). Đã xem xong, Bác viết chữ
V Các đồng chí phục vụ cứ nhìn vào các ký hiệu đó là hiểu và thực hiện theo ý
của Người. Bác cũng hay dùng chữ Hán để đánh dấu. Chữ Hán viết dọc, những
chỗ lề nhỏ, viết chữ Hán không đè lên chữ của sách báo, quan trọng hơn là chữ
Hán giữ được nội dung mà Bác lưu ý. Có những lúc Bác trích tư liệu vào cuốn sổ
nhỏ cũng bằng chữ Hán, những tư liệu này Bác sử dụng để viết báo.
Tuổi Bác ngày một cao, để bảo vệ giữ gìn đôi mắt của Người, Văn phòng Phủ
Chủ tịch cử các chú Vũ Kỳ, Cù Văn Chước, Lê Hữu Lập đọc sách báo cho Bác
nghe. Người sau này gắn bó nhiều nhất với Bác là chú Cù Văn Chước (từ 1962
cho đến khi Bác ốm nặng). Chú Chước thường đọc sách, báo và các bản tin của
Thông tấn xã và Bộ Ngoại giao, được Bác tín nhiệm cao. Để cho Bác đỡ phải
nghe nhiều, chú Chước thường đọc tóm tắt nêu những ý chính những vấn đề quan
TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
trọng nhất. Chú đọc rõ ràng, truyền cảm nhất là khi tuổi Bác đã cao, thính giác
suy giảm thì ngữ điệu phải thật phù hợp, đòi hỏi người đọc phải nhạy cảm và hiểu
ý của Bác.
Thường thì mỗi ngày chú đọc phục vụ Bác vào các buổi sáng, trưa, chiều, tối.
Ngày chủ nhật đọc vào buổi sáng và tối, và chỉ đọc các báo địa phương gửi biếu
Bác. Qua các tin bài báo địa phương phản ánh, Bác phát hiện ra những gương
người tốt việc tốt, yêu cầu văn phòng xác minh và tặng Huy hiệu. Khi đọc báo
vào buổi tối, chú Chước chọn những vấn đề có nội dung nhẹ nhàng để Bác nghe

Một chiếc thắt lưng bằng da, bằng dây dù cũng không đắt hơn một miếng vải là
bao. Nhưng vấn đề ở đây: Cái quí báu trong nhân cách của Bác là tính cách luôn
hy sinh, cái riêng bao giờ cũng là tối thiểu, cái dành cho sự nghiệp chung bao giờ
cũng được ưu tiên tối đa. Phẩm chất trong sáng thể hiện thường trực trong những
cử chỉ của Bác, dù nhỏ nhất. Thời điểm đó, sau chiến dịch Điện Biên Phủ, thắt
TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
lưng chiến lợi phẩm thu được rất nhiều, nhưng Bác vẫn chỉ tiếp tục dùng chiếc
thắt lưng quen thuộc cũ kỹ của mình.
7. GIẢN DỊ VÀ TIẾT KIỆM
Bà Nguyễn Thị Liên, nguyên cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch, kể lại rằng: Khi
làm việc ở Văn phòng, đôi khi bà còn đảm nhận việc khâu, vá quần áo, chăn,
màn, áo gối cho Bác. Công việc này giúp bà có điều kiện được gần Bác và học tập
được rất nhiều, nhất là đức tính giản dị, tiết kiệm. Áo Bác rách, có khi vá đi vá lại,
Bác mới cho thay. Chiếc áo gối màu xanh hoà bình của Người thường được chú
Cần (người phục vụ Bác) đưa bà vá đi vá lại. Cầm chiếc áo gối của Bác, bà rưng
rưng nước mắt. Bà nói với chú Cần thay áo gối khác cho Bác dùng nhưng Bác
chưa đồng ý. Người vẫn dùng chiếc áo gối vá.
Những năm tháng giúp việc ở Văn phòng của Bác, tôi (Nguyễn Thị Liên- TNTP)
có những kỷ niệm không bao giờ quên.
Bà kể rằng: Ở Việt Bắc, có một buổi Bác đi công tác về muộn, về qua Văn phòng,
Bác nghỉ lại một lát vì mệt. Anh Hoàng Hữu Kháng, bảo vệ của Bác nói với bà:
- Bác mệt không ăn được cơm. Cô nấu cho Bác bát cháo.
Bác đang nằm nghỉ nghe thấy thế liền nhỏm dậy bảo:
- Cô nấu cháo cho Bác bằng cơm nguội ấy, vừa chóng chín, vừa tiết kiệm được
gạo, khỏi bỏ phí cơm thừa.
Câu chuyện bà kể khiến mọi người đều xúc động và thương Bác quá chừng. Bác
thật giản dị và tiết kiệm, chắt chiu như người cha lo cho một gia đình lớn, như
cảnh nhà đông con mà còn túng thiếu.
Chiếc áo gối vá, bát cháo nấu bằng cơm nguội của vị Chủ tịch Nước có tác động
lớn đến suy nghĩ của mỗi con người. Nhất là hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang

Chữ “thật tốt” và chữ “khiêm tốn” được bổ sung vào 2 câu cuối, nên mỗi câu đều
có 6 chữ.
Sinh thời, chú Vũ Kỳ - Thư ký của Bác cho biết: “Sở dĩ như vậy vì gần đến cuối
năm 1965, để chuẩn bị phần thưởng cho giáo viên và học sinh vào cuối năm học,
Bác thấy 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng từ năm 1965 trở về trước, 3 câu đầu
mỗi câu có 6 chữ còn 2 câu cuối mỗi câu chỉ có 4 chữ, như vậy không cân đối.
Bác đã suy nghĩ và bổ sung thêm cho mỗi câu đủ 6 chữ”.
Đặc biệt, ở câu thứ 5, Bác thêm chữ “Khiêm tốn” vì từ năm 1965 trở đi, đế quốc
Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh, ném bom bắn phá miền Bắc. Nghe theo tiếng
gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai để đền
đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt” nên trong cả nước đã xuất hiện ngày càng
nhiều gương “Người tốt việc tốt” ở mọi lứa tuổi. Ở miền Bắc xuất hiện nhiều
gương thiếu nhi dũng cảm cứu người, cứu hàng; miền Nam xuất hiện nhiều gương
Dũng sỹ diệt Mỹ. Nhưng Bác không muốn các em tự kiêu, mà muốn các em
khiêm tốn, vì đức khiêm tốn sẽ giúp các em tiến bộ mãi. Bác Hồ còn đánh giá rất
cao đức khiêm tốn ở các em. Người đã nói đại ý rằng: “Ở nhiều nước, người ta
giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy, thế mà ở Việt Nam ta các cháu bé đã biết sống như
thế nào Có cháu lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn sảy chân ngã xuống ao, nếu
chạy về gọi người lớn thì bạn chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái
chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn “bám vào đây, bám vào đây”. Cháu tuy nhỏ tuổi
mà biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại
khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Văn minh chiến
thắng bạo tàn. Xã hội ta văn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu
bé như vậy ”.
Và 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng đã được phổ biến rộng khắp trong các
trường học ở Việt Nam. Nghe theo lời dạy của Người, thiếu niên, nhi đồng khắp
nơi đã hăng hái thi đua tham gia phong trào “Hai tốt”, phong trào “Thiếu nhi làm
nghìn việc tốt”. Chính những đóng góp nhỏ bé của các em đã góp phần xứng đáng
vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự nghiệp dựng xây đất nước.
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, 5 điều Bác dạy thiếu niên nhi đồng

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn
điều lên chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12- bí
danh của Chủ tịch Phủ - Thủ tướng phủ tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương,
Tuyên Quang.
Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang
đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời
sáng.
Tổ ông Cải có 6 người, chia thành từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì
bỗng thấy Bác đi tới. Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc
đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: “Các
chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng
đấy?”.
Bấy giờ, ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa. Nhưng luống cuống cưa
mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải- Quang: “Các chú phải
một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới
nhanh được”.
TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
Bác nhìn sang cặp Tước- Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt
qua đường. Người nói vui, thân mật: “Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây
này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc
một người nâng mạch cưa lên”.
Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra
hiệu. Bác đến bên vỗ vai: “Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú
cho nhanh, càng đúng hơn”.
Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối
đi nhỏ.
11. CHUYỆN VỀ 3 CHIẾC BA LÔ
Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác đi công tác, có hai cán bộ đi
cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai chú định mang hộ ba lô cho Bác, nhưng Bác nói:
- Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang

Thường là đi công tác, đến bữa, Bác cho dừng xe, chọn nơi vắng, mát, sạch, Bác,
cháu mang cơm ra ăn. Làm việc xong, Bác chọn giờ ra về để kịp ăn cơm “ở nhà”.
Nếu không, lại có cơm nấu bữa thứ hai mang theo. Chỉ khi nào ở đâu, công tác lâu
Bác mới chịu “ăn” cơm ở địa phương. Bao giờ Bác cũng dặn “chủ nhà”:
- Đoàn Bác đi có từng này người. Nếu được, chỉ ăn từng này, từng này
Dù chủ nhà có dọn “cỗ” ra, Bác cũng có cách riêng của Bác. Bác nói với anh em:
- Bác cháu ta chỉ ăn hết món này, món này thôi. Còn món này để nguyên.
Nhà chủ thiết tha mời Bác dùng thử món “cây nhà lá vườn”, Bác cũng chỉ gắp vào
bát anh em và bát mình mỗi người một miếng rồi lại xếp ngay ngắn đĩa thức ăn
ấy, kiên quyết để ra ngoài mâm, người ngoài nhìn vào thấy đĩa thức ăn vẫn như
nguyên vẹn. Bác nói với cán bộ:
- Người ta dọn ra một bữa sang, Bác cháu mình có khi cũng chẳng ăn đâu hoặc ăn
chẳng hết. Nhưng đi rồi để lại cái tiếng: Đấy, Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế
này, thế nọ, cũng điều động người này, người nọ từ giao tế sang, mất thời gian.
Thế là, tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi, thịt
Cứ ăn no rồi đến làm việc.
13. CHÚ LÀM NHƯ THẾ LÀ KHÔNG ĐƯỢC
Vào khoảng năm 1947 bác sĩ Chánh được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe Bác
Hồ. Lần đầu tiên đến gặp Bác, bác sĩ thấy Bác đang nằm trên võng ở cửa đình
Hồng Thái. Thấy bác sĩ đến, Bác ngồi dậy hỏi:
- Chú đi đâu đấy?
- Thưa Bác, cháu là bác sĩ được phân công sang phục vụ Bác.
- Bác không ốm đâu. Chú xuống Văn phòng, chỗ chú Phan Mỹ mà ở và chăm
sóc sức khỏe cho các chú ở dưới đó.
Ngày kháng chiến ở với Bác, bác sĩ Chánh thấy Bác ít bị ốm đau. Lần Bác bị sốt
rét, Bác mời bác sĩ Chánh lên thăm bệnh cho Bác. Khi thấy Bác bị sốt cao, bác sĩ
đang tính xem nên dùng thuốc gì thì Bác đã bảo:
- Bác “ra lệnh” cho chú chữa hai hôm là phải hết sốt!
Bác sĩ Chánh lo quá. Bác sốt cao như thế chữa hai ngày thì khỏi hẳn làm sao
được. Sau khi bác sĩ tiêm cho Bác, cơn sốt hạ dần Bác cười nói:

- Đáng lẽ ra chú nên cho xe dừng. Ta lăn hòn đá xuống vực rồi tiếp tục đi. Có lâu
cũng chỉ dăm ba phút, chứ không phải dừng lại đến gần nửa tiếng mà lại giúp các
xe đi sau khỏi gặp nạn. Chú đã “bỏ một mâm mà chỉ lấy một đĩa” đấy!
Tôi nhận lỗi và xin hứa với Bác rút kinh nghiệm, sửa chữa cách nghĩ, cách làm
Cứ như ý tôi sáu chữ Bác dạy “Bỏ một mâm lấy một đĩa” có thể áp dụng trong tất
cả công tác cách mạng. Phải nghĩ tới cái lớn, cái lâu dài, cái chung. Phải cẩn thận
chứ không nên vội vàng, hấp tấp, nghĩ tới cái nhỏ, cái hẹp, cái thiển cận ”
15. CỜ CỦA TA PHẢI BẰNG CỜ CÁC NƯỚC
Bác An Quân, một cựu chiến binh, kể lại:
“Vào khoảng ngày 23 đến 24-8-1945, tôi được lệnh đón đoàn cán bộ cấp trên về
địa phương. Thôn tôi ở bên bờ sông Hồng. Cờ đỏ sao vàng bay trên thôn xóm hai
bên sông. Dưới sông, thuyền xuôi ngược, cờ bay trên đỉnh cột buồm, tạo nên
không khí quật khởi đẹp lạ thường.
Chiếc thuyền đưa đoàn cán bộ tới. Chúng tôi nhận ra trong đó Cụ Hồ. Trông Cụ
gầy yếu xanh xao, tay cầm chiếc gậy song nhỏ, vai đeo túi dết màu chàm. Sau vài
phút chào hỏi, chúng tôi mời Cụ và đoàn cán bộ về trụ sở tự vệ thôn. Tới cổng
thôn, ông Cụ dừng lại xem các khẩu hiệu cách mạng kẻ trên tường. Chợt nhìn
thấy dãy cờ căng trước cổng thôn, Cụ bỗng hỏi:
- Sao các chú làm cờ của ta nhỏ hơn cờ của các nước đồng minh?
Một đồng chí thưa:
- Dạ, giấy đỏ và vàng nhân dân mua làm cờ nhiều quá nên thiếu! Vì muốn cho đủ
nên chúng cháu phải cắt nhỏ đi một chút ạ!
Cụ khẽ lắc đầu và bảo:
- Không nên! Các chú phải hiểu là cách mạng thành công, nước ta giành được
độc lập và đã ngang hàng với các nước, vì vậy cờ của ta phải bằng cờ các nước
khác. Có thế mới tỏ rõ chí tự cường, tự trọng của mình.
TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
Thấu hiểu ý nghĩa lời dạy của Bác, ngay sau đó, một đồng chí chúng tôi đã trèo
lên lấy cờ xuống để sửa lại
Tại một hội nghị quân sự, thấy một số cán bộ “sính chữ”, Bác thân mật nói: Một

- Chú chúc rượu bà con chưa ?
Anh nhà báo nhanh nhảu:
- Dạ thưa Bác, rồi ạ !
Bác nhìn bộ complet sang trọng của anh phóng viên và vuốt nhẹ cái cà-vạt của
anh, nhắc:
- Hôm nay, Bác tiếp khách toàn là bà con nông dân người dân tộc, chú làm báo
mà mặc thế này, thì gần gũi, tiếp xúc thế nào với bà con !
17. VIỆC NÀO DỄ NHẤT
Hồi ở chiến khu Việt Bắc, các cơ quan đóng sâu ở trong rừng, hằng tháng, mọi
người phải đi lấy gạo về ăn, có khi mất cả ngày mới được một chuyến, không phải
TrườngTHCS Tân Bình Tài liệu Tuyên truyền
không có người ngại. Một lần, Bác đi công tác qua một con suối, thấy rất đông
cán bộ, trong đó có nhiều trí thức, trên đường đi lấy gạo về, đang ngồi nghỉ. Bác
dừng chân hỏi:
- Đố các cô chú, trong nghề nông, việc nào làm dễ nhất ?
Mọi người đua nhau trả lời. Người bảo dễ nhất là gieo mạ, gặt hái; người thì cho
là xay lúa, giã gạo. Một bác sĩ giục Bác:
- Thưa Bác, Bác chấm cho ai trả lời đúng ạ?
Bác cười:
- Theo Bác, việc làm dễ nhất là đi đến kho lấy gạo về nấu ăn
Nghe Bác đáp, cả đoàn cùng cười vui và quên đi hết mệt mỏi nhưng ai cũng thấm
thía lời dạy của Người.
18. BÁC CŨNG CÓ GIẤY MÀ!
Chiến sĩ Lý Phúc Nha được đại đội trưởng phân công bảo vệ một khu vực
quan trọng trong địa điểm tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II năm
1951 tại Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Đại đội trưởng dặn: “Khu vực
đơn vị ta bảo vệ là cả con người, thì nơi này là bộ óc. Mặc dầu các đại biểu đã
có giấy ra vào và phù hiệu, nhưng phải kiểm tra thật kỹ để bảo đảm nghiêm
mật”.
Lúc sau, Nha thấy một cụ già người cao, đội nón cũ, quần xắn đến đầu gối, chân

Từ chỗ Bác trở về, Nha sung sướng và cảm động, nhưng cứ thương đại đội trưởng
và chính trị viên vì mình mà bị phê bình.
19. TÀI NGOẠI GIAO CỦA BÁC
Bác Hồ là người xây dựng và vun đắp rất nhiều cho sự lớn mạnh của ngành
ngoại giao Việt Nam. Dưới đây là hai câu chuyện kể của nguyên Bộ trưởng
Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên và nguyên Đại sứ Việt Nam tại năm nước
Bắc Âu Phạm Ngạc về tài ngoại giao của Bác Hồ.
Bác Hồ với Thủ tướng Ấn Độ Neru - Chuyện của Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ lần thứ hai. Trong cuộc mít
tinh có hàng vạn người dự tại Red Fort (Thành Đỏ) ở Thủ đô Delhi, các bạn Ấn
Độ làm sẵn một cái ghế cho Bác Hồ ngồi trên bục danh dự. Chiếc ghế trông như
một cái ngai vàng, rất lớn. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ ngày ấy là J. Neru thì
chỉ ngồi một chiếc ghế bình thường như mọi người khác. Khi Thủ tướng Neru
mời Bác Hồ ngồi vào chiếc ghế đó, Bác dứt khoát từ chối. Thấy vậy, Thủ tướng
Neru nói: “Ngài là khách danh dự của chúng tôi, việc Ngài ngồi lên chiếc ghế này
chính là niềm vinh dự của chúng tôi”. Chứng kiến điều này, hàng vạn người dự
mít tinh phía dưới quảng trường đứng cả lên xem. Hai vị lãnh tụ của hai nước cứ
nhường nhau, chẳng ai chịu ngồi lên chiếc ghế lớn ấy. Cuối cùng, Thủ tướng Neru
đành gọi người cho chuyển chiếc ghế đi, thay bằng một chiếc ghế khác giản dị
hơn. Thấy vậy, hàng vạn người dân Ấn Độ dưới quảng trường rất cảm kích vỗ tay
vang dội và hô rất to: “Hồ Chí Minh muôn năm ! Hồ Chí Minh muôn năm !”.
Chuyện này được người Ấn Độ sau đó kể lại rất nhiều, trở thành một huyền thoại
của họ về Bác Hồ.
Trong chuyến thăm này, trong một bữa tiệc do Thủ tướng Neru chiêu đãi Bác Hồ
có món thịt gà địa phương rất nổi tiếng. Người Ấn Độ khi ăn cơm không dùng
thìa, dĩa mà dùng 5 ngón tay để bốc thức ăn. Cả Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ
cũng muốn dùng tay bốc thức ăn. Nhưng tại bữa tiệc quốc tế người ta phải dùng
dao, thìa, dĩa cho lịch sự. Khi món thịt gà được đưa ra, các quan khách Ấn Độ có
vẻ không quen dùng dao, dĩa. Bác Hồ rất tinh ý, Người nói với Thủ tướng Neru:
“Thịt gà phải ăn bằng tay thì mới ngon, chứ còn ăn bằng thìa dĩa thì khác nào nói


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status