1- Một số vấn đề về phân bố sản xuất.lí thuyết về phân bố sản xuất.
1. Khái niệm phân bố sản xuất
Phân bố sản xuất, theo tầm vi mô, chính là việc các doanh nghiệp lựa chọn, định vị
điểm xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh (xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế
xuất…) cho doanh nghiệp mình với mục tiêu tối đa hiệu quả sản xuất – kinh
doanh.
Đứng trên góc độ vĩ mô, phân bố sản xuất là sự điều tiết lực lượng sản xuất cân đối
trong từng ngành, trong từng vùng, hướng dẫn đầu tư đúng định hướng phát triển
không gian kinh tế cho từng vùng và cho cả nước thông qua các quyết định, các
chính sách, biện pháp phân bổ và quy hoạch tổng thể của cơ quan chính quyền các
cấp.
2. Các nguyên tắc chung về phân bố sản xuất ở Việt Nam
2.1 Nguyên tắc gần tương ứng
Đó là việc xem xét những yếu tố thường xuyên tác động đến chi phí đầu vào và
đầu ra của việc sản xuất. Xem xét gần hay xa chính là xem xét những khoảng
cách cần thiết cho mỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả: Giúp cho
nhà doanh nghiệp có thể sản xuất nhanh, nhiều với giá thành thấp nhất, có nhiều
khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nó mang lại lợi ích cho cả nhà
sản xuất và người tiêu dùng.
Nguyên tắc này yêu cầu khi lựa chọn địa điểm phân bố sản xuất, cần lưu ý:
- Có gần nguồn nguyên liệu hay không?
- Có gần nguồn nhiên liệu, năng lượng, nguồn nước hay không?
- Có gần nguồn lao động, thị trường?
Lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc
- Giảm bớt chi phí vận tải xa và chéo nhau giữa nguyên liệu và sản phẩm, nghĩa là
loại bỏ một nguyên nhân làm tăng chi phí sản xuất, đội giá thành của sản phẩm.
- Tiết kiệm và sử dụng hợp lý các nguồn lực tự nhiên – kinh tế - xã hội trong vùng.
- Tăng năng suất lao động trực tiếp và năng suất lao động xã hội, mang lại lợi ích
cho nhà doanh nghiệp và cho nền kinh tế xã hội của vùng.
Thực hiện nguyên tắc
Để thực hiện nguyên tắc này, phải tính toán cụ thể, tỉ mỉ bằng những dự án có tính
với điều kiện của từng vùng, tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng theo từng
giai đoạn phát triển và định hướng phát triển chung của tổng thể nền kinh tế. Mọi
quốc gia đều muốn điều tiết sự phân bố các lực lượng sản xuất cân đối giữa các
vùng, các vùng kém phát triển vươn lên, đuổi kịp các vùng phát triển khác. Tuy
nhiên, nguồn lực luôn có hạn, những điều kiện về lợi thế so sánh như tài nguyên
thiên nhiên, vị trí địa lý hay nguồn lao động, quy mô lãnh thổ….của từng vùng
khác nhau là khác nhau. Vì vậy, cần kết hợp giữa việc ưu tiên phát triển vùng kinh
tế động lực và lan tỏa kinh tế phát triển các vùng có trình độ phát triển kém hơn.
Đặc biệt, ở những quốc gia và vùng có quy mô lãnh thổ lớn càng cần thiết xem xét
nguyên tắc này.
Lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc
2
Sử dụng được mọi nguồn lực trên mọi vùng của đất nước, phát huy lợi thế riêng
biệt của từng vùng, đặc biết là đối với những nguồn lực tiềm ẩn ở những vùng
chưa phát triển, khai thác và đầu tư phát triển tại những vùng miền núi, các vùng
trước đây chưa được quan tâm đầu tư… Từ đó góp phần làm giảm chênh lệch mức
sống, giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển sức sản xuất giữa các vùng.
Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội, cân đối lãnh thổ còn làm tăng cường khối
đoàn kết, thống nhất toàn dân, tạo điều kiện ổn định chính trị, tránh những xung
đột tạo ra do sự chênh lệch giữa các vùng, phát triển ổn định và bền vững cho tổng
thể nền kinh tế.
Thực hiện nguyên tắc
Nguyên tắc cân đối lãnh thổ yêu cầu có những biện pháp khuyến khích đầu tư phát
triển vào những vùng còn lạc hậu bên cạnh việc phát triển những vùng kinh tế
trọng điểm. Thông qua những biện pháp ưu đãi nhằm thu hút vốn và lao động có
trình độ về những vùng còn nhiều khó khăn. Đồng thời, ưu tiên phát triển và đầu
tư có trọng điểm , tạo ra những vùng kinh tế động lực thông qua chính sách đầu tư
có quy hoạch, phát triển cân đối giữa các vùng phải dựa trên sự kết hợp lợi ích
riêng của mỗi vùng vào định hướng phát triển chung của cả nền kinh tế: Vùng
thuận lợi có thể phát triển trước và tạo hiệu ứng lan tỏa giữa các vùng. Đặc biệt là
Bên cạnh sản xuất, kinh doanh, có sự kết hợp chặt chẽ giữa phân bố sản xuất với
quốc phòng nhằm tạo nền tảng ổn định cho sự phát triển bền vững. Kết hợp mục
tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường cũng là yêu cầu không thể thiếu, sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên cân đối giữa hiện tại và tương lai.
Thực hiện nguyên tắc
- Quy hoạch xây dựng mạng lưới đô thị rộng khắp trên tất các vùng trong cả nước,
hình thành các vành đai nông nghiệp bao quanh hoặc giãn cách giữa các khu công
nghiệp và đô thị lớn.
- Hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho vùng trên cơ sở phát hiện những điểm
mạnh, lợi thế của vùng và các nguồn lực nhỏ, phát triển đa dạng ngành sản xuất
kinh doanh có tỷ trọng hợp lý và hiệu quả cạnh tranh cao.
- Không nên tập trung quá mức các lực lượng kinh tế tại quá ít các khu vực mà nên
hình thành nhiều khu vực tập trung khác nhau trên những vùng rộng lớn của cả
nước
Tập trung hóa có mức độ theo lãnh thổ và quy mô hợp lý.
2.4 Nguyên tắc mở cửa và hội nhập
Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến tất cả các quốc
gia trên thế giới, tới tất cả các vùng kinh tế, các ngành và các doanh nghiệp, cơ sở
sẩn xuất kinh doanh. Vì vậy, khi quyết định phân bố sản xuất phải đặc biệt chú ý
những tác động của hội nhập và mở của. Bất kì ý định khép kín nền kinh tế đều
dẫn tới sự chậm phát triển, trì trệ và lạc hậu.
Lợi ích của thực hiện nguyên tắc
Mỗi nước phát huy được lợi thế so sánh trở thành điểm mạnh riêng, kết hợp được
nội lực và ngoại lực cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đuổi kịp với bạn bè
4
năm châu. Đặc biệt là với nước đang phát triển như Việt Nam, có thể vận dụng
những tiến bộ khoa học công nghệ, bài học phát triển kinh tế từ các quốc gia phát
triển, đi tắt đón đầu…
Thực hiện nguyên tắc phải biết lựa chọn những đối tác thích hợp, vận dụng một
cách hợp lý những kinh nghiệm phát triển nước ngoài vào trong nước phù hợp với
với các vùng khác, với cả nước và cả với nước ngoài. Sự phát triển của một vùng
không chỉ phụ thuộc vào tiềm lực sẵn có của vùng đó mà còn phụ thuộc rất lớn
vào nhu cầu ngoài vùng, của cả nước và của cả nước ngoài đối với vùng đó.
- Tính động: có thể thấy quá trình hình thành và phát triển vùng là cả một
quá trình lâu dài. Cơ cấu vùng được xác định hôm nay không phải là cố định, bất
biến mà luôn có sự thay đổi thường xuyên và liên tục. Vì vậy, quan điểm cho rằng
vùng là bất biến sẽ kìm hãm sự phát triển của vùng.
1.2 Phân loại vùng kinh tế
Tuỳ theo mục đích phân chia mà người ta đã chia thành các loại vùng kinh tế
như sau:
- Vùng kinh tế ngành: Vùng kinh tế ngành là một vùng ở đó phân bố tập
trung một ngành sản xuất nhất định (Ví dụ: vùng nông nghiệp, vùng công nghiệp,
vùng lâm nghiệp, vùng du lịch). Đây là cơ sở hoạch định chính sách phát triển và
phân bố của các ngành, là cơ sở để kết hợp kế hoạch hoá và quản lý theo ngành và
theo lãnh thổ.
- Vùng kinh tế tổng hợp: là một vùng kinh tế đa ngành phát triển một cách
nhịp nhàng cân đối. Nó là một phần tử cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Sự chuyên
môn hoá của vùng kinh tế tổng hợp được quy định bởi các vùng kinh tế ngành.
Vùng kinh tế tổng hợp lại bao gồm: Vùng kinh tế cơ bản và Vùng kinh tế
hành chính.
+ Vùng kinh tế cơ bản: Là vùng có diện tích rộng hơn, ngành sản xuất
chuyên môn hoá nhiều hơn và sự phát triển tổng hợp của vùng cũng phức tạp hơn
so với vùng kinh tế hành chính.
+ Vùng kinh tế hành chính: Là vùng không những có chức năng kinh tế mà
còn có chức năng hành chính. Vùng vùng kinh tế hành chính là kết quả của sự
thống nhất giữa quản lý kinh tế với quản lý hành chính, là những vùng hành chính
được xây dựng theo nguyên tắc kinh tế, ranh giới hành chính và kinh tế thống
nhất.
2. Thế nào là quy hoạch phát triển vùng
Để hiểu về quy hoạch vùng, trước hết ta phải tìm hiểu thế nào là phân vùng
+ Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ (đây là yếu tố tạo vùng cơ bản
nhất).
+ Yếu tố tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, sự phân bố của các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên khác (núi cao, sông rộng, sự khác biệt
của các miền tự nhiên…).
+ Yếu tố kinh tế: Các trung tâm công nghiệp, các thành phố lớn, các đầu mối
giao thông vận tải quan trọng, các cơ sở sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp rộng
lớn.
+ Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật: Tiến bộ kỹ thuật trong điều tra cơ bản,
thăm dò địa chất, tìm kiếm tài nguyên, đổi mới qui trình công nghệ sản xuất.
+ Yếu tố lịch sử - xã hội - quốc phòng: Dân cư và sự phân bố dân cư, địa bàn
cư trú của các dân tộc ít người, nền văn hóa của các dân tộc và các địa giới đã hình
thành trong lịch sử, các cơ sở sản xuất cũ, tập quán sản xuất cổ truyền, đặc điểm
chính trị, quân sự và các quan hệ biên giới với các nước.
- Phân vùng kinh tế phải dựa vào kết quả phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp
của đất nước.
2.1.3 Các nguyên tắc phân vùng kinh tế
Khi tiến hành phân vùng kinh tế cần phải tuân theo những nguyên tắc sau:
7
- Phân vùng kinh tế phản ánh trung thực tính chất khách quan của sự hình
thành vùng kinh tế; đồng thời phải phục vụ những nhiệm vụ cơ bản về xây dựng
và phát triển kinh tế quốc dân của cả nước.
- Phân vùng kinh tế phải dự đoán và phác hoạ viễn cảnh tương lai của vùng
kinh tế, kết hợp tính viễn cảnh với tính lịch sử.
- Phân vùng kinh tế phải thể hiện rõ chức năng cơ bản của nó trong nền kinh
tế cả nước bằng sản xuất chuyên môn hoá.
- Vùng kinh tế phải đảm bảo cho các mối liên hệ nội tại của vùng phát sinh
một cách hợp lý, để cho sự phát triển của vùng được nhịp nhàng cân đối như một
tổng thể thống nhất, có một tiềm lực kinh tế mạnh.
- Phân vùng kinh tế phải xoá bỏ những sự không thống nhất giữa phân vùng
thường từ 5 năm đến 15 năm.
Nội dung cụ thể của quy hoạch vùng gồm:
PHẦN I: Xác định mục đích, yêu cầu của đợt quy hoạch, nêu ra những vấn
đề cơ bản, quan trọng cần giải quyết trong giai đoạn quy hoạch nhằm tạo ra một
bước chuyển biến mới trong phát triển và phân bố kinh tế - xã hội trong vùng.
- Giới hạn phạm vi lãnh thổ sẽ tiến hành quy hoạch: tỉnh, thành phố, quận,
huyên, thị xã, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch nghi mát…
- Ấn định thời gian cho đợt quy hoạch: 5 năm, 10 năm, 15 năm tùy theo quy
mô vùng, trình độ phát triển, vấn đề giải quyết trong giai đoạn quy hoạch và mục
đích yêu cầu của đợt quy hoạch.
3- Các vấn đề về đô thị
1.1.Đô thị và quy hoạch đô thị
1.1.1. Đô thị
Khái niệm: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp,là trung tâm tổng hợp hoặc trung
tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của
một miền lãnh thổ, của một tỉnh ,của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh ,trong
huyện.
Về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định thành lập
Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
• Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng
liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh,
trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong
huyện.
• Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các
hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn
thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít
• Chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho mỗi vùng, mỗi khu vực
• Đầu tư hạ tầng kỹ thuật
• Phát triển và bảo tồn các di sản kiến trúc và thiên nhiên
• Phát triển bền vững của nhân loại.
Quy hoạch xây dựng đô thị ở Việt Nam bao gồm:
• Quy hoạch chung xây dựng đô thị
• Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị
10
• Quy hoạch xây dựng vùng
• Quy hoạch xây dựng điểm dân c ư nông thôn
Cơ sở của quy hoạch đô thị là hệ thống các tiêu chuẩn và các nguyên tắc tổ
chức xây dựng đô thị. Dựa vào hệ thống các nguyên tắc này, theo điều kiện thực tế
và chính sách, mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn; nhóm bốn đối tượng tác
động chính đến kết quả đồ án quy hoạch là: các nhà quy hoạch, các nhà quản lý,
các nhà đầu tư và những người trực tiếp chịu ảnh hưởng của quy hoạch đề xuất ra
các giải pháp, mục đích, thời gian và nguồn lực cụ thể để thực hiện.
1.2. Phát triển đô thị là một thực tế khách quan
Đô thị hoá và phát triển đô thị trên thế giới và khu vực như là một động lực
phát triển quan trọng trong lịch sử, hiện nay cũng như trong tương lai. Hệ thống đô
thị của mỗi quốc gia đều rất khác nhau. Nói chung chúng khác nhau ở các vấn đề
chủ yếu về địa lý, kinh tế, xã hội, bản sắc, văn hoá…
Tuy nhiên, chúng đều có điểm chung là sự đóng góp của hệ thống đô thị đó
trong quá trình đô thị hoá thật sự to lớn: nền văn minh đô thị, quy mô và chức
năng đô thị, không gian quy hoạch và kiến trúc đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị, kinh tế
đô thị,… không ngừng phát triển.
Sự phát triển đó đã đóng góp đó rất to lớn về phát triển kinh tế xã hội và đặc
biệt có ý nghĩa trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá của mỗi quốc gia,
mỗi vùng.
Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị trong
thời kỳ từ 1950 đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị từ 735 người năm
Quá trình hình thành và phát triển của các đô thị gắn liền với các phương thức
sản xuất xã hội, chính vì vậy, đô thị là thành tựu của con người mang tính kế thừa
và tính lịch sử.
Tuy nhiên, như la một quy luật, đô thị hoá cũng đem lại những tác động tiêu cực,
nhất là trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên.
1.3. Mô hình hóa sự phát triển đô thị
Mô hình hóa sự phát triển đô thị có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên
cứu và phát triển hệ thống đô thị. Thực tế có nhiều loại mô hình nhưng chỉ xin đưa
ra đây 3 mô hình được coi là cơ bản:
Mô hình làn sóng điện: do nhà xã hội học Ernest Burgess – Chicago đề xuất
1925
Thành phố chỉ có 1 trung tâm và 5 vùng đồng tâm:
o Khu vực trung tâm là khu hành chính hoặc thương mại dịch vụ
o Khu chuyển tiếp : dân cư có mức sống thấp, thương mại và công nghiệp
nhẹ đan xen nhau.
o Dân cư có mức sống trung bình.
o Dân cư có mức sống tương đối cao.
o Vùng ngoại ô.
12
Đặc điểm của mô hình: tất cả các khu vực đều có xu hướng mở rộng.Dân cư
thuộc tầng lớp thượng lưu và các khu công nghiệp có xu hướng chuyển ra khỏi
thành phố.Còn những lao động không có trình độ chuyên môn có xu hướng di
chuyển vào trung tâm để tìm việc, làm cho giá thuê ở trung tâm sẽ giảm dần.
Mô hình thành phố đa cực: do 2 nhà địa lý Haris & Ullman đưa ra năm
1945.Mô hình chủ yếu tính đến các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển
của phương tiện giao thông. Mô hình này rất linh hoạt và có tính đến vị trí địa
lý.Cơ sở xây dựng mô hình là thành phố có cơ cấu kiểu tế bào, cho phép xây dựng
nhiều trung tâm.
Mô hình phát triển theo khu vực: do chuyên gia địa chính Homer Hoyt đưa ra
1939.
phục vụ trực tiếp cho quá trình
sống, sinh họat của cộng đồng
dân cư trong vùng
Công trình các ngành
văn hóa, giáo dục, y
tế…
3 Môi trường
Công trình vật chất – kỹ thuật
phục vụ cho công tác bảo vệ
môi trường
Công trình xử lý chất
thải, nước thải, xử lý ô
nhiễm môi trường…
4 Thiết chế
Công trình vật chất – kỹ thuật
phục vụ trực tiếp và gián tiếp
cộng đồng dân cư
Viện, trung tâm, trường
đào tạo và nghiên cứu
khoa học, nghệ thuật,
các tổ chức chính trị xã
hội…
2. Đặc điểm
KCHT có một số đặc điểm sau đây:
−Tạo tiền đề thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người
dân và giảm đói nghèo;
−Công trình thường rải theo tuyến , hình thành hệ thống có nhiều cấp và có
quan hệ liên ngành với KCHT khác;
−Có tuổi thọ lâu dài nhưng mục tiêu và giá trị sử dụng lại biến động theo
thời gian (KCHT có tuổi thọ thiết kế, tuổi thọ thực tế, tuổi thọ kỹ thuật,
lạc xuất hiện và phát triển không những trong khuôn khổ từng nước, mà còn trên
phạm vi quốc tế theo xu hướng toàn cầu hoá.Do đó đã hình thành kết cấu hạ tầng
vật chất của sự hợp tác quốc tế mới, đó là toàn bộ các bộ phận của các hệ thống
giao thông vận tải và thông tin liên lạc trong nước và nước ngoài, nhằm phục vụ
cho hoạt động kinh tế đối ngoại, cũng như các công trình và đối tượng phối hợp
15
với nhau, đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường xung quanh, sử dụng hợp ló các
nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác, đảm bảo thông tin liên lạc của cơ quan
khí tượng thủy văn, quản lí nhà nước, các cơ quan phục vụ xã hội và an ninh quốc
phòng… nhằm mục đích phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn
minh.
Phát triển kinh tế vùng bao giờ cũng đi đôi với việc đầu tư cơ sở hạ tầng,
nếu việc đầu tư đồng bộ được lên kế hoạch thì nó sẽ giúp cho phát triển kinh tế
của vùng một cách bền vững và hiệu quả.Việc ưu tiên tập trung đầu tư các công
trình hạ tầng có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội sẽ nhanh tạo ra sức
bật cho toàn xã hội, thúc đẩy quá trình đô thị hoá; đồng thời phát triển hạ tầng có
tính chiến lược lâu dài giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Phát triển kết cấu hạ tầng gắn liền với phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ
quốc phòng an ninh trên địa bàn theo từng giai đoạn, phù hợp với qui mô và tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế và từng ngành, lĩnh vực sẽ giúp kinh tế vùng phát triển
ổn định và an ninh xã hội được đảm bảo.
3.4. Ý nghĩa kết cấu hạ tầng:
Việc quản lý và phát triển kết cấu hạ tầng một cách khoa học và hợp lý có
một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Vì kết cấu hạ tầng là cơ sở nền tảng đảm bảo sự
phát triển bền vững của cả một quốc gia.Một quốc gia giàu mạnh, hiện đại và văn
minh phải có một kết cấu hạ tầng vững mạnh, tiện lợi, hiện đại và đầy đủ.
Nhóm chỉ tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng
o Các chỉ tiêu về phát triển giao thông trong vùng.
o Các chỉ tiêu về cung cấp năng lượng điện trong vùng
o Các chỉ tiêu về cung cấp nước sạch trong vùng.
Tỷ suất xuất cư= × 1000
Các tỷ suất này cho biết: trung bình cứ 1000 người dân của địa phương( xã/
huyện/ tỉnh/ nước/ châu) thì trong năm có bao nhiêu người đến và bao nhiêu
người đi.
Tỷ suất di cư thuần túy, ký hiệu là NMR:
Tỷ suất di cư thuần túy= tỷ suất nhập cư – tỷ suất xuất cư
3. Phân loại di cư
Phân chia di dân thành các hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích di
dân, phạm vi di dân, mô hình tổ chức di dân, quyết định di dân….
Theo mục đích di chuyển.
Căn cứ vào mục đích di cư, có thể phân thành hai loại:
- Di cư để sản xuất: đó là dạng di cư để phát triển nông nghiệp, công
nghiệp và các ngành nghề khác. Di cư xây dựng các vùng kinh tế mới ở nước
ta thuộc loại di cư này.
17
- Di cư phi sản xuất: như làm dịch vụ, học tập, các ngành phi sản xuất vật
chất khác.
Theo địa giới lãnh thổ
- Di cư trong nước: là di cư giữa các vùng trong phạm vi một nước. trong các
cuộc Tổng điều tra dân số Việt Nam có thể phân chia thành di cư nội vùng( 8
vùng địa lý – kinh tế) và ngoai vùng ( nội tình và ngoại tỉnh, nội huyện và
ngoại huyện)
- Di cư quốc tế: là di dân ra khỏi biên giới của một quốc gia, tức là di dân từ
nước này sang nước khác, như: di cư của dân tị nạn, xuất khẩu lao động, di cư
do kết hôn và đoàn tụ gia đình…
Theo hướng di cư
- Di cư nông thôn – thành thị
- Di cư nông thôn – nông thôn
- Di cư thành thị - nông thôn
- Di cư thành thị - thành thị
+ Tuyển mộ lao động
+ Điều lao động, thuyên chuyển công tác
+ Tổ chức các đội thanh niên xung phong
+ Tuyển sinh, phân phối học sinh tốt nghiệp các trường đại học, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề.
- Di dân tự do: có từ lâu theo hai hướng cơ bản nông thôn – nông thôn,
nông thôn – thành thị và trở thành xu hướng có tính quy luật của nền kinh tế thị
trường.
Di dân quốc tế: bao gồm hai hình thức
- Từ năm 1980: đưa người lao động đi làm việc, công tác có thời hạn ở
nước ngoài theo hiệp định của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài,
theo các hợp đồng cung ứng lao động giữa các tổ chức kinh tế Việt Nam với
các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước ngoài.
- Di dân theo diện HCR( ra đi có trật tự theo chương trình của LHQ về
người tị nạn) và tái hòa nhập những người hồi hương tự nguyện theo kế hoạch
hoạt động.
4. Nguyên nhân, đặc trưng của người di cư
Nguyên nhân:
Di cư là kết quả tương tác của “ lực hút” ở nơi đến và “ lực đẩy” ở nơi đi.
Các yếu tố tạo nên lực đẩy có thể là: thiếu đất, thiếu việc làm, thu nhập thấp,
khí hậu khắc nghiệt, thiếu cơ sở dịch vụ( y tế, văn hóa…). Ngược lại với các
tình trạng trên ở nơi đến sẽ tạo nên lực hút. Nguyên nhân chủ yếu di cư đến
một số đô thị lớn ở nước ta là:
- Khó khăn về kinh tế: Hà Nội: 52,7%, Tp Hồ Chí Minh: 12%( nam),
19,5%( nữ).
- Đoàn tụ gia đình:Hà Nội:14%,tp Hồ Chí Minh :12%(nam),19,5%(nữ)
Những nghiên cứu sâu hơn cho thấy:di cư không đơn thuần là giải pháp thoát
ly lao động nông nghiệp khổi nông thôn để nâng cao chất lượng cuộc sống.
19
Di cư có tổ chức đến cao nguyên Đắc Lắc :90,8% là có rừng đất để sản xuất.
nhân,trình độ học vấn và sức khỏe.
I. Tác động của di cư
1. Tác động tích cực
- Về kinh tế:
+ Góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động.
+ Phát triển kinh tế nơi đến.
20
+ Nâng cao tay nghề cho người di cư, tăng thu nhập cho những người di cư
và gia đình họ.
+ Góp phần xóa đói giảm nghèo. Cụ thể tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam giảm
từ 58% năm 1993 xuống còn 15,9% năm 2006.
- Tác động đến xã hội:
+ Nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn.
+ Thay đổi lối sống.
+ Nâng cao tính năng động cảu con người.
+ Có sự giao lưu văn hóa giữa những người ở nơi đến và những người bản
địa.
2. Tác động tiêu cực
- Tác động đến xã hội:
+ Áp lực về cơ sở hạ tầng ở các thành phố và các dịch vụ xã hội như nhà ở,
khám chữa bệnh, hệ thống điện nước và vệ sinh.
+ Người di cư dễ bị tổn thương đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
+ Người di cư phải sống trong điều kiện thiếu vệ sinh và không an toàn
+ Không đủ tiêu chuẩn để hưởng các chương trình hỗ trợ giảm nghèo dành
cho người dân sở tại (do vấn đề hộ khẩu).
+ Các tệ nạn xã hội ngày càng trầm trọng: ma túy, mai dâm, HIV,AIDS…
+ Trong gia đình có người di cư phải đối phó với vấn đề kinh tế xã hội và
gánh nặng tâm lý do thiếu vắng thành viên trong gia đình. Con cái họ cũng
phải chịu nhiều tác động từ hoạt động này.
- Tác động đến môi trường:
- Tạo ra một hệ thống các xóm phòng vệ trong các vùng quan trọng , góp phần
củng cố an ninh quốc phòng .
- Quy hoạch lãnh thổ bằng cách củng cố dần dần việc định cư các dân tộc thiểu
số đồng thời bảo vệ môi trường, và bằng cách tập trung các khu dân cư.
2. Quá trình triển khai di dân
Nhìn chung , một cuộc di dân có tổ chức có thể chia thành bốn giai đoạn :
- Giai đoạn chuẩn bị: trong giai đoạn đầu tiên của quá trình di dân, nhân dân
được thông báo về việc chuyển chỗ ở sắp tới( mục đích, khí hậu nơi chuyển đến,
điều kiện sống, …) . Việc chọn lựa người di cư được tiến hành trong số những gia
đình tự nguyện, tùy thuộc khả năng thành công của họ trong việc xây dựng cuộc
sống mới không quá khó khăn.
- Thủ tục di dời: trong giai đoạn này các thủ tục di dời được tiến hành.
- Di chuyển : các gia đình được nhận vé đi lại ( tàu hỏa hoặc ô tô khách ) và lộ
phí đi đường.
- Tiếp nhận và ổn định cuộc sống nơi đến: nơi đón tiếp sẵn sàng để tiếp nhận
như cung cấp chỗ ở tạm thời (cho từ 2-3 năm) , cơ sở hạ tầng ( trường học, trạm y
tế…). chính quyền địa phương giúp họ ổn định bằng cách cung cấp cho họ một số
sản phẩm ( thuốc men ,đồ nấu nướng,nông cụ…) và lương thực trong khoảng thời
gian từ 6 tháng cho tới 1 năm. Họ được trao quyền sử dụng một mảnh đất và được
nhận một khoản trợ cấp để làm đất và mua hạt giống; ngoài ra, Chính Phủ trợ cấp
một khoản vốn vay với lãi suất ưu đãi cho người di cư. Tiếp đó hộ gia đình đã trở
thành một đơn vị sản xuất , các hợp tác xã và trang trại của Nhà nước được cung
cấp các dịch vụ kỹ thuật.
22
Ngoài ra các hộ gia đình nhận được các khoản trợ cấp khác. Cụ thể từ năm
1992 ( nghị định số 327-CT ngày 15/9/1992 ) họ nhận được các khoản sau( viện
nghiên cứu kinh tế, 1997):
- Trợ cấp di dời để trả chi phí di chuyển, thuốc men, đồ dùng và dụng cụ sản
xuất , chỗ ở, các chi phí khác ; khoản trợ cấp trị giá 3,11 triệu đồng cho mỗi hộ gia
đình di cư từ Bắc vào Nam, 1,71 triệu cho mỗi hộ di cư nội vùng và 0.71 triệu cho
+ 0,9 triệu từ Trung Du Bắc Bộ và đồng bằng duyên hải các tỉnh Trung Bộ
chuyển đến cao nguyên Trung Bộ và vùng cao của từng tỉnh.
23
Những cố gắng này gắn liền với mục tiêu mở rộng đất canh tác: trong vòng 10-
15 năm, biến 5 triệu hecta đất hoang thành đất canh tác và tái phủ xanh 7 triệu
hecta đồi trọc; trong giai đoạn 1976-1980, mở rộng được 1,5 triệu hecta đất canh
tác( khai hoang 1 triệu hecta và cải tạo 0,5 triệu hecta) và phủ xanh 1,2 triệu hecta.
Kế hoạch 5 năm 1981-1985 đã đặt ra những mục tiêu khiêm tốn hơn, theo chiều
hướng giảm đi, có tính đến những khó khăn có thể gặp phải: với mục tiêu ban đầu
là 3-4 triệu người di cư, năm 1982 đã giảm xuống chỉ còn 2,5-3 triệu người, năm
1983 còn 2 triệu, và 1 triệu(và 600 nghìn hecta đất khai hoang). Trong giai đoạn
1986-1990, với mục tiêu đặt ra là 1,6 triệu người di cư và 400 nghìn hecta đất khai
hoang. Đồng thơi, việc di dân nội vùng được đặt lên hàng đầu( 80% dan di cư sẽ
được chuyển đến sống ở một nơi khác trong cùng tỉnh). Cuối cùng, mục tiêu 1
triệu người di cư được đặt ra cho giai đoạn 1991-1995.
- Chính sách di cư 2003-2010:
Ngày 16-9, Chính phủ ban hành Quyết định số 190/2003 về chính sách di dân,
thực hiện quy hoạch bố trí dân cư giai đoạn 2003 - 2010. Mục tiêu của chính sách
sắp xếp, ổn định dân cư ở các địa bàn cần thiết; đồng thời khai thác tiềm năng lao
động, đất đai để xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân.
Theo Quyết định này, đối lượng áp dụng chính sách nói trên gồm các hộ phải đi di
dân vì điều kiện sản xuất và đời sống quá khó khăn, bao gồm:
Hộ du canh du cư; hộ mất đất ở, đất sản xuất do thiên tai; hộ sống ở nơi đặc biệt
khó khăn thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt; hộ di dân đến khu vực kinh tế -
quốc phòng và hộ dân cần phải đưa ra khỏi các khu rừng đặc dụng; hộ di dân đến
các xã biên giới, hải đảo; cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang, thanh niên
xung phong, trí thức trẻ đang làm nhiệm vụ ở các vùng dự án di dân, có nhu cầu
đưa gia đình (bố mẹ, vợ hoặc chồng, con) đến định cư lâu dài hoặc lập gia đình
mới và tự nguyện định cư lâu dài tại vùng dự án; hộ tự nguyện di dân đến các
vùng kinh tế mới để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm
quản lý, tổ chức thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh, đảm bảo hiệu quả về hỗ trợ và
đầu tư nhằm tạo điều kiện để người dân sớm ổn định sản xuất và đời sống tại nơi
định cư mới; sớm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm theo pháp luật những
hành vi lừa đảo, dụ dỗ đồng bào rời bỏ quê hương di cư tự do gây hậu quả xấu
hoặc vi phạm pháp luật.
6 - Thu hẹp khoảng cách phát triển vùng
I. Những nội dung chính về sự mất cân bằng không gian
25