BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Báo cáo
"Các loại hình khoáng sản và các phương pháp tìm
kiếm và chuẩn đoán khoáng sản thiếc"
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ KHOÁNG SẢN THIẾC
Chương I: Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc
I.1. Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc trên thế giới 6
I.2. Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc ở Việt Nam 6
Chương II: Tổng quan về thiếc
II.1. Tính chất 8
II.2. Đặc điểm khoáng vật 8
II.3. Đặc điểm địa hóa 12
II.4. Kinh tế nguyên liệu khoáng 13
II.5. Công dụng 13
Phần 2: NGUỒN GỐC, ĐIỀU KIỆN THÀNH TẠO VÀ CÁC LOẠI HÌNH
KHOÁNG SẢN THIẾC
Chương III. Các kiểu nguồn gốc và kiểu mỏ công nghiệp của khoáng sản thiếc
III.1. Đặc điểm địa chất các mỏ thiếc 16
III.2. Các kiểu mỏ khoáng. Liên hệ trên thế giới 17
III.3. Các kiểu công nghiệp. Liên hệ trên thế giới 28
III.4. Các kiểu mỏ khoáng và kiểu công nghiệp ở Việt Nam 29
Phần III: CÁC TIỀN ĐỀ, DẤU HIỆU TÌM KIẾM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
TÌM KIẾM THIẾC
Chương IV: Các tiền đề tìm kiếm
IV.1. Tiền đề magma 38
IV.2. Tiền đề cấu trúc – kiến tạo 40
IV.3. Tiền đề nguồn biến chất – nhiệt dịch 41
IV.4. Tiền đề địa mạo 42
Chương V. Các dấu hiệu tìm kiếm
Chương X. Các tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm
X.1. Các tiền đề tìm kiếm 99
X.1.1. Tiền đề magma 99
X.1.2. Tiền đề cấu trúc 99
X.2. Các dấu hiệu tìm kiếm 100
X.2.1. Vết lộ thân quặng 100
X.2.2. Đới đá biến đổi 100
X.2.3. Dị thường địa vật lý 100
X.2.4. Dị thường địa hóa 101
X.2.5. Dị thường trọng sa 103
Chương XI. Các phương pháp tìm kiếm và khối lượng thực hiện
NHẬN XÉT
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN 1
TỔNG QUAN VỀ KHOÁNG SẢN THIẾC
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TÌM KIẾM – KHAI THÁC THIẾC
I.1. Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc trên thế giới
Thiếc là một trong những kim loại đầu tiên mà loài người đã phát hiện được. Việc sử
dụng nó làm hợp kim với đồng đã trải qua một thời kì lâu dài và quan trọng trong thời đại đồ
đồng. Đồng đen cổ nhất đã được tìm thấy ở Ơfrat (Messopotania) vào 3500 – 3200 năm
trước Công Nguyên. Vào khoảng 1800 – 1500 năm trước Công Nguyên, ở Trung Quốc đã sử
dụng rộng rãi đồng đen. Ngày xưa, ở Anh (mỏ Coocmuon), nam Trung Quốc, Bolivin, Liên
Xô đã khai thác thiếc với quy mô lớn.
Năm 1940, thế giới khai thác được 240.000 tấn (trừ Liên Xô). Năm 1957, thế giới sản
xuất được 200.000 tấn (không kể Liên Xô và Trung Quốc). Liên Xô đã phát hiện được nhiều
vùng quặng thiếc rất lớn (Zabaical, tiểu Khingan, Xkhote – Albitin và đặc biệt là trên lãnh
thổ rộng lớn miền đông bắc).
với hàm lượng 1348 g/m
3
. Trước năm 1988, sản lượng
hàng năm chỉ đạt 600 tấn, năm cao nhất 1000 tấn. Ở Sơn Dương khai thác từ 1965 đến 1984
được 4 nghìn tấn, trung bình 210 tấn/năm. Hàm lượng thiếc trung bình 2400 g/m
3
. Ở Quỳ
Hợp khai thác từ 1961 với qui mô nhỏ.
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ THIẾC
II.1. Tính chất
Thiếc là kim loại mềm, có màu trắng bạc, dễ dát thành lát mỏng 0,005mm. Sn được
ưa chuộng trong kỹ thuật và đời sống do Sn có sức chống ăn mòn cao, muối Sn không độc,
Sn dễ nấu chảy và có thể luyện thành hợp kim cao cấp.
II.2. Đặc điểm khoáng vật
Thiếc tồn tại trong khoáng vật thuộc các nhóm oXt, sulfostanat, surful, silicat, borat
và niobat. Khoáng vật quan trọng nhất của thiếc là cassiterit (SnO
2
) chứa 69-78 % Sn,
stannin (Cu
2
FeSnS
4
) chứa 19-24 % Sn, tilit (PbSnS
2
) chứa 30,4 % Sn, cylinđrit
(Pb
3
Sn
4
2
FeSnS
4
) với thành phần lý thuyết: Cu = 29,6%, Fe = 13%, Sn = 27,6%,
S = 29,8%; tỷ trọng 4,3 – 5,2; độ cứng 3 – 4. Hàm lượng thiếc thực tế biến động từ 24,08 –
29,08%; thường có Zn (đến 8,71%), Cd (đến 0,83%), Bi (đến 0,2%), Sb (0,2%), đôi khi có
Pb và Ag. Stannin thường rất ít gặp so với cassiterit; nó thường chỉ có mặt trong các thành
tạo quặng thiếc thuộc thành hệ cassiterit – surful. Ngoài ra, người ta còn tìm thấy gần 40
khoáng vật khác nhau có chứa thiếc, tuy nhiên các khoáng vật này ít phổ biến, và nếu có thì
cũng không đủ hàm lượng để khai thác công nghiệp. Hàm lượng thiếc tùy thuộc vào thành
phần hóa học của khoáng vật.
Hình II.1. Tinh thể cassiterit
Hình II.2. Tinh thể stannin
BảngII.1. Bảng thống kê các khoáng vật chứa thiếc
Tên khoáng vật Công thức khoáng vật Tỷ trọng Độ cứng
Hàm lượng thiếc
(%)
Cassiterite SnO
2
6.4 – 7.1 6 – 7 78.77
Oulankaite (Pd,Pt)
5
(Cu,Fe)
4
SnTe
2
S
2
10.27 3.5 – 4 8.94
Canfieldite Ag
2
HgSnS
4
5.45 4 20.66
Hocassiteritrtite Ag
2
FeSnS
4
4.77 4 22.89
Pirtquitasite Ag
2
ZnSnS
4
4.822 4 22.48
Sakuraiite (Cu,Zn,Fe,In,Sn)
4
S
4
4 2.8
Petrukite (Cu,Fe,Zn)
2
(Sn,In)S
4
4.61 4.5 25.00
Rhodostannite Cu
2
FeSn
3
S
8
4 20.52
Chatkalbitite Cu
6
FeSn
2
S
8
5 4.5 25.50
Mawsonite Cu
6
Fe
2
SnS
8
4.66 3.5 – 4 13.67
Hemuscovitsite Cu
6
SnMoS
8
4.47 4 13.93
Kiddcreekite Cu
6
SnWS
8
4 12.62
Vinciennite Cu
10
Fe
4
Sn(As,Sb)S
3
4.86 4 34.71
Tealbitlite PbSnS
2
6.4 1.5 – 2 30.44
Surfulredaite PbSnS
3
5.54 – 5.88 2.5 – 3 30.41
Potosiite Pb
6
Sn
2
FeSb
2
S
14
6.2 2.5 10.65
Levyclaudite Pb
8
Sn
7
Cu
3
(Bi,Sb)
3
S
28
2.5 – 3 19.97
Franckeite (Pb,Sn)
6
11
S
50
Cl
8
Se 1.24
II.3. Đặc điểm địa hóa
Thiếc có tên Latinh là stannum, ký hiệu Sn, là nguyên tố hóa học nhóm IV trong hệ
thống tuần hoàn Mendeleev.
Thiếc kim loại có màu trắng bạc, kết tinh ở dạng tứ diện. Khối lượng nguyên tử
118,69. Trọng lượng riêng 7,3g/cm³. Nhiệt độ chảy 231,9ºC. Nhiệt độ sôi 2270ºC. Thiếc
thuộc kim loại khan hiếm.
Thiếc có hai dạng thụ hình là αSn và βSn. Ở nhiệt độ thường, thiếc tồn tại ở dạng βSn,
đó là một loại thiếc trắng mà mọi người đều biết. Ở nhiệt dộ dưới +13,2 ºC, αSn bền hơn, là
một loại bột dạng tinh thể rất mịn có màu xám. Thiếc trắng (βSn) biến thành thiếc xám (αSn)
xảy ra rất nhanh ở nhiệt độ -33 ºC. Quá trình biến hóa đó mang một cái tên hình tượng là
“bệnh dịch hạch thiếc”.
Sn có trị số Clack 2,5.10
-4
%. Sn có 10 đồng vị với mức độ phổ biến %: Sn
112
- 0,96%;
Sn
114
- 0,66%; Sn
115
- 0,35%; Sn
116
- 14,3%; Sn
117
2+
. Trong điều kiện nội sinh, thiếc di chuyển được nhờ có F và B
liên quan với hoạt động magma aXt.
Thiếc là nguyên tố linh động, dễ di chuyển vì bản chất hai mặt, vừa là ion dương
trong muối đơn và phức, vừa là ion âm trong stanat và sulfostanat, nên dung dịch chứa thiếc
có thể di chuyển đi xa lên phần trên của vỏ Trái đất. Có lẽ vì thế mà khoáng hoá thiếc liên
quan với magma aXt có thể đi lên phần cao nhất của vỏ Trái đất, tồn tại trong vỏ sial, hoặc
đến phần nóc của thể magma liên quan với chúng. Ở dưới sâu bên dưới vỏ sial, các đá
magma nghèo hoặc không có thiếc (Sn – deficient magma).
Thiếc là nguyên tố lưỡng tính, vừa có tính ưa đá vừa có tính ưa đồng. Kích thước bán
kính ion Sn
4+
(0,074µm) gần với kích thước bán kính ion Nb
5+
, Ta
5+
, và Ti
4+
nên thường tạo
thành những hỗn hợp đồng hình trong các titanat và tatalo – niobat cũng như dưới dạng hỗn
hợp đồng hình của thiếc trong quặng xám (đến 1,5%).
Tính ưa đá của thiếc thể hiện ở sự thường xuyên có mặt trong các khoáng vật tạo đá
như biotit, muscovit, felspat, sphen, hiếm hơn còn gặp trong amphibol, pyroxen, granat.
Trong môi trường aXt tính ưa đồng thể hiện ở sự tham gia của Sn
4+
trong các phức
anion thành tạo stanat và sulfostanat. Ngoài ra thiếc còn có mặt trong các hợp phần của bor
(gunsit, nordensendin…) và các khoáng vật skarn khác.
II.4. Kinh tế nguyên liệu khoáng
Các mỏ rất lớn có trữ lượng >100 ngàn tấn, lớn 25 - 100 ngàn tấn, trung bình 5 - 25
Hình III.4b. Sắt tây
NGUỒN GỐC, ĐIỀU KIỆN THÀNH TẠO VÀ
CÁC LOẠI HÌNH KHOÁNG SẢN THIẾC
CHƯƠNG III
CÁC KIỂU NGUỒN GỐC VÀ KIỂU MỎ CÔNG NGHIỆP CỦA
KHOÁNG SẢN THIẾC
III.1. Đặc điểm địa chất các mỏ thiếc
Khoáng sàng thiếc phát triển ở vùng uốn nếp địa vồng, các địa khối trung tâm và cả
trong các đới hoạt hóa của khiên và của nền. Những công trình nghiên cứu cho rằng vị trí các
đai khoáng hóa thiếc trùng với các nơi dát mỏng của vỏ Trái Đất với bề dày các trầm tích
lớn, nghĩa là phân bố ở những nơi hoạt động mạnh của vỏ Trái Đất, gồm:
- Đới thành tạo võng lâu dài và được lấp đầy bởi các đá phiến – cát kết
- Những đai uốn nếp quanh các địa khối trung tâm (vi lục địa)
- Những nơi nứt tách sâu và những nơi giao nhau của các đứt gãy phá hủy sâu trên
miền nền mà nơi đó xuất hiện các thành tạo xâm nhập.
Các thể granit chứa thiếc và những vùng mỏ quặng thiếc được khống chế bởi các yếu
tố kiến trúc như sau:
- Vùng bản lề của các cấu trúc nếp uốn vồng và những nơi uốn cong của cấu trúc nếp
uốn bị chia cắt nhiều đứt gãy phá hủy có tuổi khác nhau
- Đứt gãy sâu, đặc biệt nơi giao nhau giữa chúng và nếp uốn.
Đôi khi trong những vùng rộng lớn quặng hóa thiếc phân bố ở ven rìa các thể xâm
nhập, và phổ biến là ở vòm các khối xâm nhập. Ngoài ra thành phần thạch học của các đá
vây quanh cũng đóng vai trò quan trọng – nghĩa là quặng hóa (thể quặng) phân bố ở các tầng
trầm tích xen kẽ của đá cát kết và phiến, tại những nơi với các lớp đá dòn, dễ vỡ như cát kết,
quartzit, plagiogneiss amphibol.
Về mặt phân bố, mỏ thạch anh – cassiterit được thành tạo theo hai nhóm chính:
- Trên các thân xâm nhập, phân bố trong các tầng đá phiến – cát kết vây quanh
- Trong các thể xâm nhập granitoit (nơi phần lồi, phần nhô) với khoảng cách quặng
hóa từ 1,5 – 2km
Phụ thuộc vào hình dạng các thể xâm nhập, sự có mặt các đứt gãy phá hủy trước
biến đổi thành tạo tập hợp albit – mica. Các thể pegmatit chứa thiếc có dạng tấm ổ, thấu kính
và hiếm hơn là dạng ống.
Cassiterit đặc trưng cho thành hệ pegmatit có dạng tinh thể tháp đôi 4 phương rất
ngắn (K = 1), tỷ trọng 6,83, màu đen nâu, nâu đen, đa sắc mạnh, chứa nhiều Ta, Nb (khoảng
0,5 – 1%).
Kiểu mỏ pegmatit có quy mô nhỏ, hàm lượng Sn trong quặng nghèo dưới 0,1% nên
không có ý nghĩa công nghiệp
Liên hệ trên thế giới
Kiểu này gặp ở Liên Xô (Trung Á), Ruanda, Zair, Brazin.
Pegmatit chứa thiếc ở Trung Á phân bố thành dãy kéo dài dọc theo đường phân thủy
của dãy núi, trong các đá phiến tuổi Paleozoi trung và các thể xâm nhập granit. Mỏ phân bố
bên trong các thể granit cũng như ở đới cạnh tiếp xúc. Theo Beus A.A (1948) thì pegmatit
chứa thiếc của vùng phát triển cấu tạo đới thuộc giai đoạn kết tinh ban đầu, và cả thành tạo
đới thuộc giai đoạn thay thế. Đối với pegmatit kết tinh ban đầu chia thành 6 đới: 1/ granit
pegmatoit; 2/ dạng aplit; 3/ đới vân chữ (chữ cổ); 4/ đới thạch anh – felspat hạt trung và lớn;
5/ đới felspat dạng khối và 6/ đới thạch anh dạng khối và thạch anh – spodumen. Các đới đó
phân bố định hướng theo độ dày từ ven rìa tới trung tâm của mạch pegmatit và theo cả chiều
thẳng đứng.
Các đới do thay thế như sau: muscovit, albit, lepidomelan và greizen. Đới muscovit
với thành phần khoáng vật là fosfat mangan và sắt, muscovit và thạch anh; đới albit gồm có
albit, tourmalin, fosfat mangan và sắt. Trong đới lepidolit có albit, lepidolit và thạch anh.
Đới g gồm có muscovit, thạch anh, albit và cassiterit. Ngoài ra còn có columbit (Fe, Mn)
(Nb, Ta)
2
O
6
. Hàm lượng thiếc trong pegmatit thay đổi từ 0,1 – 0,2%. Theo Strelkin M.F thì
pegmatit albit chứa thiếc có hai loại: 1/ Klevelandit (albit dạng tấm) – spodumen; 2/ greizen
cassiterit phân bố cộng sinh chặt chẽ với albit và mica greizen.
Ở Châu Phi phổ biến rộng rãi pegmatit liên quan với các thành tạo granit tiền Cambri
lớp. Thiếc chủ yếu phân bố trong skarn dưới dạng cassiterit và đi kèm mật thiết với các
khoáng vật magnetit và các khoáng surful khác, trong đó phổ biến là arsenopyrit, pyrotin …
Các nhà nghiên cứu phân chia skarn cassiterit thành hai kiểu khoáng sàng magnetit và
surful. Kiểu đầu trong thành phần của quặng rất giàu magnetit, kiểu này thường gặp nhưng ý
nghĩa công nghiệp lại hạn chế, không lớn. Sự thành tạo khoáng vật của kiểu mỏ này thường
có nhiều giai đoạn, trong đó magnetit thành tạo muộn hơn các khoáng vật skarn nhưng đôi
nơi vẫn thấy có sự xen kẽ giữa magnetit và granat, như vậy có lẽ chúng thành tạo đồng thời
với các khoáng vật alumosilicat. Cassiterit là những hạt rất nhỏ và về cơ bản kết tinh muộn
cùng các surful sắt, kẽm và các kim loại khác. Tuy nhiên trong một vài mỏ thấy có sự
chuyển tiếp từ kiểu cassiterit – magnetit sang kiểu cassiterit – surful. Trong kiểu mỏ skarn –
cassiterit giàu surful thì thường phổ biến các dạng borat, trong đó có danburit (CaB
2
Si
2
O
8
),
datolit {CaB(SiO
4
)(OH)}… hoặc ở một vài mỏ lại có stanoborat. Cassiterit thường đi cùng
với clorit và các loại surful như pyrotin, chalcopyrit, sphalerit, stannin, bornit, kubanit, ngoài
ra còn gặp bismut trong một vài mỏ.
Kiểu mỏ skarn ít phổ biến và có ý nghĩa thứ yếu đối với Sn.
Liên hệ trên thế giới
Mỏ skarn nam Trung Quốc phổ biến ở vùng quặng thiếc Tây Nam như mỏ GenXu.
Vùng mỏ kéo dài dọc theo ven rìa miền nền đến 80 km, nhưng những mỏ thiếc lớn chỉ tập
trung ở phần đông nam trên một diện tích không lớn. Tại vùng GenXu đã khai thác trên 60%
khối lượng thiếc ở Trung Quốc. Về vị trí địa chất thì mỏ phân bố đại trũng (hố trũng) nền
kéo dài theo phương đông bắc và ở phía tây nam thì bị chi phối bởi đứt gãy lớn giới hạn
vùng nền. Vùng có cấu tạo khối tảng uốn nếp và thành tạo những địa lũy, địa hào với những
và vừa. Các thành tạo granit đó thường bị biến đổi sau magma xảy ra tại các đới ngoại tiếp
xúc và ngay trong chính bản thân khối granit. Những granit chứa quặng đó rất gần gũi với
granit liên quan với các thành tạo pegmatit chứa thiếc.
Quặng hóa phân bố ngay trong khối granit và ngay cả trong đới ngoại tiếp xúc. Trong
một vài trường hợp ở ven rìa các trường quặng thường xuất hiện các mạch quặng surful đồng
và chì – kẽm được thành tạo ở giai đoạn khoáng hóa muộn. Đa số các mạch quặng cassiterit
– thạch anh lấp đầy khe nứt tách và phân đoạn. Mỏ kiểu mạng mạch đóng vai trò thứ yếu.
Các mạch kéo dài từ vài chục mét đến hàng trăm mét với bề dày thay đổi từ 0,1 – 1m và dần
dần thay đổi độ dày. Các mạch quặng thường tách rời các thể bướu. Ven rìa mạch (ranh giới)
rõ, chứng tỏ chúng được thành tạo do lấp đầy
Thành phần khoáng vật quặng phổ biến là thạch anh, ít hơn có muscovit và tourmalin.
Đôi khi tourmalin ít phổ biến hoặc không có. Các khoáng vật đóng vai trò phụ gồm có
felspat kali, albit, beryl, topaz, fluorit, ambligonit {LiAl(F,OH)PO
4
}… Khoáng vật quặng
phổ biến là cassiterit, wolframit và arsenopyrit. Hàm lượng các khoáng vật surful không
đáng kể. Khoáng hóa xảy ra ở nhiều giai đoạn, trong đó thạch anh và một vài khoáng vật
khác có nhiều thế hệ. Đôi khi trong một vài mỏ phát hiện canxedoan thành tạo giai đoạn
muộn và cả surful thường cộng sinh với cacbonat sắt. Đá vây quanh bị biến đổi muscovit
hóa, topaz – muscovit và các loại greizen hóa.
Kiểu mỏ thạch anh – cassiterit là nguồn cung cấp thiếc quan trọng có ý nghĩa
công nghiệp.
Liên hệ trên thế giới
Mỏ thạch anh – cassiterit phát triển ở nhiều quốc gia như Malaysia, Trung Phi, Tây
Âu, Đông Úc và Sibiri (Nga).
Mỏ bán đảo Kornuelsk ở Anh quốc đã khai thác được trên 200 năm và lấy được 2
triệu tấn thiếc, trong đó có 750 tấn là sa khoáng. Trong thời gian gần đây đang khai thác hai
mỏ Saus – Krofti và Givor. Cấu trúc địa chất của vùng là miền uốn nếp VariX với các thành
tạo trầm tích phiến – cát kết với các lớp xen kẹp cuội kết tuổi Devon – Cacbon. Ở vùng
Devonsir, các trầm tích Cacbon bị phủ bởi các trầm tích vụn màu đỏ và các thành tạo nguồn
Dolkoatsk làm dịch chuyển mạch quặng đến 100 – 120 m. Tuy nhiên, nơi giao nhau của đứt
gãy với mạch quặng có phương đông bắc rất giàu quặng. Điều đó có thể cho rằng đứt gãy
được thành tạo ngay cả trước tạo quặng.
Quặng hóa thiếc phân bố trong các mạch hoặc một phần của chúng nằm trong granit.
Các mạch quặng trong granit thường ranh giới không rõ ràng và phân tách ra hàng loạt
những vi mạch phân bố cạnh nhau và lấp đầy clorit, thạch anh và các khoáng vật khác. Bề
dày của mạch thay đổi từ 0,3 – 1,5 m, các mạch đều kèm theo biến đổi nhiệt dịch với bề dày
đạt đến 3 m. Đá vây quanh bị biến đổi thạch anh hóa, sericit hóa, clorit hóa và tourmalin với
tỷ lệ khác nhau. Trong các đá bị biến đổi hầu như đều có cassiterit xâm tán. Trong chính các
mạch đó, cassiterit thành tạo từng đám, cụm ở những nơi tập trung tourmalin màu xanh da
trời thành tạo muộn và cũng chính trong các mạch ấy, nơi nào không có tourmalin màu xanh
da trời thì không có cassiterit. Ở một vài nơi của các mạch đặc trưng trong mỏ đã xuất hiện
những vi mạch thạch anh – fluorit được thành tạo muộn hơn quặng thiếc. Ở những nơi đó
hàm lượng thiếc không cao, nhưng trong đá vây quanh lại thấy khoáng vật jilbertit và hiếm
hơn là rybelit. Ở Nga, mỏ thạch anh – cassiterit phát hiện ở Zabaical và một vài nơi khác.
Mỏ kiểu này ở Zabaical thuộc kiểu mạng mạch. Diện tích vùng quặng phân bố các đá phiến
tuổi Paleozoi hạ bị vò nhàu, cà ép và uốn nếp mạnh mẽ, bị chia cắt bởi nhiều đứt gãy. Một
vài đứt gãy phá hủy có phương tây bắc được lấp đầy bởi các đai mạch lamprofir. Ngay chính
mỏ quặng lại có vùng các đá phiến bị dập vỡ mạnh mẽ, có nhiều chỗ giao nhau của đứt gãy
có phương vĩ tuyến và kinh tuyến. Nơi giao nhau – nút quặng phát triển nhiều mạng mạch
thiếc với những vi mạch thạch anh hoặc những vùng có diện lộ méo mó giàu thạch anh,
cassiterit và một ít surful.
III.2.4. Mỏ cassiterit – surful
Mỏ kiểu này có trị công nghiệp và cassiterit luôn đi cùng với các khoáng vật surful
của sắt, đồng, chì, kẽm và các kim loại khác. Các mỏ cassiterit – surful được thành tạo liên
quan với các đá xâm nhập aXt – granitoit có tính bazơ cao hơn như granodiorit và cả diorit
thạch anh. Về đặc điểm địa chất phân bố thì các mỏ này tương tự như các mỏ surful và mỏ
quặng vàng. Các mỏ surful – cassiterit thành tạo ở độ sâu không lớn so với mặt đất; trong các
miền uốn nếp thì độ sâu khoảng 1000 m theo chiều đứng. Dung dịch quặng tạo mỏ thường
có hàm lượng lưu huỳnh ít. Vì vậy mà khoáng surful sắt trong quặng chủ yếu là
pyroxenit, pegmatoit và granit trẻ xuyên cắt. Cùng với granit có các đai mạch porphyr thạch
anh phân bố theo hệ tống đứt gãy cắt nhau thẳng góc. Khoáng hóa thiếc liên quan với các đai
mạch porphyr thạch anh bị biến đổi chuyển sang loại đá khác (pitiknit – là khoáng topaz
dạng cột lăng trụ) có topaz, tourmalin, cassiterit và các khoáng surful thành tạo sau. Tại
những nơi giao nhau của mạch thạch anh với những đứt gãy đoạn tầng hàm lượng quặng
tương đối giàu hơn. Ngoài ra còn gặp các mạch thạch anh – cassiterit. Các thể quặng gặp
nhiều surful (pyrotin, pyrit và mackazit) có khi đến 50%, phần còn lại là thạch anh, talc,
cacbonat magie – canX – mangan và cassiterit.