BIỆT LẠC (LẠC MẠCH) VÀ CÁCH VẬN DỤNG (Kỳ 4) potx - Pdf 16

BIỆT LẠC (LẠC MẠCH) VÀ
CÁCH VẬN DỤNG
(Kỳ 4)

F. LẠC CỦA THỦ THIẾU DƯƠNG TAM TIÊU KINH
1. Lạc ngang của Tam tiêu kinh:
- Lạc ngang của Tam tiêu xuất phát từ huyệt ngoại quan, đi đến nguyên
huyệt đại lăng của Tâm bào.
- Lạc ngang không có triệu chứng riêng của mình. Khi bị rối loạn, ta thấy
xuất hiện các triệu chứng hư của kinh đối diện (tức kinh Tâm bào).
Điều trị: Lấy huyệt nguyên của kinh có bệnh (đại lăng của Tâm bào) và lạc
của kinh quan hệ biểu lý (ngoại quan của kinh Tam tiêu).
2. Lạc dọc của Tam tiêu kinh:
- Lạc dọc của Tam tiêu cũng xuất phát từ huyệt Ngoại quan, đi dọc theo
kinh chính lên vai cổ, sau đó đến giữa ngực và nối với kinh Tâm bào ở chiên
trung.
- Khi lạc dọc có rối loạn:
+ Thực chứng: co cứng cùi chỏ.
+ Hư chứng: khớp cổ tay lỏng lẻo.
“Biệt của thủ thiếu dương tên gọi là ngoại quan. Bệnh thực sẽ làm cho
khuỷu tay bị co quắp, bệnh hư sẽ làm cho cổ tay không co lại được. (Linh khu -
thiên Kinh mạch).
Điều trị: Châm huyệt lạc ngoại quan của Tam tiêu.
G. LẠC CỦA TÚC THÁI DƯƠNG BÀNG QUANG KINH
1. Lạc ngang của Bàng quang kinh:
- Lạc ngang của Bàng quang xuất phát từ huyệt phi dương (nằm trên mắt cá
ngoài 7 thốn) và chạy đến nguyên của Thận (huyệt thái khê).
- Lạc ngang không có triệu chứng riêng của mình, nên khi bị rối loạn ta
thấy xuất hiện các triệu chứng hư của kinh Thận.
Điều trị: Lấy huyệt nguyên của kinh có bệnh (thái khê của Thận) và lạc của
kinh quan hệ biểu lý (phi dương của kinh Bàng quang).

1. Lạc ngang của kinh Vị:
- Lạc ngang của kinh Vị xuất phát từ huyệt lạc phong long và chạy xuống
nối với huyệt thái bạch của kinh Tỳ.
- Khi bị rối loạn ta thấy xuất hiện các triệu chứng hư của kinh đối diện, tức
kinh Tỳ.
- Điều trị: Lấy huyệt nguyên của kinh có bệnh (thái bạch của Tỳ) và lạc của
kinh quan hệ biểu lý (phong long của kinh Vị).
2. Lạc dọc của kinh Vị:
- Lạc dọc của kinh Vị cũng xuất phát từ huyệt lạc phong long, chạy mặt
trước ngoài xương quyển, chạy ngược lên bụng ngực, phân nhánh ở đầu và gáy.
Nối với các kinh khác ở đầu trước khi xuống tận cùng ở yết hầu.
- Khi lạc dọc có rối loạn:
+ Thực chứng: điên cuồng, động kinh.
+ Hư chứng: liệt chi dưới, teo cơ.
“Biệt của túc dương minh tên gọi là phong long. Bệnh thực sẽ làm cho điên
cuồng; bệnh hư thì chân sẽ không co lại được, xương hĩnh cốt sẽ khô” (Linh khu -
thiên Kinh mạch).
- Điều trị: Châm huyệt lạc phong long.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status