Ung thư buồng trứng ở trẻ em có
thể chữa khỏi, nhưng Hơn 2/3 ung thư buồng trứng ở trẻ em dưới 15 tuổi là bướu tế bào
mầm và 20% trường hợp ác tính. Ung thư buồng trứng ở trẻ em có một số
đặc điểm khác với ung thư buồng trứng ở người lớn: nhiều cơ may trị khỏi và
bảo tồn chức năng sinh sản nếu được chẩn đoán mô bệnh học chính xác, có kế
hoạch xử trí điều trị thích hợp.
Trong hoàn cảnh hiện nay, một số cơ sở y tế chưa thực sự nắm được đặc
điểm của ung thư buồng trứng dạng tế bào mầm, chưa thấy được vai trò của điều
trị kết hợp phẫu và hóa trị. Hậu quả, một số ung thư buồng trứng dạng tế bào mầm
ở trẻ em đã bị tái phát sau phẫu thuật. Lúc này, mọi cố gắng cứu mạng sống cho
các cháu rất khó khăn. Kết quả điều trị thực sự bi đát. Nhân hai trường hợp ung
thư buồng trứng trẻ em tái phát sau can thiệp phẫu thuật ở cơ sở y tế tuyến trước,
chúng tôi mong được chia sẻ kinh nghiệm xử trí ung thư buồng trứng ở trẻ em tại
Bệnh viện ung bướu TP.HCM.
Nhìn lại hai trường hợp
Xuất độ bướu tế bào mầm buồng trứng ở trẻ em tại TP. HCM là 6,5%, giữ
vị trí thứ sáu trong 10 loại ung thư trẻ em thường gặp tại TP. HCM. Y học đã biết
rõ đặc điểm mô học của ung thư buồng trứng và đặc tính nhạy với hóa trị, xạ trị.
Phẫu trị cắt bỏ khối u buồng trứng là phương thức điều trị cơ bản và quan trọng.
Tuy nhiên, phối hợp đa mô thức trong điều trị, đặc biệt là phác đồ hóa trị có
platinum đã cải thiện rõ rệt tỷ lệ sống còn cho các cháu chẳng may mắc bệnh này.
Khoảng 10 năm nay, tỷ lệ trị khỏi bệnh và bảo tồn chức năng sinh sản cho
loại bệnh này ở giai đoạn sớm và cố gắng thực hiện ở giai đoạn bệnh tiến xa đã
được nhiều cơ sở y tế trên thế giới thực hiện.
Ở nước ta hiện nay do nhiều lý do, việc chẩn đoán và điều trị ung thư
buồng trứng ở trẻ em chưa được quan tâm, kế hoạch điều trị chưa đồng bộ nên khả
năng chữa khỏi bệnh kém.
Bệnh án 1: cháu Nguyễn N.Q., nữ, sinh năm 1998, sống tại Vũng Tàu.
Kế hoạch điều trị tùy thuộc vào giai đoạn bệnh và loại mô học. Giai đoạn I:
bướu khu trú tại chỗ, cắt toàn bộ bướu không còn sót bướu vi thể ở bờ diện cắt,
không di căn hạch vùng vi thể, dấu hiệu sinh học bướu giảm dần về bình thường
theo thời gian bán hủy của nó. Giai đoạn II: còn sót bướu vi thể, bướu xâm lấn vỏ
bao, di căn hạch vùng vi thể. Giai đoạn III: còn sót bướu đại thể, di căn hạch vùng
đại thể (trên 2 cm), có tế bào ác tính trong dịch rửa phúc mạc. Giai đoạn IV: di căn
xa, di căn hạch xa.
Cắt phần phụ và buồng trứng mang bướu được chỉ định cho bướu tế bào
mầm buồng trứng, giảm tác dụng phụ gây ung thư thứ phát sau hóa trị.
Bệnh giai đoạn I chỉ phẫu thuật bảo tồn, tỷ lệ tái phát bướu nghịch mầm 15
- 20%. Khi phát hiện tái phát sớm vẫn còn khả năng điều trị bảo tồn.
Ngày nay, bướu mầm bào buồng trứng giai đoạn I được điều trị bảo tồn
chức năng sinh sản, vì tỷ lệ khỏi bệnh ở giai đoạn này cao và tái phát ít. Sau khi
điều trị bảo tồn, theo dõi sát bằng khám lâm sàng với phương tiện chẩn đoán hình
ảnh, dấu hiệu sinh học bướu để sớm phát hiện tái phát, vẫn có thể chữa khỏi bệnh
và bảo tồn chức năng sinh sản.
Với bệnh án đầu tiên, chúng tôi nhận xét rằng do cha mẹ cháu nghĩ khi giải
quyết xong lý do nhập viện là bệnh đã khỏi. Theo y văn bướu quái không trưởng
thành chỉ điều trị phẫu thuật đơn thuần, hơn 85% được trị khỏi không cần hóa trị.
Tỷ lệ tái phát không liên quan với grade mô học. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ
của bé là bướu quái không trưởng grade 2, bé không được theo dõi để phát hiện
sớm tái phát và kịp thời điều trị. Lúc nhập viện lại, bướu quá to xâm lấn các cơ
quan lân cận, phẫu thuật không thuận lợi nên chúng tôi thực hiện hóa trị trước với
phác đồ chuẩn BEP với hy vọng có đáp ứng. Nhưng chẳng may, bệnh tiếp tục tiến
triển. Theo y văn, chưa có công trình nào nghiên cứu cho những trường hợp bệnh
tái phát lan rộng sau mổ, do đó chỉ dựa vào những nghiên cứu người lớn. Đối với
những trường hợp không đáp ứng với phác đồ chuẩn thì có thể đổi sang phác đồ
có ifosfamid và etoposid, tỷ lệ đáp ứng mỗi đơn chất từ 20 - 30%. Phác đồ ICE
(ifosfamid, carboplatin, etoposid) đang được xem xét sử dụng. Phác đồ BEP với
cisplatin liều cao còn đang ở giai đoạn thử nghiệm.