Địa Lý - Hành Chánh Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh
Với sưu tập bản đồ, biểu đồ, hình ảnh, hiện vật phòng trưng bày khái quát
quá trình hình thành và phát triển của Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh về mặt
địa lý, hành chính. Từ một đô thị được quy hoạch cho 50.000 dân đến hiện nay
thành phố có trên 6 triệu dân. Các bản đồ cổ lập nên từ thế kỷ XVII đến giữa thế
kỷ XVII, cho thấy mạng sông rạch là yếu tố cơ bản của cấu trúc thành phố. Hiện
nay, hệ thống sông rạch ấy được thay thế bằng những đại lộ (đường Hàm Nghi,
Nguyễn Huệ…).
Bản đồ Sài Gòn 1623 - 1679
Đây là giai đoạn hình thành, khẳng định Sài Gòn làm thủ phủ của Gia
Định. Trên bản đồ có thể hiện: đường giao thông từ Sài Gòn đi miền Tây, Cao
Miên, Đồng Nai cho thấy Sài Gòn lúc bấy giờ đã là một thị trấn, một đầu mối giao
thông một địa điểm chiến lược khá quan trọng, với các cơ quan quân sự như
Đồn dinh của quan Điều Khiển của tổng tham mư và quân trại hộ vệ, các cơ
quan hành chính cho cai bộ và ký lục, có kho Quản thảo hay Đồn thu thuế lớn,
đồn lũy dinh thự của phó vương Nặc Nộn, có phố chợ buôn bán, xóm làng mà
lưu dân đã thành lập… dân số của Sài Gòn khi ấy có khoảng 10.000 người.
Đồn thu thuế (lập năm 1623, toạ lạc ngay bên bờ sông Sài Gòn cũ, nơi
giao điểm của nhiều lưu dân Việt Nam đã khai thác quanh đó.
Doanh trại của phó vương Nặc Nôn: đặt ở Sài Gòn trong khoảng từ năm
1674 đến 1690, phỏng đoán gần chùa Cây Mai.
Đồn dinh ở Tân Mỹ: đồn lập đầu năm 1679 gần ngã tư Cống Quỳnh –
Nguyễn Trãi ngày nay, làm chỗ cho quan Tổng tham mưu cư trú.
Thành Bát Quái (1790 - 1835)
Thành được xây theo họa đồ của hai sĩ quan Pháp Olivier và Le Brun, sử
dụng 30.000 dân phu, ngày 4 tháng 2 năm Canh Tuất (1790) bắt đầu xây dựng
thành tại làng Tân Khai, hình hoa sen, mở ra 8 cửa, có 8 con đường ngang dọc,
từ Đông đến Tây dài 648,55m, chiều Nam – Bắc cũng bằng vậy, tường cao
6,334m, chân tường dày 36, 554m, hào thành sâu 6,821m, hào rộng 75,525m,
xây cầu ngang, ngoài đắp lũy bằng đất chu vi 3.829,118m. trên thành có trụ cờ
vợ úy Thư chưởng vệ quyền giữ ấn triện doanh Long Vũ Bùi Văn Bằng người
giữ vẹn đạo người, nối dài đức trước, hiệu tốt, để sáng đức xưa nay đặc biệt gia
tăng ngươi là Minh nghĩa đô úy quản cơ, ban cho cáo mệnh. Than ôi, chức cao
đã thăng, chấn hoàng tuyền vinh diệu, lòng thành nên dốc, hưởng ơn nước lâu
dài, làm tỏ đức thơm, vâng theo mệnh sáng. Kính
đấy.
Nguyễn Hữu Cảnh với sự thiết lập nền hành chính tại Đồng Nai – Gia
Định
Mùa xuân tháng 2 năm Mậu dần (1698) Nguyễn Hữu Cảnh bấy giờ là trấn
thủ dinh Bình Khang, được lệnh chúa Nguyễn dẫn quân lính lên đường vào
Nam, kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân
Bình, dựng dinh Phiên Trấn (tức đất Gia Định ngày nay). Mỗi nơi đều đặt chức
lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thuỷ bộ tinh binh và thuộc binh. Từ
năm 1698 – 1779 (Nguyễn Vương khôi phục phần đất Nam bộ) không có sự
thay đổi nào về mặt hành chính. Tuỳ theo nhân khẩu hay hộ mà gọi là thôn,
phường, lân, ấp.
Về cách đặt tên lúc ban đầu, Nguyễn Hữu Cảnh có dụng ý khi chọn các
mỹ từ. Tên phủ Gia Định muốn nói lên vùng đất này từ nay đã được xếp đặt ổn
định, tốt đẹp, không thay đổi, xáo trộn nữa, dân chúng được an cư lạc nghiệp.
Khi đặt tên cho huyện Phước Long là huyện địa cầu của Nam bộ, ông mong
muốn cho dân chúng ở đây được hưởng phước đầy, vĩnh viễn sống trong cảnh
sung túc. Tên huyện Tân Bình nghĩa là vùng đất mới bình định xong, dân chúng
từ nay được an cư lạc nghiệp. Bấy giờ Nguyễn Hữu Cảnh lấy sông Sài Gòn làm
ranh giới thiên nhiên cho hai huyện Phước Long và Tân Bình lúc đó bao gồm
các quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Tân Bình, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, các
huyện Hóc Môn, Cần Giờ, Nhà Bè, Củ Chi, toàn tỉnh Tây Ninh, toàn tỉnh Tây
Ninh, một phần tỉnh Long An ngày nay. Còn huyện Thủ Đức bấy giờ là tổng Bình
An thuộc huyện Phước Long.
Công việc sắp xếp hành chính đi đôi với lập bộ đinh và bộ điền. Về bộ
đinh do sự kê khai của hào lý từng thôn ấp, tổng kết lại toàn phủ Gia Định có
– Vinh – Hà Nội dài 2.000 km (22/3/1888), đường dây điện thoại, đường dây
điện thoại đầu tiên ở Đông Dương (1889), đường liên lạc điện báo Sài Gòn –
Băng Cốc được mở cho thương mại (16/7/1893), khởi công xây dựng Xã Tây
(còn gọi là dinh Đốc Lý, tòa Đô Thành, khánh thành năm 1908).
Nhóm hiện vật:
Đại Nam quốc toàn đồ:
Bản vỗ rập “Đại Nam Quốc toàn đồ” do ông Hường Thiết vẽ và khắc năm
1890, được ông Vĩnh Tuấn tặng Bảo tàng Cách mạng năm 1980.
Bản khắc thể hiện đầy đủ lãnh thổ Việt Nam: sông núi, quần đảo, bán đảo,
vịnh, cửa biển, bờ biển, kể cả một số thuộc quốc cũ của nước ta như Thuỷ xá,
Hoả Xá, Thạch Bích. Nước Việt Nam phía Bắc giáp Trung Quốc phía Tây giáp Ai
Lao, Cao Miên, phía Đông là Đại Đông Dương Hải; phía Tây Nam có vịnh Thái
Lan. Tổ quốc Việt Nam thống nhất, liền một dãi từ cực Bắc, các tỉnh Lạng Sơn,
Cao Bằng đến cực nam; mũi Cà Mau.
Tỉnh lỵ của từng tỉnh và ranh giới mỗi tỉnh được xác định rõ trên bản đồ,
cùng đường bộ chạy từ Nam Quan đến thành Gia Định và tiếp về phương Nam.
Cụ Hường Thiết còn tận dụng những khoảng trống trên bản đồ để khắc thêm 6
lời ghi chú nhằm làm rõ đặc điểm từng vùng, như: nước Cao Miên, Đại Đông
Dương Hải, sông Cửu Long…
Bản vỗ vập này được khắc năm 1890, sau khi nước Việt Nam rơi vào tay
Pháp và được chia làm 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau song bản “Đại Nam
Quốc toàn đồ:” thể hiện khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam. Nước Việt
Nam là một mãi là chân lý tự ngàn xưa đến muôn đời sau.
Ấn đồng “tả quân chi ấn”
Trong lịch sử hơn 300 năm xây dựng và phát triển vùng đất Gia Định, Lê
Văn Duyệt có vai trò rất to lớn. Hai lần được cử làm Tổng trấn thành Gia Định –
lần thứ nhất từ năm 1813 đến năm 1816; lần thứ 2 từ năm 1820 đến khi ông mất
năm 1832 – Lê Văn Duyệt rất cương trực, nghiêm minh, và cũng hết lòng chăm
lo đời sống nhân dân. Những đóng góp của ông về các mặt đã được bao đời
trúc, điêu khắc và hội hoạ.
Dinh Norodom – Dinh Thống Nhất
Công trình toạ lạc trên khu đất rộng 15ha.
Dinh Norodom hay dinh Toàn quyền Đông Dương được xây dựng theo đồ
án của kiến trúc sư Hermite (1863 - 1875). Mặt tiền nhà rộng 80m, phòng khánh
tiết có thể chứa 800 người. Kiểu nhà theo phong cách Tân Ba rốc thời Đế chính
Napoléon III, với mái gãy Mansart, trang trí mắt bò, trang hoa, hình tượng.
Ngày 7/9/1954 đổi thành dinh Độc Lập, là phủ Tổng thống. Tháng 2/1962,
trong một vụ đảo chính bất thành, công trình bị ném bom hư hỏng nặng, toà nhà
được xây dựng lại theo đồ án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1962 - 1966). Công
trìnhc ó diện tích sàn 20.000m
2,
phân
bố trên 100 phòng, với hội trường lớn,
hành lang rộng, lối vào uy nghi, chiều cao bằng ngôi nhà 5 tầng, có thêm tầng
hầm và sân thượng, kỳ đài. Những lam đứng mặt tiền dạng lóng trúc gợi nét
trang trí truyền thống Việt Nam, được nghiên cứu thu đều ánh sáng hướng đông
chiếu sáng hành lang, do vị trí ngôi nhà xoay mặt hướng đông bắc thiếu ánh
sáng mặt trời. Lối vào đại sảnh nâng cao với hồ nước hình bán nguyệt kiểu
truyền thống Việt Nam. Công trình tiêu biểu phong cách kiến trúc hiện đại và dân
tộc hiếm hoi ở Sài Gòn thời cũ.
Ngày 25/6/1976 dinh Độc Lập được đổi tên là Hội trường Thống Nhất.
Đường Kinh Lấp (đường Charner)
Trước năm 1889 đường Kinh Lấp (Charner, nay là đại lộ Nguyễn Huệ) là
kinh Chợ Vải chảy từ sông Bến Nghé (tức sông Sài Gòn) đến tận chân thành Bát
Quái (chỗ Uỷ ban Nhân dân thành phố). Con kinh nằm giữa hai đường đi, bờ
được kè đá. Thỉnh thoảng có những bực cấp để người đưa hàng lên bờ hay
xuống ghe đò. Tại chỗ kinh đổ ra sông Bến Nghé và ở khoảng đường Ngô Đức
Kế có hai chiếc cầu nối liền đôi bờ. Chính quyền Pháp cho lấp kinh và gọi tên là
Ngày 13/12/1880, thống đốc Nam Kỳ ra nghị định sáp nhập thành phố cấp
1 Sài Gòn với thành phố cấp 2 Chợ Lớn cùng với vùng phụ cận, gọi là khu Sài
Gòn – Chợ Lớn, đặt dưới quyền cai trị của viên giám đốc Nha Nội chính (chức
này tồn tại đến ngày 29/10/1887). Ngày 12/1/1888, toàn quyền Đông Dương ra
nghị định xóa bỏ khu Sài Gòn – Chợ Lớn, lập lại hai thành phố như cũ. Ngày
27/4/1931, tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập trở lại khu Sài Gòn – Chợ Lớn,
đặt dưới quyền cai trị của một trưởng khu. Trưởng khu kiêm luôn Chủ tịch Hội
đồng quản trị khu Sài Gòn – Chợ Lớn.
Tác giả: Không rõ
Nguồn: hcmc-museum.edu.vn