nhung tac pham can xem khi thi vao loap 10 - Pdf 17

Các biện pháp tu từ
I. Hệ thống lý thuyết
1- So sánh : là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có
nét tơng đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
- Mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:
+ Vế A( nêu tên sự vật, sự việc đợc so sánh)
+ Vế B ( nêu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế
A)
+ Từ ngữ chỉ phơng diện so sánh
+ Từ ngữ chỉ ý so sánh (gọi tắt là từ so sánh)
2. Nhân hoá: là gọi hoặc tả con vật, đồ vật bằng những từ ngữ vốn đợc
dùng để gọi hoặc tả con ngời; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở
nên gần gũi với con ngời, biểu thị đợc những suy nghĩ, tình cảm của con ng-
ời.
- Các kiểu nhân hoá thờng gặp là:
+ Dùng những từ ngữ gọi ngời để gọi vật. ( Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!)
+ Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của ngời để chỉ hoạt động, tính
chất của vật. ( Kiến hành quân đầy đờng)
+ Trò chuyện, xng hô với vật nh đối với ngời( Trâu ơi ta bảo )
3. ẩn dụ: là gọi tên sự vật, hiện tợng này bằng tên sự vật, hiện tợng khác
có nét tơng đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
- Có 4 kiểu ẩn dụ thờng gặp :
- ẩn dụ hình thức: đó là sự chuyển đổi
tên gọi những sự vật, hiện tợng có điểm
nào đó tơng đồng với nhau vê hình
thức:
VD: Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận
Muôn nghìn cây mía
Múa gơm

loại hoa quen thuộc gần với tuổi học
trò.
- ẩn dụ 2 là ẩn dụ cách thức:
+ Gọi (hoa phợng) thả những cánh sen
thay cho cách gọi (hoa phợng) rơi
những cánh hoa.
+ Gọi (hoa phợng) ma thay cho cách
gọi (hoa phợng) rơi nhiều
- ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: đó
là sự chuyển đổi tên gọi những sự
vật, hiện tợng có nét tơng đồng
với nhau ở một vài điểm nào đó về
cảm giác ẩn dụ này thờng dùng
kết hợp các từ ngữ chỉ cảm giác
loại này với cảm giác loại khác.
VD:
- Thính giác + vị giác: Câu
chuyện nghe nh nhạt nhẽo làm
sao.
- Thính giác + thị giác: Nói mãi
nghe mòn cả tai.
- Thính giác + xúc giác: Nghe
mát cả ruột.
- Thính giác + khứu giác: Nghe
thơm thơm mùi cơm gạo mới.
- Thị giác + xúc giác: Thấy lạnh
sống lng.
- Thị giác + thính giác: Thấy nắng
giòn tan.


tiếng trống chèo vọng lại, từ những xóm xa xa. Có câu hát huê tình của cô
gái đẹp nh thơ mộng.
* Tác dụng nghệ thuật của điệp ngữ:
- Điệp ngữ vừa để nhấn mạnh ý, vừa tạo cho câu văn, câu thơ, đoạn văn,
đoạn thơ giàu âm điệu; giọng văn trở nên tha thiết, nhịp nhàng, hoặc hào
hùng mạnh mẽ, nhiều rung cảm, gợi cảm.
VD: Tôi yêu Sài Gòn da diết Tôi yêu trong nắng sớm, một thứ nắng
ngọt ngào Tôi yêu cái đêm khuya tha thớt tiếng ồn Tôi yêu phố phờng
náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cái tĩnh lặng của buổi
sáng tinh sơng với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số dờng còn
nhiều cây xanh che chở
6. Chơi chữ:
Là cách vận dụng ngữ âm, ngữ nghĩa của từ để tạo ra những cách hiểu bất
ngờ thú vị.
VD: Bà già đi chợ Cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng.
Thầy bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhng răng chẳng còn.
Dùng từ đồng âm để chơi chữ
7. Nói quá: là một biện pháp tu từ phóng đại mức độ, qui mô, tính chất của
sự vật, hiện tợng đợc miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tợng, tăng sức biểu cảm.
Nói quá còn gọi là khoa trơng, thậm xng, phóng đại, cờng điệu, ngoa ngữ
* Nói quá và tác dụng của nói quá:
- Nói quá nhng có mức độ nhằm gây ấn tợng hơn hoặc nhấn mạnh về điều
định nói.
3
VD :
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức ngời sỏi đá cũng thành cơm.
8. Nói giảm, nói tránh:

a. Giống: Đều là sự láy đi láy lại nhiều lần một từ, cụm từ trong câu văn ,
đoạn văn hay câu thơ, đoạn thơ.
b. Khác:
4
- Điệp ngữ đợc dùng có dụng ý nghệ thuật: tạo cho câu văn, câu thơ âm
điệu nhịp nhàng, nhấn mạnh ý đang diễn đạt hay tô đậm tình cảm, cảm xúc
của ngời viết.
- Lỗi lặp là cách diễn đạt vụng về do nghèo vốn từ, nó làm câu văn lủng
củng, nhàm chán .
III. Bài tập vận dụng
PHầN II: các dạng bài văn,
đoạn văn
1. Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa
(Nguyễn Thành Long) để thấy đợc vẻ đẹp trong cách sống, tâm hồn và
những suy nghĩ của nhân vật.?
Bài làm
Trong cái im lặng của Sa Pa [ ], Sa Pa mà chỉ nghe tên, ngời ta chỉ
nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những ngời làm việc và lo nghĩ nh vậy cho đất
nớc. Có những ngời làm việc và lo nghĩ cho đất nớc, đó là những con ngời
lao động thầm lặng, hi sinh hạnh phúc cá nhân, tìm hạnh phúc trong lao
động. Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn
Thành Long) là một bức chân dung kí hoạ đẹp đẽ về con ngời này.
Nhân vật anh thanh niên - nhân vật chính của truyện, đợc xuất hiện từ
lời giới thiệu của bác lái xe với ông hoạ sĩ và cô kĩ s : hai mơi bảy tuổi. ngời
cô độc nhất thế gian, một mình trên trạm khí tợng ở đỉnh núi cao 2.600 m,
rất thèm ngời Giữa mênh mông đất trời, sơng tuyết, anh thanh niên yêu
đời, yêu nghề, có trách nhiệm với công việc của mình. Trong cuộc sống,
hạnh phúc mà ngời ta có đợc là tự bản thân mình biết tạo ra, tìm ra hạnh
phúc từ chính cuộc sống riêng mình, công việc mình đang làm. Anh thanh
niên biết làm chủ, sắp xếp, lo toan cho cuộc sống riêng mình. Anh nuôi gà,

khoảnh khắc của truyện - cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa nhân vật ông hoạ sĩ, cô kĩ
s trẻ và anh thanh niên làm công tác khí tợng ở Sa Pa, tác giả đã phác hoạ đ-
ợc chân dung nhân vật chính với những nét đẹp về tinh thần, tình cảm, cách
sống và cả những suy nghĩ về cuộc sống, ý nghĩa công việc.
2. Cảm nhận của em về những điều âm vang từ Lặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long
Bài làm
"Chất thơ của văn xuôi thấm vào hồn ta nh hơng vị ngọt ngào của trái
táo"- Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một truyện ngắn nh vậy.
Ngay cái tiêu đề đã mang đầy chất thơ. Sa Pa lặng lẽ nhng tình ngời ấm áp
nhân hậu. Tình ngời ấy sẽ tạo ra những âm vang nh một sức quyến rũ đặc
biệt khi đọc xong truyện ngắn này.
Trớc hết là những âm vang từ một cuộc đời đẹp. Đó là câu chuyện về
chàng trai đáng yêu có cái tên thật ấn tợng : anh thanh niên. Nhân vật này
hiện lên sinh động, có cá tính, có đời sống nội tâm, dù không mang tên cụ
6
thể mà ngời đọc sẽ mãi nhớ về anh. Chàng trai "cô độc nhất thế gian" này
làm nghề khí tợng, một mình sống trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 m và âm
thầm lặng lẽ với công việc. Vẫn yêu đời, nuôi gà, trồng hoa, đọc sách và lấy
sự chờ đợi, gặp gỡ những chuyến xe lên làm niềm vui.
Sống âm thầm nhng anh không lạnh lùng, vô cảm, trái lại, anh rất nhạy
cảm, luôn hớng về cuộc sống, luôn nhớ ngời, thèm ngời. Con ngời này biết hi
sinh những lợi ích cá nhân. Trong câu chuyện với mọi ngời, anh tiết kiệm
từng phút thời gian, chỉ sợ niềm vui gặp gỡ sẽ qua nhanh. Và khi phải tiễn
khách thì thật cảm động, một bó hoa toi, một làn trứng gà cho khách. Tâm
hồn anh đẹp, trong sáng, một cuộc đời đẹp không chỉ là hình thức mà đẹp ở
nội tâm. Anh thanh niên còn đẹp trong những suy nghĩ. Đó là những âm
vang từ suy nghĩ đẹp : anh không tự đánh giá cao cá nhân, khớc từ họa sĩ vẽ
về mình, anh ngợi ca những ngời khác nh ông kĩ s vờn rau và anh cán bộ bản
đồ sét. Suy nghĩ từ anh về Sa Pa : Nơi mà mới nghe tên, ngời ta đã nghĩ tới sự

khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đủ là giá trị của một chuyến đi dài".
ở tuổi già, tuổi của những nghỉ ngơi, trái tim ngời nghệ sĩ này bỗng nh trẻ
lại, thấy cuộc sống còn bao ý nghĩa, khát khao sống, khát khao sáng tạo. Ông
họa sĩ muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút ký họa : "Ngời con
trai ấy đáng yêu thật nhng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm ngời
ta suy nghĩ về anh, và về những điều anh suy nghĩ cuồn cuộn hiện ra khi
gặp ngời". Với nhà họa sĩ, vẽ bao giờ cũng là một việc khó nhọc, gian nan.
Cảm giác "nhọc mệt" mà ngời thanh niên cho ông chính là niềm vui, hạnh
phúc, sung sớng đợc gặp con ngời ngoài đời, chân dung nghệ thuật mà ông
khát khao đi tìm. Một trái tim nghệ thuật, một khát khao tiếp tục đợc sáng
tạo, đợc cống hiến sống dậy, thúc dục ông phải vẽ. Giây phút xúc động ấy,
ông nhận ra đợc những âm vang đẹp đẽ, ngọt ngào của cuộc đời, để rồi vang
vọng mãi trong tâm hồn ông, biến thành tac phẩm nghệ thuật.
Những lời nói, suy nghĩ, ứng xử, thái độ chân thành của anh thanh niên
đã bắt ông suy nghĩ về những cái đã làm và cha làm đợc, cái ông dám nghĩ
mà không dám làm. Những nghĩ suy về nghệ thuật với sức mạnh và sự bất
lực "có sẵn mà cha rõ hay cha đúng" về mảnh đất Sa Pa mà ông nghĩ đến
"nghỉ ngơi trong giai đoạn cuối đời". Cho nên nhân vật hoạ sĩ già còn là hoá
thân bằng xơng thực của một tuyên ngôn nghệ thuật.
Nhân vật ông họa sĩ già là nét đẹp trong cuộc sống, một con ngời ý thức đ-
ợc vị trí, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nớc, là ngời
nhạy cảm trớc cái đúng, cái sai, ái đẹp luôn hớng thiện, mong muốn làm điều
tốt đẹp cho cuộc sống. Hình ảnh ông cùng các nhân vật khác để lại cho Lặng
lẽ Sa Pa những vang vọng, tác động mạnh đến t tởng, tình cảm của mỗi ngời.
1. Cảm nghĩ của em về tình cha con trong chiến tranh qua truyện
Chiếc lợc ngà của Nguyễn Quang Sáng
Bài làm
Truyện Chiếc lợc ngà (Nguyễn Quang Sáng) đợc viết trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ nhng chủ yếu tập trung nói về tình ngời trong cảnh
ngộ éo le của chiến tranh. Đoạn trích Chiếc lợc ngà (Sgk Văn 9, tập I) thể

má của ba nó nữa , hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không
thể giữ đợc ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai
nhỏ bé của nó run run.
Đối với ngời cha, đó là tiếng ba đầu tiên và cũng là tiếng yêu thơng
cuối cùng ông đợc nghe từ con ! ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận
trọng, tỉ mỉ làm cho con chiếc lợc ngà. Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha
con. Chiếc lợc trở thành vật thiêng, an ủi ông gỡ rối phần nào tâm trạng,
nuôi dỡng tình cha con. Ông thờng xuyên lấy cây lợc ra ngắm nghía rồi
mài lên tóc cho cây lợc thêm bóng, thêm mợt. Lòng yêu con đã biến ngời
chiến sĩ thành một nghệ nhân - nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy
nhất trong đời. Trớc khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lợc, nhờ
bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó là một ớc nguyện giữ gìn
muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt.
Truyện Chiếc l ợc ngà đã diễn tả một cách cảm động tình cha con
thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến
tranh. Hình ảnh cây lợc đợc gắn vào đó một trái tim thổn thức tình ruột thịt,
khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng !
9
2. Học xong truyện Chiếc lợc ngà của Nguyễn Quang Sáng em hãy viết
hai bài văn ngắn để triển khai các nội dung :
a) Bé Thu và một tình yêu cha đằm thắm, kì lạ.
b) Ông Sáu - Ngời hi sinh cả cuộc đời để gìn giữ tình cha con bất diệt.
Bài làm
a) Bé Thu và một tình yêu cha đằm thắm, kì lạ
Có một nhà văn đã nói rằng : "Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp
bằng chính cuộc sống viết ra". Cuộc chiến tranh chống Mĩ của dân tộc ta với
biết bao câu chuyện đã trở thành huyền thoại đợc các nhà văn ghi lại nh
những câu chuyện cổ tích hiện đại. Trong số ấy phải kể đến "Chiếc lợc ngà"
của Nguyễn Quang Sáng. Nhân vật cô bé Thu tám tuổi có một tình yêu cha
đằm thắm, kì lạ, tiêu biểu cho những điều kì diệu mà những con ngời Việt

ông phải hi sinh vẻ đẹp trai trẻ của mình. Đó là nỗi đau về thể xác.
Nhng điều đáng nói ở đây là nỗi đau tinh thần của ông Sáu. Mấy ngày về
thăm nhà, đứa con gái duy nhất mà ông yêu thơng đã không nhận cha, không
một lời gọi ba. Mãi đến phút cuối cùng trớc khi chia tay ông mới đợc hởng
hạnh phúc của ngời cha, nhng thật ngắn ngủi để rồi cuối cùng ông mãi mãi
phải xa con. Thật là xót xa, trong những ngày chiến đấu gian khổ, sống và
chết đều phải bí mật. Tuy nhiên, ngời cha đau khổ, lặng lẽ ấy là một chiến sĩ
anh hùng và không bao giờ chết vì ông là ngời cha hết mực yêu thơng con,
ông ớc hẹn sẽ làm chiếc lợc ngà thật đẹp cho con, ông đã dành tất cả tình th-
ơng yêu, tâm huyết để làm chiếc lợc ngà nh một biểu tợng cùa tình cha con
bất diệt. Dù cha trao tận tay con gái chiếc lợc nhng trớc khi mất ông đã kịp
trao nó cho một ngời bạn và ông hi vọng chiếc lợc sẽ tìm đợc địa chỉ để mãi
mãi tình cha con không chết.
Câu chuyện Chiếc lợc ngà gợi nên tình cảm sâu nặng của ngời cha
dành cho con. Tình cảm ấy là bất diệt. Chiến tranh gieo đau thơng, mất mát,
và chết chóc là một điều không thể tránh khỏi nhng tình cảm thiêng liêng
của con ngời mà ở đây là tình cha con không bao giờ mất. Đây cũng là chủ
đề của tác phẩm này.
2. Tóm tắt trích đoạn Chiếc lợc ngà của Nguyễn Quang Sáng
Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến lúc con gái mới đợc một tuổi. Bảy
năm sau, ông có dịp về thăm nhà. Ông vui mừng muốn ôm ấp, vỗ về con, nh-
ng bé Thu không nhận cha, đối xử với ông lạnh lùng nh ngời xa lạ, vì trên
mặt ông Sáu có vết thẹo không giống với ngời cha trong ảnh chụp mà em đã
biết. Sau đó nhờ bà ngoại giải thích, Thu mới hiểu. Trong phút chia tay, nỗi
khát khao đợc gặp cha, tình yêu cha trong cô bé bùng dậy, hối hả, cuống
quít. Tại khu căn cứ, ông Sáu đã dồn hết tình yêu thơng, nỗi nhớ đứa con gái
yêu vào việc làm một chiếc lợc ngà để tặng con. Trong một trận càn, ông đã
hi sinh. Trớc lúc nhắm mắt xuôi tay, ông còn kịp trao cây lợc ấy cho một ng-
ời bạn. Cuối cùng chiếc lợc đến đợc tay con gái thì cha con đã không bao giờ
đợc hội ngộ nữa. Tác phẩm là bài ca đâu xót nhng đẹp đẽ về tình cha con

chia ngọt, sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là ngời bạn, tri âm, tri kỉ.
ấy mà có những lúc tác giả tự thú nhận là mình đã lãng quên cái vầng
trăng tình nghĩa ấy :
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện, cửa gơng
Vầng trăng đi qua ngõ
Nh ngời dng qua đờng .
Trớc đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng bây giờ môi trờng đã
thay đổi. Từ hồi về thành phố đời sống cũng thay đổi theo : quen ánh điện,
cửa gơng . ánh điện , cửa g ơng tợng trng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ
sang trọng dần dần cái vầng trăng tình nghĩa ngày nào bị lãng quên.
Vầng trăng ở đây tợng trng cho những tháng năm gian khổ, đó là tình bạn,
tình đồng chí đợc hình thành từ những tháng năm ấy. Trăng bây giờ thành
ng ời dng Con ngời ta thờng hay đổi thay nh vậy. Bởi thế đời vẫn thờng
nhắc nhau : ngọt bùi nhớ lúc đắng cay. ở thành phố vì quen với ánh điện,
cửa gơng quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên ngời đã không thèm để ý
đến Vầng trăng - con ngời, mảnh đất từng là tri kỉ một thời.
12
Phải đến lúc toàn thành phố mất điện :
Phòng buyn đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn
Vầng trăng xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy ng-
ời lính năm xa mới bàng hoàng trớc vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu
kỉ niệm xa bỗng ùa về làm "Con ngời này" cứ rng rng nớc mắt.
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rng rng "
" ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình .
Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao

do hoàn cảnh con ngời đã lãng quên để rồi từ trong sâu thẳm tâm hồn, con
ngời phải day dứt. Hai khổ kết bài thơ này mang hàm nghĩa độc đáo đó :
Trăng cứ tròn vành vạnh

Đủ cho ta giật mình
Vầng trăng vẫn đẹp và tròn đầy nh biểu tợng bao dung, nghĩa tình của
nhân dân không đòi hỏi đợc đền đáp. Nhng trăng cũng "im phăng phắc" với
ánh mắt nghiêm nghị, thái độ nghiêm khắc. Khiến tình cảm ngời lính trong
giây lát đã lãng quên quá khứ, trong sa ngã đời sống đã tự vấn lơng tâm
mình, tự sám hối với lòng mình. Cái rng rng muốn bật khóc và cái giật mình
tỉnh ngộ là tấm lòng chân thực của ngời lính vốn cao đẹp không thể khác.
Với ý nghĩa này, ánh trăng mang tính chất triết lí sâu sắc, có tác dụng
cảnh tỉnh những ai dễ lãng quên quá khứ tốt đẹp. Cần biết sống thủy chung,
nghĩa tình.
Sau chiến tranh "Thời tôi sống biết bao câu hỏi lớn/ Câu trả lời thật không
dễ dàng chi". ánh trăng của Nguyễn Duy giúp mỗi ngời tìm đợc câu trả lời
thấm thía trong cái "giật mình", "rng rng" ấy.
Từ bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy em hãy viết lại những
suy t của ngời lính sau chiến tranh.
Bài làm
Cuộc kháng chiến đã qua đi, ngời lính trong chiến tranh giờ đây đã về
với cuộc sống hàng ngày. Tởng nh sự bận rộn hôm nay sẽ khiến ngời ta quên
lãng quá khứ. Nhng có một lúc nào đó trong đời thờng những kỉ niệm chiến
tranh lại nh những thớc phim quay chậm hiện về. Nguyễn Duy gửi tới bạn
đọc thi phẩm ánh trăng cũng chính là gửi tới bạn đọc thông điệp : Không
nên sống vô tình, phải biết thủy chung nghĩa tình cùng quá khứ.
Hồi nhỏ sống với đồng
Với sông rồi với bể
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ .

Đột ngột vầng trăng tròn .
Khi ánh trăng nhân tạo vụt tắt, bóng tối bao trùm khắp không gian thì
vầng trăng xuất hiện khiến con ngời ngỡ ngàng trứơc ánh trăng thân thơng
của tuổi thơ trên những nẻo đờng ta sống và trong cuộc chiến gian khổ, ác
liệt. Cuộc sống hiện đại làm cho lòng ngời thay đổi Trớc ngời bạn vô tình
ấy, trăng chẳng nói, chẳng trách khiến ngời lính cảm thấy có cái gì rng rng.
ánh trăng soi chiếu khiến ngời ta nhận ra độ lệch của nhân cách mình.
Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi ngời vô tình
ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình .
ánh trăng trớc sau vẫn vậy mộc mạc, giản dị và thủy chung. Trăng lặng
lẽ tròn đầy một cách trong sáng, vô t, mặc cho thời gian trôi, mặc cho bạn
15
bầu xa ai đó quay lng dù trong quá khứ trăng là tri kỉ. Nhng trăng cũng khơi
gợi niềm xúc động, đánh thức lơng tâm ở con ngời. Cái giật mình đợc diễn tả
trong khổ thơ vô ngôn thể hiện sự bình tĩnh đáng quí. Qua bài thơ Nguyễn
Duy đã khám phá ra vẻ đẹp không bao giờ kết thúc. Dờng nh cuộc sống mới
đầy đủ hơn khiến cho con ngời lãng quên ánh trăng. Hành trình đi tìm những
hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn con ngời không bao giờ ngơi nghỉ và việc
hoàn thiện mình của chính mỗi con ngời cũng không phải một sớm một
chiều.
Cuộc đấu tranh hớng thiện âm thầm mà khốc liệt, nó đòi hỏi lòng dũng
cảm của con ngời. Ngời lính năm xa đã dành trọn quá khứ soi mình trong
hiện tại để đấu tranh loại bỏ sự vô tình vô nghĩa của bản thân, hớng tới sự
cao cả, tốt đẹp.
ánh trăng là bài thơ không quên về quá trình hớng thiện, quá trình
hoàn thiện mình của mỗi con ngời trong cuộc sống hôm nay.
1. Phân tích hình ảnh ngời mẹ trong bài thơ Khúc hát ru những em bé
lớn trên lng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm

vô bờ của ngời mẹ đối với đứa con đợc thể hiện bằng lời và những hình ảnh
độc đáo :
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ con nằm trên lng.
Trong câu thơ trên hình ảnh mặt trời là một hình ảnh thực. Mặt trời đem
lại ánh sáng, sự sống cho cây cỏ, làm cho cây cỏ thêm tơi tốt, nh cây ngô bắp
to, hạt mẩy. Hình ảnh mặt trời ở câu thơ sau là ẩn dụ. Tác giả so sánh ngầm
Cu Tai là mặt trời của mẹ. Coi con nh mặt trời thì quả là lòng mẹ yêu quí con
vô hạn, mong đợi ở con rất nhiều. Đó là ánh sáng, là nguồn sống, là niềm
vui, là niềm hạnh phúc, là tất cả tơng lai của mẹ. Hai câu thơ, hai hình ảnh
tôn nhau lên, đối ý với nhau, đã làm nổi bật tình thơng yêu sâu sắc và niềm
hi vọng lớn lao của ngời mẹ đối với đứa con. Lời ru của ngời mẹ Tà Ôi ngân
nga trong trái tim mẹ khi mẹ địu con đi tỉa bắp vẫn hớng về đứa con thơ yêu
quí của mình. Lòng thơng yêu con của mẹ trong hoàn cảnh này gắn liền với
tình thơng yêu dân làng - những ngời dân lao động nghèo đói :
Mẹ thơng A Kay, Mẹ thơng làng đói
Con mơ cho mẹ hạy bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mời Ka Li .
Trong đoạn thơ thứ ba, ngời mẹ địu con trong t thế đang chuyển lán ,
đạp rừng . Bà mẹ băng rừng, địu con trên lng đa con đi để giành trận
cuối. Lòng yêu con của mẹ đến đây gắn liền với lòng yêu nớc : Mẹ thơng
A Kay mẹ thơng đất nớc. Ngời mẹ gửi gắm vào giấc mơ của con niềm khao
khát đợc gặp Bác Hồ và mong đất nớc đợc độc lập tự do :
Con mơ cho mẹ đợc gặp Bác Hồ
Mai sau con lớn thành ngời tự do .
Tiếng hát ru con của ngời mẹ Tà Ôi không phải đợc cất lên bên cánh
võng hay trên giờng ấm nệm êm trong phòng ngủ. Tiếng hát ru ấy ngân lên
trong trái tim của mẹ khi mẹ địu con giã gạo, tỉa bắp trên núi, khi mẹ
chuyển lán , đạp rừng hoặc trên đờng ra chiến trờng để giành trận cuối.
17

Điềm)
Bài làm
Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết :
Ta đi trọn kiếp con ngời
Vẫn cha đi hết những lời mẹ ru
Lời ru của mẹ chính là nguồn năng lợng tinh thần để giúp mỗi chúng
ta trởng thành nên ngời. Bởi thế cảm xúc về lời ru của mẹ đã đi vào nghệ
thuật và thơ ca. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng xuất phát từ truyền thống
18
này nhng có sự sáng tạo rất mới với Khúc hát ru những em bé lớn trên lng
mẹ.
Bài thơ đợc viết năm 1971 in trong tập "Đất và khát vọng". Cảm xúc
bao trùm bài thơ là tình cảm chân thành của tác giả về hình ảnh ngời mẹ dân
tộc Tà Ôi với tình thơng con, thơng bộ đội, yêu đất nớc.
Đoạn thơ mở đầu chính là lời hát ru của tác giả nói về hình ảnh mẹ giã gạo
nuôi bộ đội và rất yêu thơng con :
Em cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi

Lng đa nôi và tim hát thành lời
Mở đầu là điệp khúc ngọt ngào tha thiết: Em Cu Tai ngủ trên lng mẹ
ơi/ Em ngủ cho ngoan đừng rời lng mẹ.Tác giả vỗ về em Cu Tai ngủ bởi vì :
mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội, nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng. Tiếng ru
con ngủ "nghiêng" theo nhịp chày làm cho giấc ngủ của em cũng "nghiêng"
theo. Con cũng đang chia sẻ theo công việc của ngời mẹ. Công việc giã gạo
nuôi bộ đội không chỉ là công việc đơn thuần mà nó thật sự có ý nghĩa cao
cả, hớng về sự nghiệp chung của cuộc kháng chiến chống Mĩ của toàn dân
tộc.
Sự vất vả của mẹ đợc diễn tả trong câu thơ :
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối

Việc đồng hiện lên hình ảnh Bếp lửa và bà trong bài thơ thật dễ
khiến cho ngời ta có một sự liên tởng về mối quan hệ lạ kì, thiêng liêng. Từ
bếp lửa của củi rơm đến Bếp lửa của lòng ngời có lẽ hơn bao giờ hết con
ngời cảm nhận thật rõ về tình bà cháu, tình quê nồng ấm.
Một bếp lửa chờn vờn sơng sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đợm
Cháu thơng bà biết mấy nắng ma
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hum nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.
Cái nỗi nhớ về bếp lửa đợc nói trực tiếp song không vì thế mà giảm đi
phần sâu lắng, tinh tế. Hình ảnh Bếp lửa gợi nhớ bằng nhiều giác quan
bằng trí tởng tợng. Thị giác (chờn vờn sơng sớm), cảm giác (ấp iu nồng đợm)
và khớu giác (sống mũi còn cay) rồi xúc giác (hun nhèm mắt cháu). Tác giả
hớng mọi giác quan để quay về sống lại kỉ niệm trong trí tởng tợng. Dờng
nh không còn cảm giác khoảng cách của thời gian ở đây nữa, mọi hình ảnh
gắn với bếp lửa đã tái hiện chân thật, rõ ràng từ một thời kí ức xa xôi ! Hình
ảnh bếp lửa còn gắn với ngời bà đầy thân thơng. Tuy không trực tiếp nói ra
song ngời đọc hình dung đợc công việc của ngời bà : nhóm bếp. Tuổi thơ
của cháu gắn với bếp lửa, với mùi khói cay nhèm và cũng gắn chặt với bà.
Phải chăng hình ảnh: Một bếp lửa ấp iu nồng đợm chính là hoá thân của
tình cảm bà dành cho cháu. Vì vậy có lẽ tìm về với bếp lửa quê nhà cũng
chính là tìm về tuổi thơ sống bên bà dành cho cháu. Sự tơng đồng đẹp đẽ ấy
dễ thờng mấy ai nhận ra. Chỉ có Bằng Việt với khoảng cách thời gian đầu đời
trong sáng đợc gắn bó bên bà mới có thể cảm sâu sắc đến thế, cái tởng
chừng quá bình dị, mộc mạc. Đắm mình trong dòng hồi ức tơi mát của tác
giả, chúng ta muốn tìm đến với những tình thơng yêu nồng hậu nh thế.
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

thành một hình ảnh cứ trở đi trở lại trong bài thơ, trong tâm trí ngời cháu và
không lần nào cái bếp lửa bình dị ấy không gắn với hình ảnh ngời bà tảo tần,
đầy thân thơng. Và vì lẽ đó mà ngời ta có cảm giác bếp lửa kia chính là tình
cảm của ngời bà đôn hậu.
Nếu có một bếp lửa quê nhà vẫn chờn vờn sơng sớm thì cũng có một
ngọn lửa tình bà ấp iu nồng đợm. Có lúc hai thứ lửa ấy cùng tách ra, lại có
khi hợp cùng nhau. Khi tách ra nó gợi về những kỉ niệm : kỉ niệm về bếp lửa
củi rơm (khói hun nhèm mắt cháu , sống mũi còn cay ) kỉ niệm về bếp lửa
tình bà (Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế , bà dạy cháu làm bà chăm
cháu học) Nhng khi đã hoà hợp với nhau nó trở thành một thứ tình cảm
thiêng liêng, kì lạ biết bao trong cái bình dị. Sống mũi còn cay là thực của
ngày xa ngồi cạnh bếp lửa, bên bà và là thực của hôm nay (và chắc là mãi
mãi) của tình bà cháu.
21
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đợm
Nhóm niềm yêu thơng khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm hồn tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - Bếp lửa .
Trong cái hoà quyện tuyệt vời, ngời ta thấy cái nóng cái đợm của bếp
lửa củi rơm cũng nh cái nồng cái ấm áp của bếp lửa lòng ngời. Bếp lửa kì
lạ, thiêng liêng ấy nhóm khoai sắn ngọt bùi, nồi xôi gạo mới cũng dành
nhóm cả niềm yêu thơng, tâm tình tuổi thơ. Thực là diệu kì. Tại sao nói
đoạn thơ trên là một trong những đoạn hay nhất của bài thơ, câu trả lời có lẽ
nằm ở cái tình ấm lửa trong đó mà lúc nào cũng đợc ấp ủ.
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng .
Tình cảm của bà rõ ràng đã đợc tợng trng hoá với ngọn lửa. Nếu nói
Bếp lửa e cha thật trúng, còn nói ngọn lửa thì ngời ta cảm thấy cái linh
hồn, tình cảm đã nằm ngay ở đó. Ngọn lửa ấy phải chăng là tâm huyết, nhiệt

Một đứa con xa quê hơng, một đứa cháu xa bà luôn luôn thờng trực
trong nỗi nhớ về Bếp lửa - về tình yêu ấm nồng tởng nh cái lạnh cái cô đơn
ở quê ngời cũng đôi chút vợi đi vậy. Nhng nhớ về cái Bếp lửa phải chăng
cũng đồng nghĩa với việc nhớ quê nhà, nhớ về bà đồng nghĩa với việc nhớ về
tổ ấm gia đình với niềm vui sum họp.
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà. Niềm vui trăm ngã
Nhng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên cha?
Trong tình cảm của bà có tình cảm của đất nớc, tác giả nhớ đến tình bà
cũng là nhớ đến đất nớc quê hơng. Có ngời từng nói: Lòng yêu nhà, yêu
làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc Nói nh vậy có nghĩa là
tình cảm của bà trở nên lòng yêu Tổ quốc là một ẩn dụ của tình cảm của đất
nớc dành cho những ngời xa quê. Hành trình từ Bếp lửa đến Bếp lửa là
hành trình của giọt nớc hoà vào suối và đổ ra sông Càng ngày càng thiêng
liêng, cao cả. Bếp lửa là một dòng hồi tởng chờn vờn, nồng đợm, rực
sáng mãi không thôi trong lòng những ngời dù chỉ đến với nó một lần. Làm
sao chúng ta sống lại tuổi ấu thơ cảm động bên ngời bà yêu dấu với tình th-
ơng bao la, sâu đậm ở một miền quê còn nhiều đau khổ. Một ngọn lửa mãnh
liệt nh vậy liệu có bao giờ vụt tắt đợc chăng ?
1. Hãy chọn một số câu thơ trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
để viết một bài văn có tên đề : Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn.
Bài làm
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con ngời lao
động mới hăng say, khỏe khoắn giữa thiên nhiên kì ảo. Gam màu chủ yếu
của bức tranh thơ này là màu sáng lóng lánh. Để rồi, khi đọc thi phẩm ta
cảm tởng lạc vào đêm hoa đăng chiến thắng trên biển - Hào hùng, tráng lệ và
lãng mạn.
Nh bao bài thơ khác, thiên nhiên xuất hiện trong Đoàn thuyền đánh cá
thật quen thuộc : mặt trời, trăng, sao, gió, mây Tuy nhiên, bằng cái nhìn

hát của con ngời cùng đa con thuyền lao động tiến vào trùng dơng. Trăng,
sao, điểm tô cho bức vẽ con ngời xông pha vào đại dơng bao la thêm phơi
phới hơn. Nhịp điệu lao động của con ngời đã mang nhịp thiên nhiên, vũ trụ
một cách nhịp nhàng, hài hòa. Trong bài thơ : trời, mây, biển cả đợc tráng lệ
hóa để mang hồn lao động, con ngời lao động đợc cao cả hóa để mang tầm
vũ trụ.
Gấp trang thơ của Huy Cận lại, những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng
mạn vẫn còn mãi trong trí tởng tợng của chúng ta. Với cách sử dụng màu
sắc, với cách vận dụng các thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa và thậm xng,
Huy Cận đã sáng tạo nhiều hình ảnh đẹp, đầy ý nghĩa. Một không gian tráng
lệ tràn ngập niềm vui và câu hát, một rạng đông trên biển và một rạng đông
trong lòng ngời, vì đối với Huy Cận "Trời mỗi ngày lại sáng" và "biển đang
hát" .
2. Viết lời bình cho khổ thơ sau đây :
Câu hát căng buồm với gió khơi
24
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)
Bài làm
Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận sau cách mạng
Tháng Tám, đợc in trong tập thơ "Trời mỗi ngày lại sáng". Đây là bài thơ có
kết cấu độc đáo : đoàn thuyền đánh cá xuất phát khi đêm xuống trên biển và
trở về khi bình minh đón chào một ngày mới trên biển. Cả bài thơ là bức
tranh lao động lung linh sáng đẹp trên biển, vừa là tiếng hát lạc quan của
những chủ nhân biển khơi.
Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng âm hởng của tiếng hát vui say lao
động vẫn ngân nga trong lòng ngời :
Câu hát căng buồm với gió khơi


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status