KN dạy lịch sử 8 - Pdf 18

Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
Bộ môn lịch sử ở nhà trờng phổ thông Việt nam
Về lí luận và thực tiễn, bộ môn lịch sử đã đợc thừa nhận có vị trí, ý
nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Nội dung và phơng
pháp dạy học mang tính chất thời đại và giai cấp rõ rệt. Việc nhận thức
vị trí, chơng trình, SGK lịch sử ở n ớc ta sau cách mạng tháng tám
( 1945), nhất là từ sau triển khai cải cách giáo dục(1981) là việc cần
thiết.
I. Vài nét về việc dạy học lịch sử ở Việt Nam trớc năm 1945.
Dân tộc Việt Nam có lịch sử lâu đời. Từ xa, nhân dân ta đã coi
trọng việc lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ. Trong các câu chuyện cổ
tích, truyền thuyết, thần thoại, ca dao có nhiều yếu tố của tri thức lịch
sử, phản ánh nhiều sự kiện lớn của công cuộc dựng nớc và giữ nớc của
dân tộc. Lịch sử của dòng họ, địa phơng( xã, huyện, tỉnh, miền) ra đời
từ khá lâu, có tác dụng không nhỏ vào việc giáo dục truyền thống,
lòng tự hào và trách nhiệm đối với quê hơng, Tổ Quốc.
Từ sau khi nớc nhà thoát khỏi sự đô hộ của phong kiến phơng Bắc
( Thề kỉ thứ X). Nền giáo dục dân tộc hình thành và phát triển. Lịch
sử giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy học, thi cử để tuyển chọn
nhân tài. Tuy có những hạn chế về thời đại và giai cấp, việc dạy học
lịch sử thời phong kiến dân tộc có nhiều khởi sắc. Nhằm vào mục tiêu
Dạy chữ để dạy ngời việc học tập lịch sử để Ôn cố nhi tri tân
(Nhắc cái cũ để biết cái mới) có tác dụng trọng việc đào tạo thế hệ trẻ
thành những thanh niên yêu nớc>Nhiều tác phẩm sử học đợc biên soạn
nh Đại Việt Sử kí của LêVăn Hu ( thế kỉ XIII), Đại Việt sử kí toàn th
của Ngô Sĩ Liên ( Thế kỉ XV), các tác phẩm của Lê Quý Đôn, Phan
Trang1
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
Huy Chú, của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn là công trình nghiên cứu
lịch sử dân tộc có giá trị, đợc sử dụng để làm tài liệu học tập. Loại
SGK lịch sử chẳng có bao nhiêu, nh Quốc sử tiểu học của Phạm Đình

Nguyễn ái Quốc đã thực sự giảng dạy nh một giáo viên lịch sử ở các
lớp huấn luyện cán bộ cách mạng tại Quảng Châu( Trung Quốc)
những năm 1925 1927, ở trờng đại học phơng đông cho các học
viên việt nam, ở các lớp học của một số cán bộ ở Pắc bó. Những bài
viết và sách của ngời đã đi vào cuộc sống của nhân dân ta lúc bấy giờ
nh những tài liệu giáo khoa lịch sử. Ngời cũng để lại cho chúng ta
nhiều kinh nghiệm quý về phơng pháp giảng dạy, nh xác định kiến
thức cơ bản, cách trình bày sinh động, cụ thể, có hình ảnh, việc liên hệ
đối chiếu tài liệu lịch sử quá khứ với hiện taị để rút kinh nghiệm, bài
học
Có thể nói rằng, nhân ta coi trọng và có kinh nghiệm trong việc dạy
học lịch sử, để lại cho chúng ta nhiều bài học quý cần nghiên cứu, khai
thác và vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện ngày nay. Việc
nghiên cứu có hệ thống, toàn diện, sâu sắc về dạy học lịch sử ở Việt
Nam là yêu cầu quan trong đợc đặt ra, nhằm rút ra nhiều bài học quý
cho công cuộc cải cách giáo dục bộ môn hiện nay.
II.Môn lịch sử trong nhà trờng phổ thông Việt Nam 1945 1975.
Cũng nh các môn học khác, việc dạy học bộ môn lịch sử ở trờng phổ
thông từ cách mạng tháng tám 1945 đến nay trải qua nhiều giai đoạn
phát triển.
. Năm học đầu tiên sau cách mạng, Đại hội giáo giới toàn quốc
tháng tám 1946 đã khẳng định ba nguyên tắc xây dựng giáo dục mới
của Việt nam là: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Tuy nhiên trong hoàn
Trang3
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
cảnh gặp nhiều khó khăn các trờng vẫn phải tạm thời áp dụng chơng
trình cũ ( tức là chơng trình Hoàng Xuân Hãn ban hành dới thời
chính phủ Trần Trọng Kim chứ cha có thay đổi đáng kể ).
Ngày 19 tháng 12 năm1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.
Đất nớc chia thành hai vùng khác nhau với hai nền giáo dục khác

Cấu trúc của chơng trình cũng cha hợp lí ( ở cấp II học sinh đợc học
toàn lịch sử dân tộc mà không đợc biết chút nào về lịch sử thế giới; ng-
ợc lại hai năm ở cấp III học sinh chỉ đợc học lịch sử thế giới mà không
đợc nâng cao kiến thức về lịch sử dân tộc).
Cho tới nay, chung ta không có số liệu phản ánh chất lợng học tập
môn lịch sử trong giai đoạn này. Song theo đánh giá chung của Bộ
giáo dục chất lợng dạy học còn thấp. Sự đánh giá đó không chỉ căn cứ
ở mặt hạn chế của chơng trình mà còn ở các điều kiện dạy học khác.
Về SGK tuy bộ giáo dục đã tổ chức hai trại tu th, song do tình hình
chiến sự và thiếu điều kiện ấn loát nên hầu nh không xuất bản đợc
cuốn sách giáo khoa nào. Nhiều địa phơng cũng tổ chức viết SGK nh-
ng kết quả chỉ in đợc một hai cuốn với số bản rất hạn chế. Giáo viên
dạy môn sử phần lớn không đợc đào tạo và bồi dỡng đầy đủ nhiều ng-
ời từ các bộ môn khác kiêm nhiệm công việc này. Điều kiện trờng sở
nghèo nàn, nhiều trờng phải học vào ban đêm, thời gian dạy học rất
thất thờng.
Tóm lại: Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài với biết bao khó khăn
của nhà trờng cũng nh điều kiện sinh hoạt và học tập của học sinh mà
tiếp tục duy trì đợc việc dạy học bô môn theo chơng trình mới là một
cố gắng rất lớn, đáng tự hào của thế hệ đi trớc.
Cũng trong giai đoạn này, ở vùng tạm chiếm năm 1949 1950. Bộ
Trang5
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
giáo dục của Ngụy quyền cũng tiến hành cải cách giáo dục. Nguyên
tắc xây dựng chơng trình môn lịch sử đợc đề ra là: Lịch sử nớc nhà,
bấy lâu nay bị bỏ rơi, sẽ đợc đặt vào vị trí một môn học xứng đáng
và trình bày giảng dạy mộc cách khoa học. Nguyên tắc là nh vậy,
song khi chọn lựa và trình bày nội dung lịch sử thì lại khác. Ngay từ
lớp đệ ngũ, học sinh đã phải học nhiều về lịch sử nớc Pháp. Những sự
kiện lớn nh cách mạng tháng Mời Nga. Cách mạng Trung Quốc

Trong thực tế, do điều kiện thời gian gấp rút và quan niệm giản đơn
không tính đến những điều kiện cần thiết để thực hiện chơng trình nh
trình độ của thầy, cơ sở vật chất của trờng nên ch ơng trình và SGK
chủ yếu là dựa vào chơng trình và SGK phổ thông 10 năm của Liên
Xô. Vì vậy chơng trình học tuy đảm bảo đợc tính hệ thống nhng bộc lộ
những nhợc đểm mà rõ nhất là sự ôm đồm, nặng nề. Học sinh cấp II
học toàn bộ lịch sử thế giới từ cổ đại đến hiện đại, với tổng số giờ là
111 tiết; nên cấp III học sinh lại đợc học nâng cao phần lịch sử thế giới
cận và hiện đại với tổng số giờ là 134 tiết. Chơng trình và nội dung
SGK quá nặng nh vậy làm cho giáo viên không dạy tốt, hiệu quả học
tập của học sinh thấp.
Đến năm học 1958 1959 trớc thực tế trên chơng trình đợc lợc
giản mạnh mẽ. Một số phần đợc tớc bỏ hẳn ( phần lớn lịch sử thế giới
ở cấp II, trừ một số bài thuộc thời kì hiện đại ở lớp 7 và lịch sử Việt
Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở cấp III). Sự lợc giản lại quá
mức và tiến hành một cách đơn giản nh vậy tuy làm cho chơng trình
gọn nhẹ nhng tạo ra những lỗ hổng trong hệ thống kiến thức cung cấp
cho học sinh từng cấp nhất là về mặt lịch sử thế giới. Vì vậy từ năm
học 1960 1961 liên tiếp có sự điều chỉnh, bổ sung chơng trình và
Trang7
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
SGK để khắc phục nhợc điểm trên (1960 1961; 1961 1962; 1964
1965; 1969 1970).
Tóm lại: Đến trớc cải cách giáo dục lần thứ ba (1981) chơng trình và
SGK lịch sử ở trờng phổ thông căn bản là theo chơng trình 1958
1959. Tất nhiên trong thời kì kháng chiến chống Mỹ có thay đổi chút
ít.
u điểm nổi bật nhất của các chơng trình trớc năm 1981 ở miền Bắc
là đã có phơng hớng t tởng chính trị đúng đắn và ngày càng rõ nét.
Việc lựa chọn trình bày kiến thức đã cố gắng quán triệt các quan diểm

ở vùng giải phóng mục tiêu của giáo dục đợc ghi rõ ở điểm 5 trong
chơng trình 10 điểm của mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt
Nam: Bài trừ văn hoá nô dịch đồi bại kiểu Mỹ, xây dựng một nền
văn hoá và giáo dục dân tộc và tiến bộ. Chơng trình các môn học ở tr-
ờng phổ thông đã đợc xây dựng trên tinh thần đó. Song do hoàn cảnh
khó khăn đối với cấp II và cấp III tạm thời vẫn dùng SGK của ngụy
quyền đợc tu chỉnh lại.
Tới năm 1972 với sự giúp đỡ của cơ quan giáo dục miền Bắc chơng
trình và SGK môn sử cũng nh các môn học khác ở các trờng phổ thông
vùng giải phóng đã đợc ấn hành về cơ bản. Chơng trình và SGK môn
sử tiếp thu những mặt u điểm và khắc phục những nhợc điểm của ch-
ơng trình và SGK miền Bắc.
ở vùng ngụy quyền quản lý, từ năm 1954 đến 1975 về cơ bản chơng
trình môn sử cũng nh các môn học khác đã trải qua hai lần cải tổ:
1954 và 1970.
Từ 1954 đến 1970 chơng trình môn sử đã nhiều lần cải tiến ( 1958,
1961, 1970) theo hớng cập nhật hoá với khoa học lịch sử còn về cơ
Trang9
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
bản không có gì thay đổi lớn.
Từ năm 1970 bộ giáo dục ngụy quyền tiến hành thực hiện chơng
trình trung học tổng hợp trên 100 trờng.
Cấu trúc của hai chơng trình cũng có những điểm khác nhau. Chơng
trình cũ trình bày lịch sử theo diễn biến cuả thời gian, còn chơng trình
trung học tổng hợp trình bày lịch sử theo vấn đề đợc bổ dọc( lợc sử,
lịch sử văn minh, lịch sử kinh nghiệm ) ch ơng trình cũ xem nhẹ nội
dung lịch sử thế giới ( chiếm 1/7 tổng số thời gian) và chỉ học lịch sử
cận hiện đại thế giới. Chơng trình trung học tổng hợp có coi trọng hơn,
số giờ nhiều hơn và học cả lịch sử cổ, trung đại thế giới.
Tuy nhiên, cả với hai cấu trúc nh vậy học sinh sẽ không nhận thức đ-

quốc gia và công sản để che đậy biện minh cho các hành động phản
dân hại nớc của bọn tay sai đế quốc thực dân.
. Năm 1975 đất nớc thống nhất nền giáo dục Việt Nam đi theo con
đờng xã hội chủ nghĩa.
Năm 1978 chơng trình môn lịch sử ở trờng phổ thông đã đợc thống
nhất trong cả nớc. Cấu trúc của chơng trình không có nhiều thay đổi so
với chơng trình miền Bắc trớc đó. Tuy nhiên trong việc lựa chọn trình
bày nội dung cũng nh xác định mức dộ của nội dung cũng có những
thay đổi lớn đáng kể nhằm cập nhật với sự phát triển của sử học và
mang tính khả thi lớn.
Song song với việc thống nhất chơng trình và SGK trong cảc nớc,
chúng ta tiến hành lập chơng trình môn sử cho cải cách giáo dục. Năm
1980 chơng trình đợc hoàn thiện và từ năm 1981 chơng trình đã đợc đa
vào thực dạy.
Hiện nay chơng trình trung học chuyên ban có nhiều tiến bộ, thể hiện
Trang11
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
khá rõ nét toàn diện, tính t tởng và tính khách quan khoa học song vẫn
còn sơ lợc cha cập nhật hoá với tiến độ sử học hiện đại những hạn
chế này đang đợc khắc phục sửa chữa.
III. môn lịch sử trong các trờng phổ thông hiện nay.

. Các nguyên tắc xây dựng chơng trình cải cách giáo dục.
Qua hơn mời năm xây dựng chơng trình, sau nhiều cuộc hội thảo
khoa học, tổng kết kinh nghiệm mọi ngời đều khẳng định các nguyên
tắc: Hiện đại, cơ bản, Việt Nam. Đây là nguyên tắc vàng, không thể
thêm bớt gì nữa cần tìm hiều và nẵm vững nguyên tắc ấy đợc vận
dụng và xây dựng chơng trình lịch sử.
Hiện đại hoá chơng trình môn học: Khoa học luôn luôn phát triển,
ngày càng thu đợc nhiều thành tựu mới. Nhận thức con ngời luôn luôn

xuất đã dẫn đến sự xuất hiện t hữu, tình trạng giàu nghèo và những
giai cấp khác nhau. Và lịch sử xã hộ loài ngời từ khi chia thành giai
cấp là một quá trình diễn ra liên tục những cuộc đấu tranh giai cấp,
đấu trânh xã hôị mà chính những cuộc đấu tranh này là một nhân tố
cực kì quan trọng tác động trở lại vào tiến trình của lịch sử loài ngời.
Những vấn đề cốt lõi nói trên của sử học Mác xít vẫn giữ nguyên
giái trị đúng đắn mặc dù đã trải qua nhiều biến động theo thời gian.
Chúng đã đợc quán triệt đầy đủ ttrong chơng trình cải cách giáo dục,
cũng nh những qua điểm, nguyên lí giáo dục của Đảng cộng sản Việt
Nam. Đồng thời với việc quán triệt các quan điểm của sử học Mác xít,
chơng trình đã đa vào nhiều thành tựu mới của sử học, những hiểu biết
mới về các cuộc chiến tranh, các quan hệ quốc tế qua các thời kì, về
vai trò căn bản của nền sản xuất và vai trò của thợng tầng kiến trúc, về
các nền văn minh, những kinh nghiệm và truyền thống dân tộc Mặt
Trang13
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
khác chơng trình cũng khắc phục những qua niệm cứng nhắc về phơng
thức sản xuất, về cách nhìn nhận đánh giá các vấn đề lịch sử một cách
phiến diện, thiếu căn cứ t liệu theo các kết luận có sẵn. Nhiều thành
tựu mới về các vấn đề lịch sử choàng thể, nhiều t liệu cụ thể đã đợc đa
vào chơng trình. Đáng kể nhất là những hiểu biết mới về các nớc trong
khu vực, về thời kì lịch sử Việt Nam, về đa các thành tựu mới của khảo
cổ học, dân tộc học vào lịch sử cổ đại. Những nội dung mới này đòi
hỏi giáo viên phải nắm vững theo kịp một cách thờng xuyên, đặc biệt
là hiểu thấu đáo những cái mới của chơng trình và SGK thì mới có thể
thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục của mình.
Xác định kiến thức cơ bản của môn học: Trong thời đại ngày nay,
khi thông tin về khoa học kĩ thuật phát triển nhanh, nổi lên vấn đề có
tính chất toàn cầu đối với giáo dục. Đó là việc giải quyết mâu thuẫn
ngày càng tăng giữa khối lợng tri thức dờng nh vô hạn với thời gian

thức, vì quá trình phát triển của khoa học là quá trình đi gần đến chân
lí khách quan, ngày càng đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tợng.
Trong trờng hợp này kiến thức hiện đại đồng thời là kiến thức cơ bản
các khoa học. Tuy nhiên khi lựa chọn vào chơng trình cần cân nhắc
các điều kiện để xác định vừa sức đối với cả việc dạy và việc học.
Nói tóm lại trong khuôn khổ một quỹ thời gian có hạn đã đợc quy
định cần cho học sinh học những gì cần và thật thiết thực đối với học
sinh Việt Nam, cái gì hiện đại nhất nhng cốt lõi nhất, vừa sức với các
em.
Phù hợp với thực tiễn Việt Nam và những yêu cầu của đất nớc:
Những kiến thức đợc chọn đa vào chơng trình phải vừa cơ bản, vừa
hiện đại, vừa thích hợp và cần thiết đối với yêu cầu đào tạo của nớc ta,
Trang15
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
phù hợp với đặc điểm học sinh, với điều kiện thực tế của việc dạy học
ở nớc ta. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối một số môn trong đó có
môn sử. Đối với học sinh hững tri thức lịch sử nào gần gũi với họ, liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lịch sử Tổ Quốc họ thì đợc lĩnh hội
hào hứng hơn, tác dụng truyền cảm mạnh mẽ hơn.
Theo tinh thần đó chơng trình lịch sử phổ thông trung học cải cách
giáo dục cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản sau:
Thứ nhất, dành cho lịch sử Việt Nam vị trí chủ yếu trong chơng
trình, một lợng thời gian cần thiết để giúp học sinh học sâu, hiểu kĩ về
những bớc đi của lịch sử dân tộc. Tuy vậy không thể coi nhẹ lịch sử
thế giới. Phải làm cho lịch sử thế giới đảm bảo đợc chức năng là cho
học sinh nhận thức đợc bớc đi chung của lịch sử nhân loại, góp phần
hiểu rõ hơn lịch sử dân tộc và giáo dục thế giới quan; không phải biết
lịch sử của từng nớc cộng lại nhất là các nớc lớn.
Thứ hai, về nội dung cụ thể chơng trình quan tâm hơn đến những
mô hình gần gũi, những nớc gần gũi hoặc có liên quan với lịch sử nớc

lịch sử Việt Nam từ 1918 đến nay.
Nội dung nói trên đợc học nh sau: Lớp 6: 1giờ/1tuần; lớp 7:
1giờ/1tuần; lớp 8: 2 giờ/1tuần; lớp 9: 2 giờ/ 1tuần.
Điểm mới so với chơng trình cũ là chơng trình lịch sử trung học cơ sở
lịch sử thể giới đợc giới thiệu cho học sinh tơng đối đầy đủ, có hệ
thống và hoàn chỉnh. Chơng trình đặt yêu cầu lựa chọn những tri thức
thật cơ bản thật cần thiết. Những sự kiện, hiện tợng lịch sử đợc trình
bày ở mức cho học sinh nhận biết nó diến ra nh thế nào và tiếp thu một
cách khẳng định. Tuy nhiên do đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh
chơng trình có sự phân biệt cần thiết giữa các lớp 6, 7 và các lớp 8,9. ở
các lớp 6, 7 chú ý nhiều hơn đến các biến cố và các sự kiện lịch sử cụ
Trang17
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
thể. Những vấn đề lí thuyết đợc giới hạn ở mức thật cần thiết và trình
bày một cách thật dễ hiểu. ở các lớp 8,9 chơng trình tăng thêm ở mức
độ vừa phải những vấn đề lí thuyết nhằm nâng cao năng lực nhận thức
và rèn luyện phơng pháp học tập bộ môn cho học sinh.
IV. những yêu cầu cơ bản đối với việc cải tiến dạy học lịch sử trong
việc thực hiện chơng trình cải cách bộ môn.

. Đảm bảo tính cụ thể của lịch sử:
Yêu cầu này xuất phát từ đặc trng của khoa học lịch sử. Lịch sử là
những sự việc rất cụ thể đã diễn ra trong quá khứ. Đó là kết qủa hoạt
động của con ngời theo đuổi những mục đích nhất định, trong không
gian và thời gian xác định, trong những điều kiện cụ thể. Vì thế đối với
bộ môn lịch sử việc tạo ra ở học sinh những hình ảnh chân thực cụ thể
và sinh động về các sự kiện, hiện tợng lịch sử, việc khôi phục lại chân
dung của các nhân vật lịch sử, những hoạt động của họ trong những
điều kiện lịch sử cụ thể là nhiệm vụ hàng đầu.
Lịch sử là tồn tại khách quan, là những sự việc, hiện tợng quan hệ


. Xác định kiến thức cơ bản.
Khi xây dựng chơng trình tri thức đã đợc một lần lựa chọn. Nhng ch-
ơng trình cha giải quyết xong mâu thuẫn giữa tài liệu học tập và thời
gian. Sách giáo khoa và sách giáo viên đã góp phần giải quyết vấn đề
này nhng cần tiếp tục đi sâu hơn nữa. Bởi vì nói đến cái cơ bvản là nói
đến hai mặt: Một mặt là cái cơ sở, cái then chốt của một bộ môn; mặt
khác là nói đến những cái có ý nghĩa nhất, có tác dụng nhất đối với sự
phát triển nhân cách của học sinh. Khi xây dựng chơng trình, khi biên
soạn SGK, SGV, các tác giả có tính đến đặc điểm tâm lí của học sinh
nhng ở mức độ chung nhất của lớp học sinh đó trên bình diện toàn
quốc. Nhng trong quá trình dạy học, học sinh là những đối tợng cụ thể,
Trang19
Sáng kiến kinh nghiệm:\ Nguyễn Thành Vinh:\ Trờng THCS Giang Biên
những tình huống s phạm cụ thể. Chỉ có ngời thầy giáo mới hiểu rõ
học sinh của mình, mới biết họ đã có cái gì, cần có cái gì. Vì thế một
lần nữa ngời thầy giáo cần phải lựa chọn kiến thức cơ bản. Đây là một
yêu cầu quan trọng đối với việc lập kế hoạch và tiến hành dạy học lịch
sử. Muốn thực hiện tốt yếu cầu này cần phải:
- Nắm vững mục đích khoá trình, các chơng và bài cụ thể. Biết roc
sự đóng góp của các bài cụ thể vào việc thực hiện mục đích của của
chơng và khoá trình.
- Nắm vững nội dung bài học. Phân chia bài học thành những đơn vị
kiến thức khác nhau. Xác định vai trò ý nghĩa của các đơn vị kiến
thức đối với sự phát triển của nhân cách học sinh.
- Phân chia thời gian thích hợp cho các tài liệu học tập.
- Lựa chọn phơng pháp dạy học thích hợp và các tài liệu học tập.
Ngoài các yêu cầu trên việc giáo dục t tởng chính trị, phẩm chất đạo
đức, giáo dục lao động, thẩm mỹ, năng lực t duy và hoạt động thực
tiễn là những yêu cầu quan trọng trong dạy học lịch sử.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status