Các giải pháp để giúp Việt Nam gia nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả cao - Pdf 18

Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 1 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên

Tp.HCM, Ngày tháng năm 2006
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG
VIÊN HƯỚNG DẪN
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 2 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
Trang
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 1
MỤC LỤC 2

Tài liệu tham khảo 36
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 4 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
Việt Nam tiến hành những cải cách kinh tế sâu rộng từ cuối thập kỷ 1980.
Một bộ phận quan trọng của những chương trình cải cách đó là chính sách mở
cửa, tự do hóa thương mại - đầu tư, và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ chỗ chỉ có
quan hệ mậu dòch với Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây, Việt
Nam đã mở rộng quan hệ với các nước khác, đặc biệt là các nền kinh tế có
vai trò quan trọng trong thương mại thế giới như Mỹ, liên minh Châu u
(EU), Nhật, Trung Quốc và các con rồng Châu Á ( Singapore, Hồng Kông,
Đài Loan và Hàn Quốc). Việt Nam đã có những cải cách quan trọng và những
thay đổi căn bản trong chính sách thương mại, đồng thời mở cửa cho đầu tư
nước ngoài kể từ năm 1988. Về hội nhập quốc tế, Việt Nam đã có những bước
đi quan trọng trong việc gia nhập các tổ chức kinh tế – thương mại khu vực
quốc tế. Đó là việc gia nhập Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và
Khu vực Mậu dòch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1995; gia nhập Diễn đàn Hợp
tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998; nộp đơn xin gia
nhập và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 1995 và đang tiến hành
đàm phán để trở thành thành viên chính thức. Ngoài ra, Việt Nam đã kí Hiệp
đònh khung về hợp tác với EU năm 1995 và Hiệp đònh Thương mại Việt - Mỹ
năm 2000.
Trong quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam có những
điều chỉnh chính sách quan trọng. Ngược lại, những thay đổi đó có tác động
tích cực và tiêu cực như thế nào đối với Việt Nam? Vì thế một vấn đề lớn
được đặt ra là liệu Việt Nam có nên tiếp tục đẩy mạnh tiến trình hội nhập
quốc tế hay không?
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 5 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
Quá trình hội nhập thương mại thế giới của Việt Nam đang trên đà hội
nhập, trong khi đó nền kinh tế Việt Nam chỉ là nền kinh tế kém phát triển và

thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các đònh chế kinh tế và
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 7 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hóa thương mại, đầu tư và
các hoạt động kinh tế đối ngoại khác.
1.1.2 Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế.
Về bản chất hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số mặt
sau đây:
Hội nhập kinh tế quốc tế đó là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau
giữa các nền quốc gia và nền kinh tế thế giới. Nó là quá trình vừa hợp tác
để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các
nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự công bằng,
chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế và các công ty
xuyên quốc gia.
Hội nhập kinh tế là quá trình xoá bỏ từng bước và từng thành phần các
rào cản về thong mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá
kinh tế.
Hội nhập kinh tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh
nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có
những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việt thực hiện các công cuộc
cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với
các quốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặt biệt là
các chính sách và phương thức quản lý vó mô.
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện
mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở
trình độ phát triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất.
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực
trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thò trường chuyển giao công
nghệ và các kinh nghiệm quản lý.

Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 9 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
vấn đề có tính quy luật. Những quốc gia chậm trễ trong hội nhập kinh tế quốc
tế thường phải trả giá bằng chính sự tụt hậu của mình, ngược lại những nước
vội vã những nước không phát huy nội lực, không chủ động hội nhập cũng sẽ
bò trả giá. Bởi vậy, để hội nhập có hiệu quả cần phải có quan điểm nhận thức
đúng đắn, nhất quán cơ chế chính sách thích hợp tận dụng tốt cơ hội, không
bỏ lỡ thời cơ, giảm thách thức, hạn chế rủi ro trong quá trình phát triển tiến
lên của mình.
1.3 Tình hình thương mại toàn cầu.
Toàn cầu hoá, khu vực hoá là xu thế khách quan đang diễn ra trên thế giới
trên cơ sở phát trển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ
thông tin và cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và cách mạng
sinh học. Thế giới đang chuyển biến sang nền kinh tế dựa trên tri thức. Chính
yêu cầu này đã tạo ra sự kiên kết và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao giữa
các quốc gia và khu vực. Xu hướng toàn cầu hoá đang phát triển và được điều
tiết bởi các tổ chức thương mại thế giới như WTO ( ra đời từ năm 1995 đến
nay đã có 148 nước tham gia và 25 nước đang đàm phán để gia nhập). Theo
báo cáo năm 2003 của WTO thì thương mại toàn cầu năm 2002 đạt 13.109 tỷ
USD, 146 thành viên WTO chiếm 85% trong tổng số này, tổng thu từ thương
mại dòch vụ toàn cầu đạt 3060 tỷ USD thì WTO chiếm 90%. Trong WTO, 2/3
thành viên là các nước đang và kém phát triển song vai trò và tiếng nói quyết
đinh vẫn nghiêng về các nước phát triển.
Tai hội nghò Cancun tháng 9 ở Mexico, tiếng nói của các nước đang phát
triên liên kết lại thành nhóm G22 đòi thương mại công bằng bình đẳng, các
nước phát triển mở cửa thò trường và bỏ trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp xuất
khẩu đã phát huy tác dụng. Lực lượng thứ hai điều cấp thương mại toàn cầu là
các công ty đa quốc gia khổng lồ. Chỉ tính riêng 70.000 công ty quốc gia đã
chiếm 1/3 thương mại toàn cầu. Họ nắm vững kỹ thuật, vốn, thông tin, chi
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 10 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên

Đảng ta đã có chủ trương: “Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu
tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi
kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi đôi với việc công bố Luật đầu tư, cần có
các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và
Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh”. Đây là những nền tảng quan
trọng để thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Đến đại hội
VII, đảng ta tiếp tục chủ trương mở rộng hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với
tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, không phân biệt chế độ chính trò - xã hội
khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. Để từng bước hội
nhập và nền kinh tế thế giới, tăng cường thu hút nguồn vốn từ nước ngoài
phục vụ cho sự nghòêp Công Nghòêp Hoá - Hiện Đại Hoá đất nước , Đảng ta
chủ trương khai thông quan hệ giữa các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như
quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển
Châu Á (ADB) , mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp tác khu vực, trước hết
ở Châu Á – Thái Bình Dương. Một trong những biện pháp quan trọng là “
Chúng ta cần tích cực cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, đổi mới tổ chức và
quản lý hoạt động hợp tác, liên doanh với nước ngoài, có nhiều hình thức
thích hợp để tận dụng mọi nguồn vốn đầu tư, chú trọng phát triển các quan hệ
hợp tác với các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia nhằm tạo thế đứng trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và thế giới”.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trò thế giới, với
tầm nhìn chiến lượt, Đại Hội VIII của Đảng đã khẳng đònh: “Xây dựng một
nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.
Nghò quyết 04 của ban chấp hành trung ương khoá VIII đã nêu rõ: “tích cực
và chủ động thâm nhập và mở rộng thò trường quốc tế”, “tiến hành khẩn
trương, vững chắc việc đàm phán hiệp đònh thương mại với Mỹ, gia nhập
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 12 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
APEC và WTO. Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong
khuôn khổ AFTA. Tiếp đó, trong báo cáo chính trò Đại Hội Đảng lần thứ IX

hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần
kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức do đó cần tỉnh táo,
khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo
đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể, vừa phải đề phòng tư
tưởng trì trệ, phản động, thủ động vừa phải chống tư tưởng giản đơn nôn
nóng.
Nhận thức đầy đủ đặc điển kinh tế nước ta từ đó đề ra kế hoạch và lộ
trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng
các quy đònh của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nhà nước ta tham gia.
Tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước phát triển và các nước có nền
kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thò trường.
Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ
vững an ninh quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng
hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác
với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hoà
bình” đối với nước ta.
Để cụ thể hoá nghò quyết của Đảng, thực hiện tốt nghò quyết trong
thực tiễn, chính phủ đã thông qua một chương trình hành động bao gồm các
nhiệm vụ cụ thể được phân công trách nhiệm thực hiện rõ ràng cho các bộ,
ban, ngành và đòa phương có liên quan, có sự phối hợp thực hiện cới các cơ
quan trung ương. Cụ thể đầu mối nhiệm vụ là: Uỷ ban quốc gia về hợp tác
kinh tế quốc tế, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Bộ Văn Hóa – Thông Tin với
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 14 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
công tác tư tưởng , thông tin, tuyên truyền; Bộ Tư Pháp với nhiệm vụ xây
dựng , sửa đổi bổ sung pháp luật, cơ chế, chính sách kinh tế thương mại; Bộ
Kế Hoạch và Đầu Tư, Uỷ ban quốc gia về hợp tác quốc tế với nhiệm vụ
nghiên cứu về chuyển dòch cơ cấu kinh tế quốc tế với nhiện vụ tổng hợp và

* Lao động dư thừa:
Cải cách doanh nghiệp nhà nước thì sẽ dư thừa lao động. Nếu doanh nghiệp
nhà nước phải bán đi, chia cổ phần, hay giao cho tư nhân quản trò thì vấn đề
không tránh được là ban quản trò mới sẽ cắt giảm chi phí sản xuất bằng cách
cho lao dộng nghỉ việc. Thành ra giải pháp cải cách doanh nghiệp kéo ra vấn
đề thất nghiệp. Thất nghiệp là chỗ khách biệt chính yếu giữa nhà nước và tư
nhân.
Đối với nhà nước, mục tiêu an sinh xã hội được xếp ngang hàng với các
mục tiêu kinh tế khác. Ngược lại, đối với tư nhân lợi nhuận được coi là mục
tiêu tối cao. Nếu cần phải giảm chi phí lao động để giữ lợi nhuận thì doanh
nghiệp tư nhân sẽ không ngần ngại sao thải lao động. Việt Nam cần phảo có
chương trình cải cách lương bổng đi song với cải cách doanh nghiệp Nhà Nước
để bảo vệ lao động trong giai đoạn hội nhập, lao động là tài nguyên của đất
nước, không thể phí phạm bằng cách sống nghèo khó trong xã hội mới. Như
vậy, lao động từ các doanh nghiệp nhà nước nếu còn trẻ và đủ sức làm việc
cần phải được huấn luyện để có thêm khả năng làm viêc trong môi trường
mới.
* Xoá đói giảm nghèo:
Xáo trộn trong thò trường lao động là phản ứng ngắn hạn của nền kinh tế bò
co giãn dưới sức ép của hội nhập. Do đó cần phải có chích sách lao động hay
xã hội an sinh để điều chỉnh nền kinh tế trong lúc hội nhập. Đối với nước
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 16 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
chậm tiến như Việt Nam, hội nhập hay không hội nhập, nạn đói luôn luôn là
một vấ đề trường kỳ nan giải. Đó là chưa kể thêm vấn đề chênh lệch giàu
nghèo giữa nông thôn và thành thò: 80% dân số sống ở nông thôn chỉ chiếm
dưới phân nữa sản lượng quốc gia; ngược lại 20% dân số sống trong thành thò
chiếm hơn phân nữa sản lượng quốc gia. Hội nhập đưa tói những câu hỏi cực
kỳ quan trọng về nghè đói. Liệu hội nhập sẽ làm tăng hay giảm nghèo đói?
Nếu hội nhập làm tăng nghèo đói thì phải có những chính sách nào để xoá đói

cơm với cháo)? Trong trøng hợp nào thì hàng Việt Nam nên cạnh tranh với
hàng Trung Quốc? Và trong trường hợp nào thì hàng Việt Nam nên bổ sung
hàng Trung Quốc? Trên đường hội nhập trong 10 năm tới, hai nước sẽ đều là
thành viên chính thức của WTO, APEC,… khi đó lợi điểm của Việt Nam đối
với Trung Quốc sẽ ra sao? Liệu hàng Việt Nam có khả năng cạnh tranh cới
hàng Trung Quốc trong thò trường tự do hay không? Đó là vấn đề lớn của Việt
Nam khi gia nhập nền kinh tế quốc tế mà Trung Quốc lại là hàng xóm lớn
cạnh ta, và trong thò trường hiện nay hàng nhái của Trung Quốc đã tràn ngập
trên cả thế giới với những ưu điển là giá rẽ mà mẫu mà đẹp hợp thời trang, thi
hiếu của giới trẻ và ngay cả Việt nam cũng không thể tránh khỏi tình trạng
hàng nhái này. Vậy liệu hàng hoá của doanh nghiệp trong nước sẽ cạnh tranh
ra sao khi hàng nhái Trung Quốc tràn ngập thò trường, đó là vấn đề lớn đặt ra
cho Đng và nhà nước ta với chính sách phát triển kinh tế khi hội nhập kinh tế
quốc tế.
* Quan hệ Việt kiều:
Mỗi năm Việt kiều gởi về nước trên 2 tỷ Mỹ kinh và về thăm nhà đông
đảo trong những dòp Tết nhất, mang nguồn lợi tức và ngoại tệ đáng kể cho
nền kinh tế trong nước. Việt kiều cũng là khối tiêu thụ mạnh nhất cho hàng
xuất khẩu từ Việt Nam (thí dụ: mắm tôm Việt Nam bán sang Mỹ thì chắc
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 18 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
chắn chỉ có Việt kiều là tiêu thụ). Nhiều Việt kiều, nhât là thế hệ thứ hai hay
thứ ba đã bắt đầu biết dùng vận động hành lang với chính phủ Mỹ để bảo vệ
tiếng nói và quyền lợi của mình. Một thử thách cho Việt Nam là tìm cách “hội
nhập” hai nền kinh tế Việt: nền kinh tế trong nước và nền “kinh tế vệ tinh”
ngoài nước. Gần đây Việt Nam đã có những dấu hiệu khích lệ đáng kể như
biện pháp khuyến khích Việt Kiều về nước đầu tư, sửa đổi thủ tục mua nhà và
bỏ chính sách lưỡng giá. Việt Nam đã xúc tiến hội nhập với nền kinh tế toàn
cầu thì không có lý do gì màø không cố gắng hội nhập với “kinh tế vệ tinh”
của nhóm dân Việt nơi đất khách quê người.

năm 2002 đạt 273 ngàn tỷ đồng và năm 2003 đạt 306 ngàn tỷ đồng tăng 112%
so với năm 1996.
Tốc độ tăng trưởng tổng mưc bán lẽ hàng hoá xã hội ở khu vực miền núi đã
có sự chuyển biến, giảm dần chênh lệch với các tỉnh đồng bằng, đô thò: năm
1999 vùng Tây Bắc tăng 5,4% đến năm 2002 tăng 13% trong khi đó năm 1999
vùng đồng bằng sông hồng tăng 10%, đến năm 2002 chỉ tăng 10,5%.
Mặt hàng kinh doanh đa dạng, mẫu mã hàng hoá ngày càng phù hợp với thò
hiếu và tập quán tiêu dùng. Chất lượng và văn minh thương mại ngày càng
được nâng cao. Từ năm 1996 đến nay không có “cơn sốt” do quan hệ cung
cầu hàng hoá mất cân đối (vớ quy mô lớn, trên phạm vi rộng, trong thời gian
dài), kể cả trong những dòp lễ tết hoặc thiên tai lũ lụt.
Kênh lưu thông một số mặt hàng như: xăng dầu, phân bón, xi măng, thép,
lúa gạo bước đầu được đònh hình và cũng cố với sự tham gia đông đảo của
các thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất
hàng hoá phát triển, gắn sản xuất với tiêu thụ, gắn hàng hoá với thò trường,
gắn thò trường trong nước với thò trường quốc tế.
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 20 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
Phương thưc sản xuất kinh doanh ngày càng đa dạng và tiếp tục được mở
rộng trên cả ba đòa bàn: thành thò nông thôn và miền núi, thu hút sự tham gia
của nhiều thành phần kinh tế với nhiều quy mô, hình thức tổ chức và hình
thức sở hữu khác nhau.
Trợ giá, trợ cước đã đảm bảo cho nhân dân miền núi mua được muối Iốt,
dầu hoả, phân bón với giá ổn đònh; trợ giá giống cây trồng được các đòa
phương đánh giá là có hiệu quả nhất trong các mặt hàng chích sách như về
lúa, ở nhiều nơi đã góp phần tăng năng xuất từ 5 tạ đến 12 tạ/1 ha, giúp nhiều
vùng cao giải quyết được vấn đề lương thực; nhiều gia đình đồng bào dân tộc
đã thoát khỏi tình trạng dói triền miên và ổn đònh cuộc sống.
Các ngành dòch vụ đã phát triển đa dạng, đáng ứng được nhu cầu tăng
trưởng kinh tế và phục vụ tốt đời sống của nhân dân. Nghành du lòch đã phát

hàng hoá, cảu doanh nghiệp và nền kinh tế.
Việc phát triển nhiều ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu hàng tiêu
dùng chưa gắn với nhu việc quy hoạch phát triển sản xuất nguồn nguyên liệu
trong nước.
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
2.2.1.1 Về xuất khẩu
* Thành tựu:
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 3 năm 2001-2003 đạt 11,5%. Xuất khẩu đã
góp phần đáng kể vào việc thực hiện chiến lượt phát triển kinh tế xã hội thời
kỳ 1996-2002, đã trở thành yếu tố phát huy nội lực rất quan trọng, tạo thêm
vốn đầu tư đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanhh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: kim nghạch xuất khẩu năm 1996 đạt
7,25 tỷ USD, năm 2000 đạt 14,4 tỷ USD, năm 2002 đạt 16,7 tỷ USD, năm
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 22 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
2003 ước đạt 17,5% năm so với tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP (gần
7%/năm) thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gấp 2,5 lần.
Các doanh nghiệp FDI mấy năm gần đây có mức tăng trưởng xuất khẩu
khá nhanh. Năm 1996 (tính cả xuất khẩu dầu thô) đạt 2,13 tỷ USD chiếp
29.4% kinh ngạch xuất khẩu hàng hoá, tương tự năm 1997 đạt 3,21 tỷ USD
chiếm 25%, năm 1998 đạt 3,21 tỷ USD chiếm 34,3%, năm 1999 đạt 4,68%
chiếm 40,6%, năm 2000 đạt 6,81% tỷ USD chiếm 40,1%, năm 2001 đạt 6,8 tỷ
USD chiếm 45,2%, năm 2002 đạt 7,87 tỷ USD chiếm 47,1% và năm 3003 đạt
10 tỷ USD chiếm 50%.
Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dòch theo hướng tích cực, tỷ trọng hàng chế
biến sâu và nhóm hàng công nghiệp tăng lên, số lượng mặt hàng xuất khẩu
chủ lực tăng nhanh. Vài năm gần đây nổi lên một số mặt hàng xuất khẩu có
mức tăng trưởng hàng năm rất cao ngư: giầy dép, dệt may, điện tử, nhân điều,
chè, gạo và có một số mặt hàng xuất khẩu chủ kực đã chiếm tỷ trọng lớn
như: cà phê Robusta đứng đầu thế giới, gạo đứng thứ hai thế giới sau Thái

thấp và giá thành cao, chưa phù hợp với yêu cầu của thò trường
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế nói chung, trong từng lónh vực, ngành hàng nói
riêng chưa bàm sát tín hiệu của thò trường thế giới do đó nhiều sảm phẩm làm
ra khó tiêu thụ hoặc tiêu thụ với giá thấp hơn các nước trong khu vực như gạo,
cà phê, chè, cao su Việc đầu tư để nâng ccao khả năng cạnh tranh của các
mặt hàng xuất khẩu còn hạn chế. Đầu tư trực tiếp cho các khâu tiêu thụ sảm
phẩm như hoạt động xúc tiến thương mại, lập các trung tâm thương mại, kho
ngoại quan ở các nước ngoài ít được quan tâm. Nhiều hình thức kinh doanh
phổ cập trên thế giới như tái xuất, chuyển khẩu chưa phát triển; các dònh vụ
thu ngoại tệ chưa đặt đúng vò trí của nó.
2.2.2.2 Về nhập khẩu
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6
Đề án môn Kinh Tế Chính Trò - 24 - GVHD: Th.S Nguyễn Thò Thanh Liên
* Thành tựu:
Cơ cấu hàng nhập khẩu đã được cải tiến theo hướng phục vụ công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước:
Kim ngạch nhập khẩu nguyên, nhiên , vật liệu phục vụ sản xuất chiếm
tỷ lệ cao, hàng năm đều ở mức trên 60% tổng kim ngạch nhập.
Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bò năm 1996 chiếm 27,6% tổng
kim ngạch nhập, năm 2003 tăng lên 35%.
Kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng phù hợp với các đònh hướng phát
triển thương mại của Đảng và nhà nước và giảm dần qua các năm: năm
1996 chiếm 13,3% tổng kim ngạch nhập khẩu, năm 2002 giảm còn 5,9%.
Trong 5 năm 1991 – 1995, nhập siêu chiếm khoảng 33% kim ngạch xuất
khẩu thì trong 8 năm sau chỉ còn khoảng 18,3%. Năm 1996 nhập siêu dần 4
tỷ USD thì năm 2002 chỉ còn gần 3 tỷ USD.
* Hạn chế:
Về thò trường nhập nhập khẩu: gần 80% kim ngạch nhập khẩu từ các nước
Châu Á (trong đó gần 30% từ các nước ASEAN. Chưa có nhiều biện pháp để
giảm nhập siêu ở một số thò trường nhập siêu lớn như: Hàn Quốc, Đài Loan,

như: Ngân hàng quốc tế(WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát
triển Châu Á (ADB), gia nhập hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và
khu vực mậu dònh tực do ASEAN (AFTA); tham gia sáng lập diễn đàn Á – u
(ASEM); gia nhập diễn đàn hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương (APEC); trở
thành quan sát viên của tổ chức này. Nước ta cũng đã ký hiệp đònh khung về
hợp tác kinh tế với liên minh Châu u (EU) và hiệp đònh thương mại song
phương với Hoa Kỳ theo chuẩn mức của tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Theo báo cáo “kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006 – 2010)”
trình bộ quốc hội ngày 16/5/2006 vừa qua thì đến nay Việt Nam đã thiết lập
SVTH: Đỗ Thành Trung Lớp : ĐH 21.6

Trích đoạn Hạn chế tác động xấu của quá trình hội nhập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status