1
Chƣơng VI
THĂM KHÁM KHỐI U
Mục tiêu học tập
1. Mô tả được các nguyên tắc thăm khám khối u
2. Phân biệt được u lành tính và ác tính và đề xuất được các xét nghiệm căn bản để chẩn đoán
khối u.
I. ĐẠI CƢƠNG
khối u dù là lành tính hay ác tính cũng cần phải được phát hiện sớm, phải được thăm
khám tỷ mỷ để có được một chẩn đoán đúng, chính xác và có một phương pháp điều trị tốt nhất
đối với các khối u. Để có những chẩn đoán sơ bộ trước khi gửi đến các cơ sở chuyên khoa thì bất
cứ thầy thuốc nào cũng có thể làm được. Một khối u có thể phát hiện một cách tình cờ bởi bệnh
nhân hoặc được phát hiện qua những đợt khám sức khỏe hoặc tổ chức khám sức khỏe hàng loạt
tại cộng đồng.
1. Định nghĩa
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về khối u. Chúng ta tham khảo các định nghĩa mà được
nhiều người chấp nhận nhất.
1.1. Định nghĩa của Abedanet Khối u là một tổ chức tân sinh, kết quả của sự tăng sinh khuyếch
đại từ những tế bào của một tổ chức trong cơ thể, có chiều hướng tồn tại và lớn lên một cách
không giới hạn.
1.2. Định nghĩa của Willis Theo Willis khối u là một tổ chức không bình thường phát triển vô
hạn độ và vẩn tồn tại mặc dầu đã lấy đi những yếu tố kích thích.
2
2. Một số đặc điểm chung
Từ những định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm chung, có tính chất đặc trưng sau :
U là một tổ chức tân sinh (Neoplasme) nhưng có cấu trúc mang đặc điểm của tổ chức đã
sinh ra nó.
+ Bệnh nhân có thể ngồi lúc khám bướu cổ, khám u.
+ Bệnh nhân nằm để khám những u ở bụng.
+ Bệnh nhân nằm ở tư thế sản khoa trong những thăm khám khối u vùng hậu môn
trực tràng hoặc những u thuộc sản phụ khoa
Phải bộc lộ rõ vùng định khám, Ví dụ :
+ Khám về bướu cổ : phải bộc lộ rõ vùng cổ, phần trên của ngực.
+ Khám vú : phải bộc lộ rõ vùng ngực, cổ và nách.
Phải khám nhẹ nhàng, theo một trình tự nhất định và phải luôn luôn đối chiếu, so sánh với
bên lành.
4
1.2. Khám cụ thể
1.2.1. Nhìn
Để xác định vị trí của u, đặc biệt với những khối u nằm ở nông, bằng mắt thường có thể
sơ bộ đánh giá được.
Xác định những thay đổi ở da và tổ chức ngay trên u hoặc xung quanh u : có loét da, chảy
máu, phù nề, phì đại các mạch máu xung quanh u hay không.
Sơ bộ xác định được ranh giới, kích thước của u.
1.2.2. Sờ Với các khối u
Xác định được kích thước, có thể kết hợp với dụng cụ, thước đo để đánh giá chính xác
kích thước của khối u. Với những u ác tính, việc đánh giá chính xác kích thước của khối u là một
yêu cầu cần thiết để có được một phác đồ điều trị thích hợp.
Xác định mật độ : mềm, chắc, cứng
Đánh giá ranh giới : Giới hạn rõ thường gặp trong các u lành.
Sờ còn để đánh giá mức độ di động của u, những u không xâm lấn vào các tổ chức kế cận
xung quanh thì thường di động.
Với các hệ thống hạch liên quan : phải sờ kỹ để phát hiện có hoặc không có hạch, số
Đây là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém, dễ làm mà bất cứ một cơ sở nào cũng có
thể làm được và có thể áp dụng được ở nhiều vị trí của u trong cơ thể.
Phương pháp này nhạy, đáng tin cậy. Sự sai lệch giữa tế bào và giải phẩu bệnh lý là
không đáng kể. Theo giáo sư Nguyễn Vượng ở bộ môn Giải phẩu bệnh Trường Đại học Y khoa
Hà Nội và các Giáo sư ở bệnh viện K Hà Nội thì độ chính xác của chẩn đoán tế bào so với giải
phẩu bệnh lý là khoảng từ 80 - 90%.
Các phương pháp tế bào học :
+ Tế bào bong : tức là tìm tế bào từ các chất bài tiết (trong đờm, dịch dạ dày, dịch
ổ bụng, dịch màng phổi ) hoặc tìm các tế bào do phết kính trực tiếp tế trên bề mặt của u bong ra
tìm tế bào âm đạo qua xét nghiệm papanicolaou).
+ Tế bào chọc hút : dùng bơm tiêm với kim nhỏ, chọc hút trực tiếp vào khối u,
hoặc có thể kết hợp chọc hút dưới sự chỉ dẫn của siêu âm. Đây là một phương pháp tốt, tiêu bản
lấy chính xác.
Giá trị xét nghiệm tế bào :
+ Nếu kết quả (+) tức là tìm được tế bào chính xác để chẩn đoán, thì nó có giá trị
quyết định chẩn đoán.
+ Nếu kết quả (-) điều đó không có nghĩa là phủ định chẩn đoán, vì có những
trường hợp (-) giả do chọc không đúng chỗ.
Ngày nay người ta còn đề cập nhiều đến những trường hợp (+) giả, tức là những trường
hợp nhầm lẫn trong chẩn đoán, đặc biệt đối với các u ác tính, có thể nhầm lẫn một số trường hợp
đặc biệt mà hình thái của một số tế bào có thay đổi dễ nhầm với hình ảnh của tế bào ung thư. Tuy
nhiên những trường hợp này với tỷ lệ không cao lắm và còn phụ thuộc vào khả năng của người
đọc tiêu bản.
7
2.2. Tổ chức học (Histologie)
Nó có giá trị chẩn đoán. Nó vừa đánh giá được về mặt hình thái học của tế bào u, vừa
Phát hiện một số men bất thường xuất hiện khi có khối u trong cơ thể:
+ Chất FP (Alphafoetoproteine) : là một chất chỉ có trong thời kỳ bào thai và lúc
mới đẻ khoảng 10.000-150.000 mcg/ml, ở người trưởng thành còn khoảng 1-15 mcg/ml, đặc biệt
tăng cao trong K gan nguyên phát.
+Kháng nguyên bào thai ung thư CEA cũng là một chất glycoprotéine, có nhiều
trong ung thư đại tràng, phổi, dạ dày.
+ Phosphatase axit có nhiều trong ung thư tiền liệt tuyến.
+ Hormon HCG chỉ điểm một ung thư rau thai và tinh hoàn, bình thường trong
máu có 0,4 mcg/ml. 9
III. CẦN PHÂN BIỆT U LÀNH VỚI U ÁC TÍNH
Sự phân biệt giữa một u lành tính và u ác tính có một ý nghĩa rất quan trọng. Sự phân biệt
đó nhiều khi rất dễ với một số u nhỏ, tuy nhiên có những trường hợp rất khó, phải kết hợp chặt
chẽ giữa thăm khám tỷ mỷ về lâm sàng và các phương pháp cận lâm sàng mới phân biệt được.
1. U lành tính
1.1. Lâm sàng
Phần lớn u phát triển chậm, có những u tồn tại lúc mới sinh (u máu). Có những u phát
hiện được trong quá trình hình thành của cơ thể và cũng tồn tại lâu năm với bệnh nhân : bướu cổ
đơn thuần, u bả, u mở, u xương lành tính
U thường có mật độ mềm hoặc chắc.
+ Mật độ mềm: bướu giáp, u máu, u bả, u mỡ và các u phần mềm lành tính khác
+ Mật độ chắc và đàn hồi: u xơ các loại như u xơ tuyến vú, u xơ tiền liệt tuyến, u
xơ tử cung.
Ranh giới thường rõ ràng, vì phần lớn đều có vỏ xơ bao bọc.
Thường di động dễ vì không xâm lấn vào các tổ chức kế cận và không di căn.
Nếu được cắt bỏ u không tái phát.
1.2. Về mặt tế bào học và tổ chức học
Về tổ chức học : thường có sự đảo lộn cấu trúc của tổ chức u ( tức là có sự xâm lấn của tổ
chức ác tính và cấu trúc đệm xung quanh).
CÂU HỎI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
1. Nêu các nguyên tắc thăm khám khối u ?
2. Phân biệt được u lành tính và ác tính và đề xuất được các xét nghiệm căn bản để chẩn đoán
khối u ?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Đại học Y Hà Nội, 1999. Bộ môn Ngoại, Triệu chứng học Ngoại khoa, trang 104 – 126.
2. Lê Đình Roanh, 2001. Bệnh học các khối u, nhà xuất bản Y học, trang 129-136.