Tiết niệu kết thạch (sỏi hệ thống tiết niệu) - Pdf 19

Tiết niệu kết thạch
(sỏi hệ thống tiết niệu) 1. Đại cương:
- Sỏi hệ thống tiết niệu là chỉ tinh thể rắn thành hòn hoặc khối xuất hiện trong hệ
thống tiết niệu. Căn cứ vào vị trí của các tinh thể rắn chắc (sỏi) trên đường tiết
niệu mà người ta phân biệt là sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và sỏi niệu
đạo.
- Đặc điểm lâm sàng là: đau phần bụng dưới hoặc đau vùng lưng lan ra bụng, đái
ra máu, đái đục. Nếu như trở tắc cấp tính thì có thể đái ít hoặc vô niệu (không đái
được), thậm chí xuất hiện cơn đau quặn thận, chức năng thận có thể bị suy giảm
cấp tính; điều trị nội khoa tương đối khó khăn, có khi phải mổ cấp cứu.
- Về điều trị : theo YHHĐ, căn cứ vào tính chất hóa học khác nhau của viên sỏi
mà tiến hành các phương pháp điều trị bằng thuốc khác nhau. Nhưng mà một số
thuốc hiện nay trên lâm sàng thường có tác dụng không mong muốn nhất định, dễ
tái phát. Trong những năm gần đây, người ta đã sản xuất những dụng cụ, máy tán
sỏi qua da bắn bằng siêu âm để làm tan sỏi. Vì vậy kết quả điều trị có phần nâng
cao, tuy nhiên chi phí cao và không phải ở nơi nào cũng áp dụng được. Trên thực
tế lâm sàng, điều trị bệnh này bằng YHCT ngày càng coi trọng vì nó đã thu được
những hiệu quả nhất định. Do vậy, cần phải phát triển điều trị bằng phương pháp
YHCT.
- Quan niệm về bản chất bệnh : YHCT thường mô tả các chứng bệnh này trong
các phạm trù “sa lâm”, “thạch lâm”, “huyết lâm” và “yêu thống”. Thời kỳ đầu đa
phần thuộc thấp nhiệt, uẩn kết ở hạ tiêu, thấp nhiệt lâu ngày sẽ sinh ra chứng thực
chuyển sang hư hoặc hư thực thác tạp. Việc dùng thuốc YHCT để điều trị niệu lạc
kết thạch ở hệ thống tiết niệu về phương diện nào đó đã tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm phong phú, từ đó đã cải thiện được các triệu chứng của bệnh, không để
chức năng của thận bị suy giảm, giảm được tái phát.
2. chẩn đoán xác định theo YHhđ:
- Dựa vào các biểu hiện: có tiền sử đái ra sỏi, cơn đau quặn thận, sốt, đái máu đại

- Sỏi hệ thống tiết niệu hình thành là do tại chỗ có thấp nhiệt hoặc ngoại cảm phải
phong tà, thấp tà, nhiệt tà hoặc ăn uống nhiều chất cay nóng, chất béo hoặc là tình
chí bất tiết, hoặc vui giận thất thường, lao thương quá độ uất tụ thành thấp nhiệt
dẫn đến hoả độc nội sinh, thấp nhiệt hạ trú ở bàng quang, hãn chưng tân dịch, tạp
chất ngưng kết mà thành sỏi.
- Vị trí sỏi ở thận và bàng quang là chính, thường có ảnh hưởng đến can và tỳ, tính
chất của bệnh là chính hư tà thực.
Chính hư gồm có: khí hư, âm hư, dương hư, âm - dương lưỡng hư.
Tà thực gồm có: ngoại cảm phong thấp, nhiệt tà thấp nhiệt, khí trệ huyết ứ.
- Cơ chế bệnh sinh: chủ yếu vẫn là thấp nhiệt uẩn kết ở hạ tiêu, bàng quang khí
hoá bất lợi. Nếu bệnh lâu ngày thì làm hại dương khí, nhiệt hoá hoả thương âm,
hoặc là âm thương cập khí mà dẫn đến tỳ thận lưỡng hư. Như vậy bệnh từ thực
chuyển sang hư, hư thực thác tạp.
3.2. Biện chứng phương trị.
3.2.1. Thể hạ tiêu thấp nhiệt.
Đa phần là bệnh ở thời kỳ đầu, cơn đau cấp tính, tiểu tiện nhiều lần, đái buốt, sốt,
nước tiểu vàng đỏ, tiểu tiện sáp trệ không thông có khi đái ngắt quãng và có khi
đái ra sạn sỏi; lưng đau lan đến bụng dưới và vùng sinh dục; miệng đắng, nôn
khan hoặc nôn mửa, rêu lưỡi vàng nhờn; mạch hoạt sác.
- Phương pháp điều trị: thanh nhiệt lợi thấp - thông lâm bài thạch.
- Phương thuốc thường dùng: “bát chính tán” gia giảm:
Sa tiền tử 20g Biển xúc 20g
Cù mạch 12g Hoạt thạch 20g
Cam thảo tiêu 6g Đại hoàng 4g
Sơn chi 12g Đăng tâm thảo 8g.
- Gia giảm:
Nếu đái máu là chính thì phải trọng dụng “tiểu kế ẩm tử” hợp phương “thạch vĩ
tán”.
Nếu tiểu tiện vàng đục kèm theo mắt đỏ, miệng đắng, tâm phiền dễ giận dữ phải
dùng “long đờm thảo tả can thang” gia vị.

Nếu trung khí hạ hãm thì có thể kết hợp với “bổ trung ích khí”.
3.2.4. Can thận âm hư.
Đa phần là do thấp nhiệt uẩn kết lâu ngày hóa thương âm tinh mà dẫn đến, lưng
gối đau mỏi, đầu choáng, tai ù; triều nhiệt, tự hãn, má hồng, môi hồng, miệng khô,
họng đau; tiểu tiện lâm li, có khi bài xuất ra cả sạn sỏi; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi
vàng hoặc không có rêu; mạch trầm tế sác.
- Phương pháp điều trị: tư âm thanh nhiệt - ích thận tiêu thạch.
- Phương thuốc thường dùng: “lục vị địa hoàng hoàn” gia thêm: kim tiền thảo, hải
kim sa đằng mỗi thứ đều 30g.
Nếu âm hư hoả vượng thì dùng “đại bổ âm hoàng”.
Nếu can dương thượng nghịch, đầu choáng mắt hoa thì dùng “kỷ cúc địa hoàng
hoàn”.
Nếu đái ra máu rõ thì dùng “tri bá địa hoàng hoàn” gia vị.
Nếu thấp nhiệt ở cuối, đi tiểu nóng, vàng thì dùng “a giao tán”.
3.2.5. Thận dương hư tổn.
Lưng gối đau mỏi, gầy gò, thiếu lực, sợ lạnh, chi lạnh; sắc mặt trắng bủng, tiểu
tiện phiền số, bài xuất vô lực hoặc đái sỏi, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế.
- Phương pháp điều trị: ôn bổ thận dương - thông lâm tiêu thạch.
- Phương thuốc thường dùng: “kim quĩ thận khí hoàn” gia vị.
Nếu kèm theo tỳ vị hư hàn thì gia thêm “qui tỳ hoàn” gia vị.
4. Các phương thuốc kinh nghiệm:
4.1. Phương thuốc bài thạch.
+ Kê nội kim, mang tiêu liều như nhau. Tán nhỏ thành bột mịn, mỗi lần uống 6g,
ngày 2 lần; dùng kim tiền thảo 60g sắc nước uống cùng với thứ bột trên.
+ Lô căn tươi qua tán triết lấy dịch, dùng mật ong hoàn vào mỗi lần từ nửa hoàn
đến 1 hoàn, ngày 2 lần hoặc dùng lô căn qua chưng thành thang uống.
+ Bài thuốc:
Đông quí tử 18g Thạch vĩ 12g
Hoạt thạch 12g Xuyên tục đoạn 12g
Bạch truật 12g Miết giáp 15g

lợi cho bài xuất các sỏi nhỏ.
- Dự phòng viêm nhiễm đường niệu để tránh làm cho sỏi to lên và ảnh hưởng đến
thận.
- Không dùng các thuốc có hại cho thận.
6. Chẩn liệu tham khảo:
6.1.Tiêu chuẩn phân nhóm theo biện chứng (Hội nghị Vệ sinh toàn quốc
nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, 1987).
- Tiêu chuẩn khí trệ huyết ứ: lưng đau âm ỉ, đau dồn xuống dưới , mạch huyền
khẩn; lưỡi bình thường; tiểu tiện đột nhiên ngừng tắc, đau kịch liệt, thúc lên lưng
bụng, khi bài xuất ra sạn sỏi thì đau giảm. Khi đau quặn từng cơn: sắc mặt tái
nhợt, vã mồ hôi lạnh, nôn khan, có thể có đái máu hoặc nước tiểu màu vàng đỏ,
chất lưỡi ám hồng hoặc có ban điểm ứ huyết, mạch huyền khẩn hoặc hoãn sáp.
- Tiêu chuẩn thấp nhiệt hạ trú: sợ lạnh, phát sốt, đau lưng, bụng dưới đầy cấp; tiểu
tiện phiền số, ngắn đỏ, lúc yếu sáp thống khó thông, lâm li, bất chỉ; rêu vàng nhờn;
mạch huyền hoạt hoặc hoạt sác.
- Thể thận âm hư: sỏi nằm lâu, tà nhiệt uất trệ lâu làm chân âm hao tổn, đầu nặng,
tai ù, lưng gối đau mỏi; tiểu tiện lâm li hoặc bất nhiếp; thất miên, đa mộng, có lúc
sốt hạ; tâm quí, khí đoản, ngũ tâm phiền nhiệt, tự hãn; mắt khô hoặc sáp; ăn không
ngon, bụng chướng; đại tiện bế; mạch tế sác; chất lưỡi hồng, ít rêu.
- Thể thận dương hư: sỏi lưu trệ lâu, sống lưng đau nặng; tinh thần bất thích; toàn
thân lạnh, tứ chi không ấm hoặc nửa người phía dưới thường như cảm lạnh; niệu
phiền hoặc tiểu tiện bất lợi, đái đêm nhiều; sắc mặt trắng sáng; mạch trầm tế
nhược; rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhợt.
6.2. Tiêu chuẩn xác định hiệu quả điều trị.
- Khỏi bệnh:
. Đái ra sỏi.
. X quang: không có hình cản quang nghi sỏi. Kiểm tra thận bằng siêu âm không
có hình cản âm.
Mức độ thận ứ nước giảm nhẹ hoặc biến mất.
- Có hiệu quả:

thận khí hư suy.
Vấn về tư liệu: vì quá trình diễn biến của bệnh sỏi đường tiết niệu tương đối dài lại
hay tái phát, nên phải hỏi về quá trình điều trị đến đâu, kết quả thế nào để tiên
lượng bệnh.
+ Thiết chẩn:
Mạch chẩn hoạt sác; hạ tiêu thấp nhiệt, tế vô lực hoặc trầm trì vô lực là tỳ thận khí
(dương) hư; mạch tế sác là âm hư hoả vượng.
+ Súc chẩn chỉ giá trị khi sỏi niệu quản có cơn đau quặn thận, thận ứ nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status