Môi trường trong xây dựng - Chương 2 potx - Pdf 19

Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 30 -
Chương 2 Khái niệm về quản lý Môi trường
2.1. Khái niệm chung:
2.1.1. Khái niệm:
Quản lý môi trường (QLMT) là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế - xã hội,
kỹ thuật thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững KT - XH quốc
gia.
QLMT là một khoa học mới ở nước ta, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học, kinh tế và xã
hội khác nhau.
Với các mục tiêu trên, QLMT hướng đến các mục tiêu:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh.
- Phát triển bền vững kinh tế - xã hội Quốc gia.
- Xây dựng các công cụ QLMT hiệu quả cho từng Quốc gia và từng khu vực, phù hợp với
từng ngành, từng địa phương và công đồng dân cư.
2.1.2. Nhiệm vụ QLMT
- Xây dựng, ban hành, phổ biến và giám sát thực thi các văn bản pháp luật, các quy định, tiêu
chuẩn môi trường đối với tất cả các hoạt động KT - XH của tất c
ả các tổ chức, cơ sở sản xuất và các
nhân trong xã hội.
- QL sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, không khí,
- Quản lý các nguồn thải gây ô nhiễm
- Quản lý về chất lượng môi trường sống
- Kiểm soát ONMT, sự cố môi trường
- Thanh tra môi trường, xử lý các vi phạm môi trường, tranh chấp môi trường
- Quan trắc, phân tích và theo dõi sự diễn biến môi trường
- Nâng cao nhận thức môi trường cho cộng đồng,
2.1.3. Nội dung và nguyên tắc QLMT
a) Nội dung QL nhà nước về môI môI trường
Nội dung quản lý Nhà nước về môi trường được thể hiện tại chương XIII, điều 121 và 122
về trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với Chính phủ, các Bộ ban ngành và

nghiệp, ngành, Nhà nước và xã hội. Kết hợp hài hoà các lợi ích còn bao hàm kết hợp lợi ích quốc
gia, lợi ích khu vực, lợi ích quốc tế nhằm mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường
trên toà Thế giới.
* Kết hợp hài hoà, chặt chẽ giữa quản lý tài nguyên - môi trường với quản lý kinh tế - xã
hội: Để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững, cần phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa quản lý tài
nguyên - môi trường với quản lý kinh tế - xã hội thông qua việc hoạch định chính sách, chiến lược
đúng đắn ở mọi cấp quản lý của Nhà nước.
2.2. Các công cụ QLMT:
Muốn quản lý môi trường hiệu quả thì phải sử dụng các phương cách quản lý có tính hợp lý
và sắc bén. Trong thực tiễn, các nước phải sử dụng một hệ thống tổng thể các chính sách, biện pháp
và các công cụ rất đa dạng để thực hiện việc quản lý và bảo vệ môi trường. Có 3 công cụ chính sách
môi trường chính, đó là: công cụ pháp lý, công cụ kinh tế và công cụ truyền thông.
2.1.1. Công cụ pháp lý (Các công cụ chính sách và pháp luật)
a) Đặc điểm:
- Công cụ pháp lý sử dụng luật lệ, quy định, tiêu chuẩn, giấy phép môi trường,…để kiểm soát
ô nhiễm. Quan trắc theo dõi và cưỡng chế là hai yếu tố quan trọng đóng góp vào sự hiện hữu của
công cụ này.
- Trong lịch sử phát triển của các công cụ chính sách môi trường, công cụ pháp lý được sử
dụng đầu tiên.Phương pháp này đã được sử dụng rất phổ biến, chiếm ưu thế ngay từ thời gian đầu
thực hiện các chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường ở các nước phát triển và hiện nay vẫn được
sử dụng rộng rãi và có hiệu quả ở tất cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển trên
thế giới. Tuy nhiên sau đó nó bộc lộ những mặt yếu kém khi các vấn đề môi trường trở nên phức
tạp và đa dạng.
b) ưu điểm:
 Đáp ứng được mục tiêu của pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường
 dự đoán được mức độ ô nhiễm và chất lượng môi trường
 dễ dàng giải quyết được những tranh chấp môi trường
 xác định rõ mục tiêu, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất, cá nhân, tập thể,…
c) Hạn chế
 Thiếu tính mềm dẻo và trong m

nguồn lợi thuỷ sản
 Qui định: là các văn bản dưới Luật nhằm cụ thể hoá hoặc hướng dẫn thực hiện các nội
dung của Luật. Qui định có thể do Chính phủ, chính quyền địa phương, cơ quan hành pháp hay lập
pháp ban hành.
 Qui chế: là các qui định về chế độ, thể lệ tổ chức quản lý bảo vệ môi trường như qui định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền các cấp
 Tiêu chuẩn môi trường: Tiêu chuẩn môi trường xác định mục tiêu môi trường và đặt ra số
lượng hay nồng độ cho phép của các chất được thải vào môi trường hay được phép tồn tại trong các
sản phẩm tiêu dùng.
Mỗi loại tiêu chuẩn được dùng để làm quy chiếu cho việc đánh giá hoặc mục tiêu hành động
và kiểm soát pháp lý. Việc xây dựng tiêu chuẩn dựa trên giả định trước rằng đã có cơ quan giám sát
các hoạt động của những người gây ô nhiễm và có quyền ra lệnh phạt những người vi phạm.
Một số loại tiêu chuẩn môi trường như: Các tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh
(Ví dụ: TCVN5937-1995, TCVN 5938-1995); Tiêu chuẩn về nước thải (Ví dụ: TCVN5945-1995);
Tiêu chuẩn khí thải (Ví dụ: TCVN5939-1995-giới hạn tối đa cho phép đối với khí thải CN); Tiêu
chuẩn đối với chất thải rắn; Tiêu chuẩn tiếng ồn (Ví dụ: TCVN5948-1995, TCVN 5949-1995); Các
tiêu chuẩn về sản phẩm; Các tiêu chuẩn về quy trình công nghệ
 Các loại giấy phép về môi trường: Các loại giấy phép môi trường đều do các cấp chính
quyền hoặc các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp theo sự phân định của pháp luật. Một
số giấy phép về môi trường như: Giấy thẩm định môi trường; Giấy thoả thuận môi trường; Giấy
chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường; Giấy phép xả thải; Giấy phép xuất nhập khẩu chất thải,…
Lợi thế chính của các loại giấy phép là chúng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi
các chương trình môi trường bằng cách ghi vào văn bản tất cả các nhiệm vụ kiểm soát của cơ sở sản
xuất. Lợi thế khác của việc cấp giấy là có thể rút hoặc tạm thời treo các giấy phép, tuỳ theo nhu cầu
của nền kinh tế hay các lợi ích xã hội khác và thường xuyên yêu cầu phải trả lệ phí để trang trải chi
phí cho chương trình kiểm soát ô nhiễm.
 Chính sách bảo vệ môi trường: Giải quyết những vấn đề chung về quan điểm quản lý và
mục tiêu bảo v
ệ môi trường trong một giai đoạn cụ thể. Chính sách bảo vệ môi trường phải được
xây dựng đồng thời với chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kịên gắn kết các mục tiêu

- Nhóm các công cụ kinh tế ngày càng được mở rộng phạm vi áp dụng, bao gồm các công cụ
cơ bản sau:phí ô nhiễm, phí sản phẩm, phí sử dụng các dịch vụ môI trường, trợ cấp đầu tư công
nghệ môI trường, thuế môI trường, buôn bán giấy phép ô nhiễm, hệ thống kỹ quỹ – hoàn trả,
b) ưu điểm:
 Khuyến khích sử d
ụng các biện pháp phân tích chi phí – hiệu quả để đạt được các mức ô
nhiễm có thể chấp nhận được;
 Khuyến khích sự phát triển công nghệ và tri thức chuyên sâu về kiểm soát ô nhiễm trong
khu vực tư nhân;
 Cung cấp cho Chính phủ nguồn thu nhập để hỗ trợ các chương trình kiểm soát ô nhiễm;
 Tăng tính mềm dẻo trong công tác bảo vệ môI trường, người gây ô nhiễm có thể có nhiều
lựa chọn khác nhau để đáp ứng được với những công cụ kinh tế khác nhau.
c) Nhược điểm

 Không thể dự đoán trước được chất lượng môI trường;
 Nếu mức thu phí không thoả đáng người gây ô nhiễm có thể chịu nộp phí và tiếp tục gây ô
nhiễm;
 Không thể sử dụng để đối phó với trường hợp phảI xử lý khẩn cấp như các loại chất thảI
độc hại;
 Đối với một số công cụ kinh tế đòi hỏi phảI có những thể chế phức tạp để thực hiện và
buộc thi hành.
d) Chỉ tiêu lựa chọn các công cụ:
- Hiệu quả kinh tế;
- Đòi hỏi thông tin thấp: yêu cầu thông tịn chính xác ở mức tối thiểu và chi phí cập nhật
hoá không cao
- Chi phí quản lý phức tạ
p, các chương trình có kỹ thuật cao đòi hỏi lượng thông tin lớn
thường dễ gặp nhiều rủi ro hoặc có hiệu quả hạn chế
- Công bằng: tránh sử dụng các chương trình luỹ hoá bất lợi cho người nghèo
- Độ tin cậy: hiệu quả môi trường của hệ thống càng đáng tin cậy càng tốt trong điều kiện

- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên.
- Hạn chế tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng.
- Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và phân phối lại lợi nhuận xã hội.
Nguyên tắc xác định thuế tài nguyên: Hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái
môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn.
Phương pháp xác định thuế:
- Đối với tài nguyên đã xác định được trữ lượng: thuế được tính dựa trên trữ lượng tài nguyên;
- Đối với tài nguyên chưa xác định được trữ lượng hoặc xác định không chính xác: tính thuế
trên cơ sở sản lượng tài nguyên được khai thác.
Tóm lại, đánh thuế dựa trên số lượng tài nguyên thiên nhiên mà các doanh nghiệp sử dụng.
Thuế tài nguyên khuyến khích các xí nghiệp giảm mức tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên ở khâu
nguyên, nhiên liệu đầu vào thông qua việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới có khả năng thay thế,
áp dụng các biện pháp SXSH, đầu tư công nghệ để tái sử dụng lại nguyên/nhiên liệu….
 ThuÕ/ phÝ m«i tr-êng:
Thuế/ phí môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản phẩm then
nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền - PPP".
Thuế/ phí môi trường nhằm hai mụ đích chủ yếu:
- Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường.
- Tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Thuế/ phí môi trường được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối
tượng ô nhiễm như:
9 Thuế/ phí đánh vào nguồn ô nhiễm (phát thải):
Loại thuế/ phí đánh vào các các chất ô nhiễm được thải ra trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, tiêu dùng như các chất gây ô nhiễm nước (BOD, COD, TSS, kim loại nặng ), gây ô nhiễm
không khí (CO
2
, CO, SO
2
, NO
x

thuế/ phí này đánh vào các sản phẩm có tính độc hại như kim loại nặng (As, Hg, Mn ), CFCs, xăng
pha chì, các loại ắc quy chứa chì, thuỷ ngân
- Ưu điểm:
+ Giảm việc sử dụng sản phẩm đặc biệt các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao
+ Khuyến khích sử dụng sản phẩm ít gây ô nhiễm (sản phẩm thân thiện môi trường)
+ Tăng nguồn thu cho các hoạt động BVMT
-Nhược điểm:
+ Không áp dụng đối với các chất thải nguy hại
+ Liên quan đến thị trường và tính cạnh tranh của sản phẩm
+ Hạn chế về quản lý tài chính
+ Sản phẩm được sử dụng với khối lượng /số lượng lớn
- Mức độ ứng dụng:
+ Môi trường nước: trung bình, phí phân bón và thuốc sát trùng ở NaUy và Thuỵ Điển, phí dầu nhờn
ở Đức
+ Môi trường không khí: cao, đặc biệt đối với nhiên liệu, phí đối với các hợp chất Sulfua trong xăng ở
Pháp, các loại thuế khác nhau đối với xăng có Chì hay không có Pb
+ Chất thải: cao (ví dụ: phí đối với bao bì thức uống không hoàn trả lại ở Pháp, phí đối với nylon ở ý)
Tiếng ồn: trung bình
9 Phí đánh vào người sử dụng:
- Là các khoản thu trực tiếp cho các chi phí để xử lý ô nhiễm cho tập thể, cộng đồng.
- Loại phí này thường được sử dụng trong thu gom và xử lý rác thải thành thị và trong việc xả,
đổ nứơc thải vào cống. Thông qua phí này, các cơ sở tiếp nhận chất thải sẽ được đền bù cho những
cố gắng để phân huỷ chất thải ấy.
- Có chức năng làm tăng nguồn thu và liên quan đến chi phí xử lý, chi phí thu gom và thải bỏ
hoặc việc thu hồi lại chi phí quản lý tuỳ vào từng trường hợp áp dụng.
- Phí sử dụng không liên quan trực tiếp đến chi phí tác hại đến môi trường
- Phương pháp này không thích hợp khi phải đổ bỏ những chất ô nhiễm độc hại như Hg ,
 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường
Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có thể qui
định quyền sở hữu và thường được sử dụng bừa bãi như không khí, đại dương Giấy phép này còn

 Nhược điểm:
- ứng dụng hạn chế khi có nhiều hơn một chất ô nhiễm cũng một lúc
- Những điểm nóng về ô nhiễm có thể trầm trọng thêm
- Sự phân phối ban đầu đòi hỏi phải được xem xét cẩn thận
- Chi phí phức tạp
- Chi phí giao dịch cao nếu có nhiều người gây ô nhiễm
 Mức độ ứng dụng:
- Môi trường nước: thấp
- Môi trường không khí: cao
- Chất thải: thấp
- Tiếng ồn: thấp
 Hệ thống ký quỹ - hoàn trả (Đặt cọc –hoàn trả)
9 Đặc điểm:
Người tiêu dùng phải trả thêm một khoản tiền khi mua các sản phẩm có nhiều khả năng gây ô
nhiễm. Khi người tiêu dùng, người sử dụng các sản phẩm ấy trả lại bao bì và các phế thải của chúng
cho một trung tâm được phép tái chế hoặc thải bỏ thì khoản tiền ký quỹ của họ sẽ được hoàn trả.
Cam kết đảm bảo và cam kết thực hiện là những hệ thống tương tự đòi hỏi một nhà máy, một xí
nghiệp phải cam kết trước việc thực hiện hay việc ký quỹ để đảm bảo an toàn cho môi trường. Nếu
các nhà máy, xí nghiệp đó không tuân theo những quy định chấp nhận được về mặt môi trường thì
sẽ không thể nhận lại số tiền kỹ quỹ đó.
9 Ưu điểm:
- Sắp xếp việc đổ chất thải an toàn, sử dụng lại hoặc tái sinh sản phẩm
- Tạo thị trường cho vật liệu tái sinh
- Tạo mối liên hệ giữa người sản xuất, phân phối và tiêu dùng
9 Nhược điểm
- Chi phí thiết lập ban đầu, chi phí đóng chai, đóng thùng…
- Có khả năng mua bán
9 Mức độ ứng dụng:
- Môi trường nước: thấp
- Môi trường không khí: trung bình

phẩm không gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm đó. Nhãn sinh
thái thường được xem xét và cấp cho các sản phẩm tái chế, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm
có khả năng gây tác động xấu đến môi trường hoặc những sản phẩm có tác động tích cực đến môi
trường.
 Quỹ môi trường
Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận các nguồn tài trợ khác
nhau, từ đó phân phối cho các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường. Quỹ môi
trường được thành lập từ các nguồn kinh phí bao gồm nguồn đóng góp ban đầu của ngân sách nhà
nước; nguồn đóng góp của các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh và nguồn đóng góp tự nguyện
của các tổ chức các nhân; nguồn đóng góp từ phí môi trường và các loại lệ phí khác; nguồn hỗ trợ
phát triển chính thức nước ngoài (ODA), các nguồn viện trợ của chính phủ nước ngoài, các tổ chức
quốc tế và tổ chức phi chính phủ.
Quỹ được thành lập và do tổ chức môi trường quản lý. Việc chi quỹ môi trường được tiến
hành theo trình tự như sau: Địa phương hoặc cơ sở sản xuất viết dự án chi quỹ và đệ trình ban quản
lý quỹ. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý quỹ tiến hành thẩm tra dự án và quyết định khoản
tiền cho vay không có lãi, lãi xuất thấp hoặc trợ cấp không hoàn lại cho dự án đã được thẩm định
trong khoảng thời hạn do hai bên quy định.
Hoạt động của quỹ có thể giảm được lượng chất thải ô nhiễm ra môi trường, trong khi
không tăng kinh phí cấp từ ngân sách dành cho công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, biện pháp
này sẻ khuyến khích các cơ sở sản xuất đầu tư kinh phí để xử lý chất thải gây ô nhiễm.
2.2.3. Công cụ kỹ thuật trong QLMT
Công cụ kỹ thuật trong QLMT thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát Nhà nước về chất
lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường.
Công cụ này có thể bao gồm các đánh giá tác động môi trường, kiểm toán môi trường, quan
trắc môi trường, xử lý và tái chế chất thải. các công cụ này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc
hỗ trợ tuân thủ các tiêu chuẩn, qui định về bảo vệ môi trường.
2.2.4. Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 38 -
a) Giáo dục môi trường

dụng nó ngày càng trở thành một “chứng chỉ” quan trọng trong các hoạt động trao đổi và hợp tác
quốc tế.
Việt Nam là thành viên thức 72 của ISO, gia nhập năm 1977 và được bầu vao ban chấp hành
của ISO năm 1996.
Trong giai đoạn chuẩn bị cho Công ước Liên hợp quốc về môi trường và phát triển tổ chức tại
Rio de Rianeiro, Braxin, Uỷ ban Kinh tế và Phát triển bền vững đã đi tới kết luận rằng giới kinh
doanh cần phát triển một hệ thống tiêu chuẩn Quốc tế về mức độ ảnh hưởng lên môi trường nhằm
đảm rằng các công ty hoạt động trên thế giới sẽ tuân thủ những quy định về môi trường, qua đó tạo
nên một “sân chơi” bình đẳng. Để chuẩn bị cho hội nghị này và để ghi nhận sự thành công của việc
phát triển tiêu chuẩn ISO 9000 (hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm), tổ chức tiêu chuẩn hoá
quốc tế ISO được đề nghị tham dự.
Vì lý do đó, năm 1991, ISO đã thành lập nhóm Cố vấn chiến lược về Môi trường (SAGE) với
sự tham gia của 25 nước, để điều tra tất cả các lĩnh vực thuộc quản lý môi trường và những tác động
lên môi trường tại những nơi mà những tiêu chuẩn Quốc tế đó có lợi cho hoạ
t động kinh doanh.
SEGA cho rằng việc nhóm ISO xây dựng tiêu chuẩn quản lý môi trường quốc tế và các công cụ
thực hiện và đánh giá là rất thích hợp. ISO đã cam kết sẽ thiết lập tiêu chuẩn quản lý môi trường
quốc tế tại hội nghị thượng đỉnh Trái Đất năm 1992, tổ chức tại Rio de Janeiro, Braxin.
Năm 1993, ISO đã thành lập một ủy ban kỹ thuật mới có tên là ISO/TC207 “quản lý môi
trường”để soạn thảo ra những tiêu chuẩn mà nhóm Cố vấn chiến lược về Môi trường đề nghị đồng
thời nghiên cứu khả năng xây dựng những tiêu chuẩn bổ trợ khác. Ban thư ký của uỷ ban kỹ thuật
mới này thuộc Hiệp hội tiêu chuẩn Canađa. Tại cuộc họp đầu tiên của ISO/TC207 có 22 quốc gia
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 39 -
với tổng số 50 đại biểu tham dự. ISO/TC207 sau đó thành lập thêm 6 tiểu ban,1 nhóm làm việc và
phân bổ từng khu vực trong lĩnh vực quản lý môi trường cho các tiểu ban và nhóm này.
Như vậy, Tiêu chuẩn hoá quốc tế về việc quản lý môi trường sẽ là một đóng góp tích cực ,
quan trọng vào mục tiêu ngăn ngừa ô nhiễm và bãi bỏ hàng rào thúê quan trong thương mại.
Các tiêu chuẩn đầu tiên của bộ tiêu chuẩn ISO 14000 được soạn thảo và ban hành cuối năm
1996 nhằm cải thiện hoạt động môi trường của các tổ chức quốc tế và kết hợp hài hoà với các tiêu

2.3.4. Cấu trúc bộ tiêu chẩn ISO 14000
- Hiện nay, hệ thống ISO 14000 có 24 tiêu chuẩn riêng biệt (chia thành 6 tiểu ban: hệ thống
quản lý môi trường, kiểm toán môi trường, nhãn môi trường, đánh giá thực hiện môi trường, đánh
giá chu trình sống, thuật ngữ) trong đó ISO 14001 được coi là tiêu chuẩn về cụ thể hoá hệ thống
quản lý môi trường.
- Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 có 5 nội dung chính, phân làm 2 loại như sau:
¾ Loại quản lý: gồm 3 loại tiêu chuẩn
9 Hệ thống quản lý môi trường (EMS): ISO 14001 vµ ISO 14004
9 Kiểm toán môi trường - (EA)
9 Đánh giá thực thi MT - Environmental Preformance Assessment. (EPA)
¾ Loại quá trình/thiết kế: gồm 2 loại tiêu chuẩn
9 Nhãn hiệu sinh thái (nhãn môi trường) - Environmental Label (EL).
9 Phân tích chu trình sống của sản phẩm - Life Cycle Assesment (LCA).
Hiện nay, bộ tiêu chuẩn ISO 14000 có 24 tiêu chuẩn riêng biệt (chia thành 6 tiểu ban: hệ
thống quản lý môi trường, kiểm toán môi trường, nhãn môi trường, đánh giá thực hiện môi trường,
đánh giá chu trình sống và các khái niệm về phạm trù và định nghĩa) trong đó ISO 14001 được coi
là tiêu chuẩn về cụ thể hoá hệ thống quản lý môi trường.
a) Hệ thống quản lý môi trường
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 40 -
- Vai trò trung tâm trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000, gồm các tiêu chuẩn ISO 14001 và ISO
14004. Đây là các tiêu chuẩn quốc tế của hệ thống quản lý môi trường. ISO 14001 được công bố
tháng 9 năm 1996 nhằm giúp các tổ chức/doanh nghiệp quản lý môi trường có hiệu quả. ISO 14001
được coi là tiêu chuẩn về cụ thể hoá hệ thống quản lý môi trường. Các tiêu chuẩn ISO 14001 và
ISO 14004 chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn BS 7750 của Anh và các đóng góp quan trọng của một số
quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ.
- Các tiêu chuẩn này cho phép các tổ chức có thể tiếp cận một cách hệ thống việc xem xét, đánh
giá những hoạt động, sản phẩm và dịch vụ của mình có quan hệ qua lại thế nào với môi trường.
Đồng thời có thể kiểm soát những hoạt động đó nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
 Đặc điểm chính của các tiêu chuẩn này như sau:

phải được chứng nhận lại.
Nếu như ISO 14001 cung cấp những thông số cho hệ thống quản lý môi trường của mối tổ chức,
thì ISO 14004 hoạt động như một bước đệm cho các tổ chức có nhu cầu về hướng d
ẫn, những thông
tin cơ bản về những quy tắc, hệ thống nền và những hỗ trợ về mặt kỹ thuật để phục vụ cho việc phát
triển hệ thống quản lý môi trường.
b) Kiểm toán môi trường (EA- Environmental Auditing)
Cần phải có thêm các công cụ để thanh tra xem hệ thống quản lý môi trường đã đạt được các
yêu cầu chưa, có được vận hành tốt không và kết quả có như mong đợi không. Chính vì vậy, một số
tiêu chuẩn về thanh tra môi trường (kiểm toán môi trường) đã được xây dựng.
Kiểm toán môi trường là một hệ thống hoá các thông tin và văn bản nhằm thu được các bằng
chứng chứng tỏ công ty có hoặc không thực thi hoạt động môi trường, hoặc hệ thống quản lý môi
trường của công ty đã được điều chỉnh so với tiêu chuẩn.
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 41 -
Hay nói cách khác:
Kiểm toán môi trường là việc thống kê, đánh giá có hệ thống và định kỳ các hoạt động liên
quan đến môi trường của một tổ chức doanh nghiệp hay dự án
Kiểm toán môi trường là quá trình nội bộ về quản lý môi trường nhằm phát hiện các vấn đề
môi trường hiện tại của tổ chức để từ đó tìm ra các giải pháp cụ thể
Là một khâu (có thể là bước đầu tiên) về xây dựng một hệ thống quản lý môi trường.
Ba tiêu chuẩn kiểm toán môi trường đó là: ISO 14010, ISO 14011 và ISO 14012 cung cấp
những hướng dẫn và công cụ cần thiết cho quá trình kiểm toán môi trường.
Theo tiêu chuẩn ISO nguyên lý chung của quá trình kiểm toán là:
Mục tiêu phải được xác định rõ ràng và kiểm toán phải có hệ thống hoá;
Phương pháp luận kiểm toán phải cụ thể và chính xác;
Các bằng chứng tìm thấy phải trên cơ sở phân tích các thông tin và các văn bản có liên quan;
Các phương pháp tìm kiếm bằng chứng có thể là phỏng vấn, kiểm tra các tài liệu hoặc/và quan
sát tại hiện trường.
Như vây, thanh tra môi trường cho phép tổ chức biết hệ thống quản lý môi trường của mình đã

Dạng thứ ba của nhãn: là nhãn thông tin về sản phẩm trên cơ sở các chỉ tiêu đã điều chỉnh so
với ISO14000, các nhãn loại này có giá trị nhỏ và không thể so sánh được trong thị trường buôn
bán quốc tế.
e) Đánh giá chu trình sống của sản phẩm:
Đánh giá chu trình sống (LCA- Life Cycle Assessment) là loại tiêu chuẩn đánh giá về sản phẩm,
là một quá trình phân tích tác động của sản xuất sản phẩm xảy ra trong toàn bộ chu trình sống của
nó (từ cội nguồn sinh ra đến lúc tiêu vong - từ
“cái nôi” đến “nấm mồ”. Như vậy sự đánh giá đó sẽ
bao gồm sự phân tích từ khâu khai thác nguyên liệu, quá trình sản xuất, phân phối, sử dụng và thải
bỏ.
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 42 -
Các tiêu chuẩn ISO 14040 và ISO 14041 sẽ hướng dẫn cụ thể về quá trình LCA.
Mục đích của LCA:
Cung cấp cho công ty các công cụ lựa chọn các quyết định trong quá trình lập kế hoạch, quá
trình sản xuất, thiết kế công nghệ cũng như phương pháp sản xuất;
Tiêu chuẩn này còn dùng để giải quyết vấn đề bồi hoàn cho người tiêu thụ sản phẩm nếu như
công ty đã lựa chọn nhãn môi trường và chỉ số môi trường không chính xác.
2.3.4. Lợi ích (ý nghĩa) áp dụng ISO 14000
- Dễ dàng hơn trong kinh doanh đặc biệt là trong các hoạt động thương mại quốc tế do giảm
được các hàng rào thương mại liên quan đến môi trường. Nếu đạt được chứng nhận ISO 14000 thì
sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tể - đây là mục tiêu quan
trọng cần hướng tới đối với mỗi doanh nghiệp.
- Đáp ứng yêu cầu pháp luật – để được chứng nhận HTQLMT theo ISO 14001, tổ chức phải
tuân thủ các yêu cầu pháp luật và phải chứng minh tính hiệu quả của hệ thống quản lý môi trường
- Tăng lòng tin: nếu được chứng nhận ISO 14001 và định kỳ được đánh giá bởi cơ quan độc
lập, các bên hữu quan tin tưởng rằng tổ chức rất quan tâm tới vấn đề môi trường; đáp ứng yêu cầu
bên hữu quan muốn đầu tư vào.
- Giảm rủi ro và trách nhiệm pháp lý: các tổ chức được chứng nhận ít gặp phải các vấn đề MT.
- Tiết kiệm nhiều hơn thông qua Thiết lập từ đầu các nguyên tắc phòng ngừa và thúc đẩy các

Những năm 90, nhà nước ta tiến hành chương trình nghiên cứu môi trường, một số báo cáo
ĐTM mẫu được lập ( ĐTM nhà máy Giấy Bãi Bằng).
Luật BVMT được ban hành ngày 10/1/1994, trong đó Điều 17, 18 quy định các dự án đang hoạt
động và dự án muốn hoạt động trên lãnh thổ VN phải lập báo cáo ĐTM và trình cấp có thẩm quyền
xét duyệt.
2.5.2 Khái niệm ĐTM:
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 43 -
a) Khái niệm
Khái niệm về ĐTM rất rộng và hầu như không có một định nghĩa thống nhất. Cho đến nay có rất
nhiều định nghĩa về ĐTM được nêu trong các tài liệu chính thức.
Theo luật BVMT VN 2005:
“Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi
trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự
án đó.”
Theo luật BVMT sửa đổi của Việt Nam, chính thức có hiệu lực ngày 1/7/2006,
“ĐTM là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra
các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) còn được định nghĩa như sau:
“ ĐTM là quá trình nghiên cứu để nhìn trước những ảnh hưởng và hậu quả mà một dự án đầu
tư có thể mang lại đối với môi trường.”
ĐTM tập trung vào các vấn đề hoặc những hạn chế của tài nguyên thiên nhiên có thể ảnh hưởng
tới tính khả thi của dự án, cùng những tác động có lợi và bất lợi đối với con người, tài nguyên thiên
nhiên và môi trường. Trên cơ sở dự kiến những tác động, đề ra các biện pháp phòng tránh, khắc
phục hoặc hạn chế những hậu quả và tác động xấu, phù hợp với những quy định của pháp luật về
môi trường.
ĐTM là một trong các công cụ cần thiết để cơ quan ra quyết định đầu tư có thể có đủ căn cứ
xem xét các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường một cách tổng thể trước khi ký ban hành, nhằm
ngăn ngừa và hạn chế những hậu quả bất lợi có thể xảy ra trước mắt và lâu dài.
Xét một cách tổng thể và lâu dài thì chính ĐTM cũng giúp cho các chủ dự án, các nhà đầu tư

Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 44 -
Tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện có thể giảm nhẹ tác động có hại tới
môi trường.
Tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra quyết định thông qua các
đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới người ra quyết định. Cộng đồng có thể tham gia vào quá
trình này trong các cuộc họp công khai hoặc hoà giải giữa các bên.
Quá trình phát triển được công khai để xem xét một cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên
Công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích phát triển tốt hơn, trợ giúp tăng trưởng kinh tế.
Hướng tới các mục tiêu cụ thể:
ĐTM là một công cụ quản lý giúp cho các cơ quan có thẩm quyền:
+ Xác định tính hiện thực của dự án (tính khả thi);
+ Giảm tối thiểu những hậu quả có hại của dự án;
+ Nâng cao lợi ích và khả năng khai thác của dự án.
Đánh giá tác động môi trường giống như một luận chứng kinh tế - kỹ thuật hoặc như một nghiên
cứu khả thi về lĩnh vực môi trường trong dự án.
Những đánh giá này sẽ làm cơ sở khoa học, căn cứ để thiết kế xây dựng các công trình vừa đảm
bảo hiệu quả kinh tế - xã hội vừa phải đảm bảo bảo vệ môi trường.
b Đối tượng ĐTM
Đối tượng chính và thường gặp nhiều nhất là các dự án phát triển, như: Một số bệnh viện
lớn, Một số nhà máy công nghiệp, Công trường xây dựng đườ
ng xá, Tất nhiên không phải tất cả
các dự án đều phải tiến hành ĐTM như nhau.
Luật BVMT sửa đổi và Nghị định 80/2006/NĐ-CP chia các dự án làm hai loại:
+ Loại I: loại phải lập và thẩm định báo cáo ĐTM, bao gồm dự án có tiềm năng gây ô nhiễm
môi trường trên diện rộng, dễ gây sự cố môi trường, khó khống chế và khó xác định tiêu chuẩn.
Theo điều 18, Luật BVMT 2005, Đối tượng phải lập báo cáo ĐTM
- Dự án công trình quan trọng quốc gia;
- Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên
nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử - văn hoá, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh

thời gian và khối lượng thi công; công nghệ vận hành của từng hạng mục công trình và của cả
dự án.
2. Đánh giá chung về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và vùng kế cận; mức độ nhạy
cảm và sức chịu tải của môi trường.
3. Đánh giá chi tiết các tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực hiện và
các thành phần môi trường, yếu tố kinh tế - xã hội chịu tác động của dự án; dự báo rủi ro về sự
cố môi trường do công trình gây ra.
4. Các biện pháp cụ thể giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa, ứng phó
sự cố môi trường.
5. Cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và vận hành
công trình.
6. Danh mục công trình, chương trình quản lý và giám sát các vấn đề môi trường trong quá
trình triển khai thực hiện dự án.
7. Dự toán kinh phí xây dựng các hạng mục công trình bảo vệ môi trường trong tổng dự toán
kinh phí của dự án.
8. ý kiến của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp
xã), đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án; các ý kiến không tán thành việc đặt dự án
tại địa phương hoặc không tán thành đối với các giải pháp bảo vệ môi trường phải được nêu
trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
9. Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status