Thiết kế bài giảng ngữ văn 10 tập 1 part 7 - Pdf 19

283
Hôm ấy tôi không cho bà tiền lẻ, không sẻ cho bà một bát cơm. Tôi đang
uống trà nhng cũng không rót cho bà một chén. Tôi không xua đuổi bà,
không buông thõng câu cửa miệng nh nhiều ngời hàng phố. Tôi cời khẩy,
bĩu môi nhìn bà rồi lạnh lùng dối trá thản nhiên:
Đã một tuần nay tôi thất nghiệp và từ hôm qua đến giờ ngay đến con tôi
cũng cha một hạt cơm nào vào bụng đâu.
Khi đó tôi hả hê vì thấy vẻ tẽn tò đến ngơ ngác của bà lão ăn mày. Tuy
nhiên tôi cũng nhận ra trên cái vẻ kinh ngạc của bà Am là một sự thảng thốt
đến khổ đau:
Thật tội nghiệp! Bà Am chép miệng rồi buông một tiếng thở dài đến
não ruột. Đoạn bà Am lặng lẽ ngồi xuống. Bà thong thả tháo cái tay nải trên
vai, thận trọng mở từng nút buộc. Từ từ bà lấy trong tay nải ra một cái túi vải
nhỏ. Đó là một cái túi khâu tay vụng về. Bà Am tháo hai cái kim băng gài ở
miệng túi và lấy ra những đồng tiền nhàu, cũ, loang lổ dầu mỡ. Bà chọn lấy
một tờ mời nghìn đồng trông có vẻ còn lành lặn hơn cả cầm trên bàn tay run
lẩy bẩy, vẫn giọng nói phều phào:
Cậu cầm lấy mua cái gì cho cháu nó ăn.
Tôi giật mình nhìn tờ giấy bạc, nghe sống mũi cay cay.

(Phỏng theo Ninh Đức Hậu)
3. Truyện Vợ chồng A Phủ đợc ra đời nh thế no?
Truyện Vợ chồng A Phủ tôi viết quãng những năm 1952, 1953. Thời kì
ấy, tôi cùng bộ đội và nhân dân bớc vào chiến dịch Tây Bắc, giải phóng ba
tỉnh Sơn La, Lai Châu và Hoàng Liên Sơn. Bớc đờng hình thành câu
chuyện cùng với nhân vật, t tởng nhân vật cứ thành hình dần, đến khi chiến
dịch kết thúc thắng lợi thì tôi cũng đã nghĩ xong và viết luôn. Có nghĩa là câu
chuyện Vợ chồng A Phủ tôi đã xây dựng đợc bằng mắt thấy tai nghe và cảm
nghĩ về những con ngời và sự việc ấy trong cuộc chiến đấu giải phóng quê
hơng của các dân tộc thiểu số anh em ở biên giới Tây Bắc đất nớc.
Đã có nhiều dịp tôi viết và có khi trả lời câu hỏi của bạn đọc nh tại sao

cầm giữ ngời đàn bà cho đến chết, không bao giờ có cơ hội đợc giải thoát.
Ngay cả những việc làm vô nhân đạo nh những kẻ giàu có hoặc có thế
lực dùng tiền bạc hoặc thế lực của chúng để "cớp" một ngời đàn bà nào đó
đem về "trình ma" là coi nh "cái ma" vô hình và quái gở kia đã tròng vào cổ
ngời đàn bà một cái án chung thân cấm cố khổ sai. Phải suốt đời ở trong cái
nhà ấy. Nếu chẳng may chồng chết thì ngời đàn bà sẽ phải tiếp tục làm vợ
một ngời đàn ông bất kì trong cái nhà ấy, có thể là một ngời anh chồng già
lụ khụ, cũng có thể là một ngời em chồng còn vắt mũi cha sạch. Và nếu
những ng
ời "chồng" này chết thì lại tiếp tục "làm vợ" một ngời đàn ông
khác trong cái nhà ấy. Khi Tây Bắc mới giải phóng, tôi đã nhìn thấy cái cảnh
một ngời đàn ông cỡi ngựa đi chợ, đằng sau là một lũ vợ đi theo, có ngời
vợ già đã móm mém, có ngời vợ còn đơng tuổi thanh xuân
Cũng có khi ngời phụ nữ thoát đợc cái "nhà chồng" địa ngục kia. Đó là
có những ông bố bà mẹ thơng con, dành dụm đợc tiền, những đồng bạc
285
trắng, đem đến nộp trả nợ cho nhà ngời chồng đã chết của con gái. Ngời ta
cúng lễ cho ngời đàn bà ấy đợc "cái ma" buông tha ra khỏi nhà chồng.
Nhng mà ngời đàn bà goá chồng ấy không đợc về nhà mình đâu. Ngời
đàn bà phải đi đến một nhà quan thống lí quyền hành nh ông vua cả một
vùng. Bố mẹ lại nộp cái lễ "rửa cửa" cho nhà quan để quan thống lí nhận cho
ngời đàn bà từ bấy giờ cho đến chết phải ăn ở nh đầy tớ trong nhà quan
thống lí.
Những ngời đàn bà dân tộc Mông trong truyện Vợ chồng A Phủ cũng
nh Mị trong truyện ấy, tất cả đều đã trải qua những ngày tháng hãi hùng
trên. Bao nhiêu khủng khiếp đã qua đi không bao giờ có thể trở lại nữa, nhng
câu chuyện thơng tâm, nỗi đau của kiếp ngời vẫn còn đọng lại mãi qua mọi
thế hệ nh một lời cảnh báo và nhắc nhở.
Nhng điều kì là dẫu trong cùng cực đến thế, mọi thế lực của tội ác cũng
không thể giết chết đợc sức sống của con ngời. Lay lắt đói khổ, nhục nhã,

hậu và tinh thần xả thân vì nghĩa. Dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển đợc
nh ngày nay là nhờ vào truyền thống quý báu trên.
Văn học Việt Nam, truyền thống cũng nh hiện đại là nền văn học mà
chủ nghĩa nhân đạo luôn thấm nhuần sâu sắc trong từng tác phẩm. Đó cũng là
tinh thần xuyên suốt trong các tác phẩm văn học chân chính từ xa tới nay.
Nh vậy, truyện Vợ chồng A Phủ đợc ra đời nh là kết quả tất yếu của một
quá trình sống, quan sát, suy ngẫm và sáng tạo của tôi. Nó là một tác phẩm
văn học đã kết tinh sức sống và tinh thần nhân đạo của dân tộc Việt Nam.
(Theo Tô Hoài, trong Nhà văn nói về tác phẩm,
Hà Minh Đức biên soạn và su tầm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004)

4. Từ những trang viết
Tôi bắt đầu viết truyện ngắn trở lại ở miền Bắc trong những năm 1956,
1957, phần lớn đều lấy đề tài từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hồi
ấy, tôi công tác ở Phòng Văn học Đài Tiếng nói Việt Nam, ngoài việc biên
tập, viết bài cho Đài, tôi tranh thủ viết truyện ngắn, in trên tuần báo Văn học,
Văn nghệ. Kế đến tôi viết một tiểu thuyết vừa, cũng là tiểu thuyết đầu tay, là
Một truyện chép ở bệnh viện. Tiền thân của cuốn tiểu thuyết này là một
truyện ngắn viết theo câu chuyện kể về đời mình của một nữ cán bộ miền
Nam. Truyện ngắn này có tên là Ngời chị, dài độ 20 trang, đợc Đài Tiếng
nói Việt Nam phát trong buổi đọc truyện.
D luận bạn nghe đài cho là một câu chuyện xúc động, hấp dẫn. Nhng
về chuyên môn, một ngời cầm bút có uy tín bảo với tôi rằng: "Đây là một
cốt truyện hay, nhng nó phù hợp với một truyện vừa hoặc dài chứ một truyện
ngắn thì không dung chứa nổi". Tôi thấy ý kiến ấy có lí, nên không gửi in
báo, mà phá ra, xây dựng lại thành một tiểu thuyết vừa.
Hồi ấy, khi thành lập Hội Nhà văn, tôi là một trong những ngời đợc kết
nạp vào đợt đầu tiên. Các hội viên Hội Nhà văn lúc đó đều đợc hởng chế độ
nghỉ ba tháng để sáng tác, dù hội viên ấy ở cơ quan khác. Tôi xin với Đài để
viết. Vào những ngày mùa đông năm 1957, tôi viết xong quyển truyện, tại

Tám năm trời xa quê hơng, nay trở về tôi hoà nhập vào một quê hơng
không bình yên một chút nào. Khói lửa đã rừng rực bốc cháy, báo hiệu trận
chiến sẽ còn lớn hơn, dữ dội hơn. Tuy nhiên ruộng đồng vẫn là ruộng đồng
thân thiết đó. Xóm làng, kênh rạch, đìa bàu, tôm cá vẫn còn đó. Tất cả hoà
quyện vào tôi một cách mau lẹ. Từ bà mẹ già, anh du kích, các cô gái tải đạn
phút chốc đã ở một bên, cận kề đã trở thành những hình tợng con ngời
mà tôi dễ dàng nắm bắt để chuẩn bị tạo dựng, miêu tả trên trang viết. Nhng
tôi cha viết vội, tôi hoà nhập, quan sát và ghi chép. ý thức về đề tài chiến
288
tranh cách mạng là quá rõ ràng, nhng lần này tôi có ý thức cao hơn về nghề
nghiệp, nên cần phải tiếp tục suy nghĩ kĩ hơn nữa.
Tôi nghĩ đề tài chiến tranh cách mạng có tính thời sự cao, mình lại là
ngời trong cuộc thì đó là những thế mạnh không phải bàn cãi Nhng nói gì
thì nói, dù ta có chủ đề tốt, có đề tài hay nhng ta không đủ vật liệu, không
có chi tiết sống thì ta vẫn không thể làm ra một truyện ngắn có hình hài, diện
mạo, xơng thịt hấp dẫn đợc. Những chi tiết sống chính là sợi để dệt nên
"tấm áo" tác phẩm. Vì lẽ đó, ngay trên Đồng Tháp Mời, giữa khi đám trực
thăng Mĩ đang ào ào đổ quân, tôi đã tập trung quan sát rồi ghi ngay một đoạn
đặc tả Thật ra những sự việc này cũng có thể nhớ đợc, nhng ghi chép theo
kiểu đặc tả tức thời thì vẫn có những u điểm không thể chối cãi. Nhờ đoạn
văn đặc tả ấy mà về sau tôi có truyện ngắn Khói rất có hồn.
Khi viết truyện Giấc mơ ông lão vờn chim thì tôi lại ở kế một cái
vờn chim. Nhờ thế, tôi miêu tả cảnh một buổi chiều cò diệc hạ cánh xuống
vờn chim rất chân thực và sinh động. Còn nhớ khi viết truyện Đất là giữa lúc
địch dồn dân vô ấp chiến lợc rất gắt gao, đó là cái không khí chung, nhng
nếu chỉ có cái bề nổi "hiện tại" ấy thì cha đủ, cần phải có một chiều sâu
"quá khứ" thì mới truyền tới ngời đọc cái ý nghĩa sống còn của đất. Cái sự
việc điển hình là nhân vật ông Tám Xẻo Đớc khấn vái trớc bàn thờ tổ tiên
và sau đó tuẫn tiết vốn là một sự việc có thật đã xảy ra ở một ấp chiến lợc
thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Vào những năm đói, tôi có ý định viết một tập truyện "Đói". Cái đói
thờng đen tối thê thảm. Ngày ấy ngời chết đói đầy đờng, đầy chợ. Mỗi
sáng, ngời ta phải đi nhặt hàng xe bò ngời chết đem chôn.
Tôi muốn viết về cái đói nhng con ngời vẫn hớng về cuộc sống trong
hoàn cảnh giáp mặt với cái chết.
Ngày đó, ngời đói rất nhiều, họ đói đến mức cớp cám để ăn. Trong
hoàn cảnh sống nh thế, con ngời vẫn sống theo đạo lí, vẫn phân biệt đợc
phải trái. Dù đói, con ngời vẫn sống có trên có dới. Tôi đợc biết thời gian
đó có những nhà nho già sắp chết vẫn khăn xếp, áo the. Con cháu ông đi ăn
xin về vẫn lễ phép tha gửi. ở tập truyện này, tôi muốn nhấn mạnh đến khía
cạnh ấy. Con ngời, dù sắp chết, họ vẫn nghĩ đến cuộc sống ở phía trớc, vẫn
nghĩ đến giỗ chạp, tổ tiên, đến mùa màng, làng xóm và đạo làm ngời.
Sau này, ý định của tôi không thành nhng truyện Vợ nhặt ít nhiều đã thể
hiện đợc ý tởng ban đầu của tôi.
Vợ nhặt là truyện đợc h
cấu. Thật ra không có anh Tràng, cô gái cũng
nh bà mẹ nào nh thế. Đó là những nhân vật h cấu. Tuy nhiên, các nhân vật
h cấu này cũng đợc bắt nguồn từ những sự thật đã đợc tôi quan sát, suy
ngẫm.
290
Nhân vật Tràng không phải là tôi nhng có nhiều gắn bó với tôi. Nhân vật
Tràng đợc lấy từ tôi nhiều hơn, nhng khi viết tôi cũng nghĩ đến anh
Nguyên, một ngời ngụ c ở làng tôi. Tôi không biết nhiều về anh, chỉ biết
anh là ngời kéo xe bò khoẻ mạnh.
Về tên truyện, Vợ nhặt mang một cái gì châm biếm, hài hớc. Nhng
đằng sau đó ẩn giấu nỗi buồn. Buồn vì thân phận con ngời bị rẻ rúng. Anh
cu Tràng có vợ nhờ mấy bát bánh đúc ở chợ. Đúng là "nhặt vợ".
Kết của truyện cũng là một lối mở tự nhiên và sáng. Kết đó cũng có cơ sở
từ hiện thực. Ngày đó phong trào cách mạng cũng đã có ở làng tôi. Lá cờ đỏ
trong đoạn kết hứa hẹn một cái gì tơi sáng, hi vọng. Nhng ở truyện này,

1. Kiến thức:
Ôn tập, củng cố khái niệm về ngôn ngữ sinh hoạt và khái niệm phong
cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Nắm đợc đặc trng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
2. Tích hợp với Văn qua hai bài Nhàn và Độc Tiểu Thanh kí, với Làm văn
ở bài viết số 3.
3. Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích và sử dụng phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt.
B. Thiết kế dạy học
Hoạt động 1
Xác định các đặc trng của phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt
GV yêu cầu HS tìm hiểu mục II trong SGK và trả lời câu hỏi:
Căn cứ vào khái niệm về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt đã học ở tiết
trớc, hãy cho biết các đặc trng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.

GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận và trả lời:
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt có các đặc trng cơ bản sau đây:

Tính cụ thể Tính cảm xúc Tính cá thể
Có địa điểm (ở đâu) và thời
a) Thái độ, tình cảm (tôn trọng Mỗi nhân vật giao tiếp khi nói
292
gian (khi nào) xác định.
Có nhân vật giao tiếp
(những ai) xác định.
Có các vai (ai nói với ai)
giao tiếp xác định.
Có mục đích (để làm gì)
giao tiếp xác định.

Vốn từ ngữ
Khả năng cộng tác đối thoại
Âm sắc, âm điệu

GV chỉ định 3 HS lần lợt đọc chậm, rõ Ghi nhớ trong SGK.
Hoạt động 2
Hớng dẫn luyện tập
1. Bài tập 1
Đoạn Nhật kí mang những nét đặc trng của phong cách ngôn ngữ sinh
hoạt nh sau:
a) Tính cụ thể:
Thời gian: đêm khuya
Không gian: rừng núi
Nhân vật: Đặng Thùy Trâm tự phân thân để đối thoại (thực ra là độc
thoại nội tâm)
Nội dung: tự vấn lơng tâm
b) Tính cảm xúc: giọng điệu thân mật, có chút nũng nịu.
c) Tính cá thể: bộc lộ chân dung tâm hồn của một con ngời có trình độ,
có vốn sống, có trách nhiệm, có niềm tin và rất giàu tình cảm
2. Bài tập 2
Dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện ở:
293
Cách xng hô thân mật: mình ta, cô anh
Cách đối thoại: chăng, hỡi
Cách dùng từ ngữ: đập đất, trồng cà
Giọng điệu: tình tứ
3. Bài tập 3
Đoạn đối thoại mô phỏng lời nói theo kiểu:
+ Liệt kê tăng tiến: tù trởng các ngơi đã chết, lúa các ngơi đã mục.
+ Điệp ngữ: Ai giữ Ai giữ

B. Nói chí
C. Tỏ lòng
D. Triết lí
2. Đọc thuộc lòng và diễn cảm hai bài thơ trên: bản phiên âm chữ Hán và
bản dịch thơ. Thể thơ của bài Tụng giá hoàn kinh s?
A. Cổ phong
B. Ngũ ngôn
Ngũ ngôn tứ tuyệt.
3. Giải thích và chứng minh Hào khí Đông A qua hai bài thơ trên.
Hoạt động 2
Dẫn vào bài mới
HS đọc thầm Tiểu dẫn trong SGK, sau đó tóm tắt sự nghiệp của Trạng
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 1585).
GV nhấn mạnh một vài điểm chính:
+ Hiệu Bạch Vân c sĩ, quê Hải Phòng, cáo quan nhà Mạc về hu. Dạy
học nổi tiếng: Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan (Trạng Bùng) đều là học trò.
Có uy tín và ảnh hởng lớn đến các vua, chúa nhà Mạc, Trịnh, Nguyễn. Nhà
thơ lớn, ngời có học vấn uyên bác, có tài đoán định tơng lai. Những lời
khuyên thâm thuý với họ Trịnh: ở chùa thờ phật thì ăn oản; hoặc khuyên họ
Nguyễn: Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân (Một dải Hoành Sơn có thể
sống yên ổn lâu dài.)
295
+ Ông là tác giả của Bạch Vân am thi tập (chữ Hán) và Bạch Vân quốc
ngữ thi tập (chữ Nôm).
Có thể tóm tắt nội dung Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi bằng một chữ gì?
(Nhàn). Chữ ấy hơn một trăm năm sau lại trở thành một phơng châm, một lẽ
sống, một thi đề của một lớp nhà nho mà Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đại biểu
tiêu biểu.
Hoạt động 3
Hớng dẫn đọc hiểu khái quát

là cái vu thú tự nhiên, tự trong lòng, mặc kệ ngời đời, tự do tuỳ thích. Từ
"ai" chỉ chung mọi ngời.
+ Cuộc sống này gợi nhớ cuộc sống của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Hai nhà
nho nhà thơ lớn ở hai thế kỉ nhng lại có hoàn cảnh một quãng đời gần
nhau và một tấm lòng, một lẽ nhân sinh rất gần nhau.
Đó là cuộc sống đạm bạc, thanh cao. Đạm bạc là những thức ăn quê mùa,
dân dã nh măng trúc, giá đỗ. Đó là cây nhà lá vờn, là kết quả công sức lao
động gieo trồng, chăm bón của chính bản thân mình. Sinh hoạt cũng bình
thờng, dân dã nh mọi ngời tắm hồ, tắm ao.
Nhng đạm bạc mà không khắc khổ. Đạm bạc mà thanh nhã, thanh thản,
thanh cao. Đó là cuộc sống chan hoà với tự nhiên, với thiên nhiên.
Hai câu thơ nh vẽ bộ tứ bình bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với các cảnh
sinh hoạt mùa nào thức ấy, có mùi vị, có sắc hơng, nhẹ nhàng, trong sáng.
Vừa có nớc trong vừa có hơng thơm thanh quý.
2. Vẻ đẹp nhân cách
HS đọc diễn cảm hai câu 3 4, 7 8.
GV hỏi:
+ Tác giả quan niệm nh thế nào về lẽ sống mà chọn cuộc sống nh thế?
+ Em hiểu các từ dại, khôn theo nghĩa nào? Trong bài thơ, các từ này có
nên hiểu theo đúng nghĩa đen của chúng không?
Nơi vắng vẻ là nơi nào? Chốn lao xao là chốn nào?
Vậy ta phải hiểu thực chất quan niệm sống của tác giả nh thế nào?
HS thảo luận, phân tích, trả lời.
Định hớng:
Về nơi núi rừng quê hơng là về với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên,
thoát ra ngoài vòng ganh đua của thói tục, không bị cuốn hút lôi léo của tiền
tài, chức tớc, danh vọng, địa vị để tâm hồn an nhiên, khoáng đạt.
Đó là lẽ xuất xử, hành tàng của nhà nho thức thời, u thời mẫn thế
297
Tác giả tâm sự với mình mà nh nhắn với đời, đối lập ta với ngời, dại

Đó cũng là cách nói ngợc hóm hỉnh, tinh quái của dân gian.

GV nêu tiếp vấn đề: Cái say và giấc chiêm bao của tác giả thể hiện ý
nghĩa gì? Quan niệm gì?

HS suy luận, phát biểu.
298
Định hớng:
+ Nhà thơ tìm đến rợu, uống say, để chiêm bao, để nhận ra lẽ sống,
nhân cách, trí tuệ. Công danh, phú quý, của cải trên đời chỉ nh một giấc mơ
dới gốc cây hoè thoảng qua, chẳng có ý nghĩa gì. Cái tồn tại mãi, cái vĩnh
hằng chính là thiên nhiên và nhân cách con ngời.
Tuy nhiên, t tởng này, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã chịu ảnh hởng
khá sâu sắc t tởng Lão Trang, ở cái "vô vi" của nó. Mặt khác, trong hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của cuộc đời ông, thì quan niệm sống ấy cũng là một cách
phản đối lại chế độ đơng thời phù hợp với tính cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hoạt động 5
Hớng dẫn tổng kết và luyện tập
1. Có ngời cho rằng chữ nhàn trong quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh
Khiêm là ích kỉ, tiêu cực, chỉ lo cho mình: độc thiện kì thân. Theo em, có
đúng không?
2. Lại có ý kiến cho rằng quan niệm nhàn của Trạng Trình là nối mạch t
tởng từ Chu Văn An, Nguyễn Trãi: thân nhàn, tâm không nhàn. Về ở ẩn
nhng vẫn canh cánh một lòng lo cho dân, cho nớc. (ái quốc u dân). Em có
tán thành với ý kiến này không?
3. GV chốt, làm rõ tính tích cực, trí tuệ và sâu sắc trong quan niệm sống
nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhấn mạnh lối thơ trữ tình triết lí mà vẫn tự
nhiên, hóm hỉnh, nhẹ nhàng mà sâu sắc bởi cách nói ngợc của tác giả.
4. HS nói lại nội dung Ghi nhớ.
5. Hớng dẫn HS làm hai bài tập 5, 6 trong SGK.

Ai từng dời đợc đạo trời.
Bi 53
Vung, khéo nào ai chẳng có nghề?
Khó khăn phải luỵ đến thê nhi.
Đắc thời, thân thích chen chân đến,
Thất thế, hơng lân ngoảnh mặt đi.
Thớt có tanh tao ruổi đỗ đến
Ang không mật mỡ, kiến bò chi?
Thời nay những trọng ngời nhiều của,
Lặng đến tay không ai kẻ vì? (*)
Bày đặt ra không đúng sự thật)
300
Bi 60
Làm ngời hay một, hoạ hay hai,
Chớ cậy rằng hơn, chớ cậy tài.
Trực tiết cho bền bằng sắt đá
Đi đờng sá lánh chốn chông gai.
Miệng ngời tựa mật, mùi càng ngọt,
Dạo thánh bằng tơ. mối hãy dài.
ở thế cả yêu là của khá
Đôi co, ai dễ kiếm chi ai?
Bi 83
Nép mình qua trớc chốn xôn xao
Mấy sự bên tai gió thổi phào.
Cửa trúc vỗ tay cời khúc khích,
Hiên mai vắt cẳng hát nghêu ngao.
So le đã vậy thì dầu vậy,

mèo đuổi chuột/kiến tha bò Bỏ phía tuần hoàn sai lạc, mâu thuẫn ấy là hiện
thực. Nắm lấy cái chính, gạt đi cái tà, giữ lấy cái chính làm nên ta, vứt cái tà
ra ngoài ta, đó là cái đạo của "nhàn" vậy.
Hai câu mở đầu có vẻ nh lặp lại kiểu ng, tiều canh, mục công thức.
Nhng nhấn mạnh điệp từ một nh đếm duyệt trớc khi làm. Riêng âm thanh
ấy không phải của sách vở, công thức từ kẻ ngồi trên lầu cao ban xuống mà là
giọng điệu lao động
dù cha thật lực nh nông dân thực thụ. Không ai đòi
cụ Trạng phải vác cày, mang bừa, cầm roi bớc theo trâu. Nhng ra đồng
thăm ruộng, ở nhà soát lại dung cụ cày bừa cho con cháu, hoặc kẻ ăn ngời ở
thì cái máu nông tang cha phải là đã nhạt. Cho nên việc làm có thể là thơ
thẩn nhng thật thú vị và tự thởng cho mình cái thú vui ấy.
Khẳng định cái mặt bằng vững chãi rồi giữ chặt cái "dại" cho mình, đẩy
cái khôn cho ngời. "Tìm nơi vắng vẻ", mặc ngời tới "chốn lao xao". Cặp
đối lập này nghe tởng nh trái nhau ở âm thanh, tiếng động, nơi có nơi
không, nâng tới mức triết lí: h và thực, sắc và không, hành và tàng, hiển và
mặc Tĩnh cao hơn động. Đến tịch tĩnh thì tâm h thân sảng. Đạt tới cái
không thì cái sắc chỉ là huyễn là vô. Ông Quán trong "Lục Vân Tiên" ngồi im,
tỉnh rụi, nhếch mép vắng vẻ mà khi lên tiếng thì cả một kho tàng kinh luân.
Đó là cái vắng vẻ của kẻ nhận mình là dại, muốn làm dại, cái dại của bậc
hiền, giác, hiểu đời và tự biết mình. Đó là cái vụng (chuyết), cái ngu khiêm
tốn mà tự hào của bậc thức giả.
Còn lao xao và khôn?
Âm thanh lao xao tự nó phủ nhận cái chất từ tốn, hiền lành, chân chất. Nó
là tiếng giữa chợ, tiếng thầy trò Mã Giám Sinh tranh giành, cãi cọ, chửi bới
quanh cái lợi, cái lộc. Còn chính hay bất chính, chẳng cần. Nó phơi bày bộ
302
mặt thật xấu xa của con ngời ở đó. Đây không phải là cái chợ mà là chốn lợi
danh, cửa mận đào, nơi lầu son gác tía, quyền cao chức trọng, cung điện,
quan trờng đánh đồng thành âm thanh hỗn tạp: lao xao. Lao xao đến

ởng những tay liềm cần mẫn mỗi ngời một chén và cụ cũng
nhắp luôn cùng nhau hoan hỉ. Ngời làm vui mùa, cụ Trạng vui đời, vui tâm
hồn: ngà ngà nhìn trời thấy đám mây trắng đang tụ bỗng tan dần và biến mất.
303
Đó chẳng phải là cái phú quý mà ngời đời, những kẻ khôn, tranh nhau vào
chỗ lao xao mà cời khóc.
Bởi thế, cái nhàn của cụ Trạng không hề tiêu cực.
( Lê Trí Viễn, Đến với thơ hay,
tập 1, NXB Giáo dục, 1997, tr. 84 88)
7. Soạn bài Độc Tiểu Thanh kí.

Tiết 42
Văn học
Đọc Tiểu Thanh kí
Nguyễn Du
A. Kết quả cần đạt
1. Kiến thức t tởng:
Số phận bất hạnh của ngời phụ nữ tài sắc Tiểu Thanh qua cái nhìn và
cảm nhận của thiên tài Nguyễn Du. Nhà thơ đã mở rộng nội dung của chủ
nghĩa nhân bản trong văn học trung đại: không chỉ quan tâm đến những ngời
dân khốn khổ đói cơm rách áo mà đã quan tâm đến thân phận của những
ngời làm ra những giá trị văn hoá tinh thần cao đẹp nhng bị xã hội đối xử
bất công, tàn tệ; gián tiếp nêu vấn đề sự cần thiết phải tôn vinh, trân trọng
những ngời làm nên giá trị văn hoá tinh thần.
Quan niệm về con ngời trong sáng tác của Nguyễn Du toàn diện hơn.
Thấy đợc thành công nghệ thuật của bài thơ về kết cấu, từ ngữ
Giáo dục thái độ trân trọng những giá trị văn hoá tinh thần và những
ngời sáng tạo ra chúng.
2. Tích hợp với Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm
khúc, với Tiếng Việt ở bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.

thành bài thơ thất ngôn bát cú đờng luật.
(Cho HS xem tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Du.)
Hoạt động 3
Hớng dẫn đọc hiểu khái quát.
1. Về tác giả
HS nhắc lại những hiểu biết về Nguyễn Du đã đợc học ở lớp 9 THCS.
305
GV rút lại một vài nét chủ yếu.
2. Về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ
HS đọc và trình bày tóm tắt theo Tiểu dẫn trong SGK.
GV chốt:
+ Chuyện nàng Phùng Tiểu Thanh (1594 1612);
+ Cha rõ tác giả sáng tác bài thơ này trong hoàn cảnh cụ thể nào (đi sứ
sang Trung Quốc, đến tây Hồ, Cô Sơn thăm mộ Tiểu Thanh hay ở Việt Nam
(Thăng Long, Huế, quê nhà?) đọc Phần d (những bài thơ còn sót lại hay đọc
tập Truyện Tiểu Thanh mà viết ra?
3. Đọc
Yêu cầu đọc diễn cảm cả phiên âm chữ Hán, dịch nghĩa, ba bản dịch
thơ với giọng buồn thơng, cảm thông da diết. Hai câu cuối đọc giọng đau
đớn, lo âu, thảng thốt.
GV cùng 3

4 HS đọc. GV nhận xét cách đọc.
4. Giải thích từ khó: kết hợp trong khi phân tích từng câu.
5. Bố cục
Có thể chia:
+ 6 câu đầu: Nguyễn Du thơng xót Tiểu Thanh.
+ 2 câu cuối: Tố Nh băn khoăn sau này không biết có ai thơng khóc
mình chăng.
Cũng có thể đọc hiểu bài thơ theo kết cấu: đề thực luận kết.

So sánh nguyên tác với các bản dịch nghĩa, ba bản dịch thơ để thấy cái
hay, cái khó, cái phân vân của việc chuyển ngữ?
HS tập so sánh, phân tích, phát biểu, trình bày ý kiến của bản thân.
Định hớng:
Độc điếu song tiền nhất chỉ th.
Dịch thành:
Một mình viếng nàng qua một tờ giấy chép truyện.
(dịch nghĩa)
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn. (Vũ Tam Tập)
Cửa hé trang thơ chạnh điếu nàng. (Quách Tấn)
Trớc song giấy mực viếng nàng. (Vũ Hoàng Chơng).
đủ thấy cái hay, cái khó, cái phân vân, băn khoăn của những nhà dịch thuật
tài ba trớc áng thơ của ngời xa.
Nhng dù còn có chỗ dị biệt, cả bốn bản đều thống nhất ở chỗ gợi ra t
thế và cảm xúc của nhà thơ khi đọc lại nhất chỉ th (trang thơ, giấy mực,
mảnh giấy tàn, một tờ giấy chép truyện ) bên cửa sổ (song tiền). "Độc điếu"
là vừa đọc vừa khóc, là đọc một mình. Ngời nay khóc ngời xa qua trang
307
sách cổ cũng không phải là chuyện hiếm lạ. Vì sao mà thơng, mà khóc? Vấn
đề đã đợc nêu ra.
2. Hai câu thực (3 4)
HS đọc diễn cảm.
GV hỏi:
+ Giải nghĩa các từ son phấn, phần d, vô mệnh, hữu thần.
+ Sự đối lập giữa câu3, câu 4 nh thế nào và có ý nghĩa gì?
HS tự do tìm hiểu, suy nghĩ, trình bày ý kiến.
Định hớng:
Câu 3 nói về nhan sắc, săc đẹp phi thờng của Tiểu Thanh. Son phấn là
hình ảnh ẩn dụ tợng trng cho sắc đẹp phụ nữ. Ai hận? Hận ai? Vì sao hận?
Tiểu Thanh đến chết và cả sau khi chết vẫn hận chồng, hận ngời vợ cả tàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status