123
CHNG 3. TI NGUYấN RNG
A. TI NGUYấN RNG TH GII V VIT NAM
I. Khái niệm và phân bố
1. Khỏi nim
Rừng là một HST điển hình và quan trọng nhất sinh quyển, là lá phổi xanh của thế giới,
đó là sự thống nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa sinh vật - đất - môi tr-ờng, trong
đó thực vật, cụ thể hơn là các loài cây gỗ đóng vai trò chủ đạo. Rừng đã có quá trình lịch
sử phát triển lâu dài. Tuỳ thuộc vào:
(1) sự hình thành các thảm thực vật TN,
(2) các vùng địa lý và
(3) điều kiện khí hậu
mà ở các nơi hình thành nên các kiểu rừng khác nhau và trong đó chứa đựng các tài
nguyên không giống nhau. Một số kiểu thảm thực vật rừng chính trên TG là:
o Rừng taiga
o Rừng rụng lá ôn đới
o Rừng m-a nhiệt đới
Hình 3. 1: Sự phân bố của các loại rừng theo vĩ độ và các đai khí hậu
Sự phân bố và các kiểu rừng chính trên thế giới:
Trong những kiểu rừng đ-ợc hình thành thì khí hậu, đất đai và độ ẩm sẽ xác định
thành phần cấu trúc và tiềm năng phát triển của thảm thực vật rừng. Sự phân bố của thảm
thực vật rừng là sự đồng nhất t-ơng đối về địa lý và sinh thái, đ-ợc hiểu nh- là một đơn vị
địa lý thực vật độc lập, chúng kết hợp với nhau theo vĩ độ địa lý và địa hình tạo thành
những đai rừng lớn trên trái đất. Sự phân bố các đai rừng là một quá trình tự nhiên, cơ bản
không chịu tác động của con ng-ời. Mặc dù các động thực vật rừng là rất đa dạng, các
quần xã rừng cũng có rất nhiều, nh-ng vẫn có thể liên kết chúng với nhau để tạo thành
một số kiểu rừng đặc tr-ng có tổ thành và cấu trúc nhất định, có đặc tr-ng sinh tr-ởng,
phát triển và năng suất nhất định.
Mỗi một HST rừng đều chịu ảnh h-ởng bởi rất nhiều yếu tố nh- l-ợng m-a, độ ẩm,
không khí, độ cao, vị trí địa lý, gió, đất đai, h-ớng dốc, độ dốc, Sự phân bố, thành phần
loài, cấu trúc, quá trình hình thành và phát triển của rừng sẽ chịu sự tác động của các
17. Rừng cây bụi bán sa mạc ấm
18. Bán sa mạc mát
19. Bán sa mạc núi cao bắc cực
20. Sa mạc á nhiệt đới
21. Sa mạc núi cao bắc cực
Sau này ng-ời ta thấy rõ -u điểm của PP phân loại theo sinh thái bởi trong thực tế sinh
vật là phép đo tốt nhất thể hiện hết tác động của các yếu tố môi tr-ờng cũng nh- các đặc
tr-ng của lập địa. Vì thế các kiểu thảm thực vật rừng đ-ợc phân chia chủ yếu dựa vào
dạng -u thế sinh thái.
Hình 3.2: Các hệ sinh thái và các kiểu rừng phổ biến trên thế giới.
2. Ti nguyờn rng trờn th gii
ó cú mt thi rng chim din tớch 60 triu km2 (6 t ha) trờn lc a. Rng b thu
hp xung cũn 44,05 triu km2 vo nm 1958 v hin nay cũn khong 38,8 triu km2 chim
khong 30% b mt trỏi t (Bng 3.1.). Trong s 38,8 triu km2 rng th gii cú 36,92 triu
km2 rng t nhiờn (95%) v 1,87 triu km2 (5%) rng trng.
125
Bảng 3.1. Diện tích của các loại rừng chính trên thế giới
Loại rừng Diện tích (km2)
Rừng lá kim ôn đới 12.511.062
Rừng lá rộng và hỗn hợp ôn đới 6.557.026
Rừng ẩm nhiệt đới 11.365.672
Rừng nhiệt đới khô 3.701.883
Rừng thưa 4.748.694
Tổng 38.808.677
Nguồn: Global Biodiversity 2000.
Diện tích rừng bình quân thế giới trên đầu người là 0,6 ha/người. Tuy nhiên có sự sai
khác lớn giữa các quốc gia. Châu Á có có diện tích rừng trên đầu người thấp nhất, trong khi
đó Châu Đại dương và Nam Mỹ có một diện tích rừng đáng kể trên đầu người. Chỉ có 22
quốc gia có trên 3 ha rừng trên đầu người và cũng chỉ có 5% dân số thế giới sống trong các
quốc gia đó hầu hết là ở Braxil và Liên Xô cũ. Trái lại 3/4 dân số thế giới sống trong các
còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo.
Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại,
cần khai thác hợp lý.
126
Phõn loi ny khụng phõn bit c kiu rng nguyờn sinh vi cỏc kiu ph th sinh
v cỏc giai on din th. Nm 1970, Trn Ng Phng a ra bng phõn loi rng min
bc Vit nam, chia thnh 3 ai ln theo cao:
ai rng nhit i ma mựa
ai rng ỏ nhit i ma mựa
ai rng ỏ nhit i ma mựa nỳi cao
Nm 1975, trờn c s cỏc iu kin lp a trờn ton lónh th Vit nam, ti hi ngh thc vt
hc quc t ln th XII (Leningrat, 1975), Thỏi vn Trng ó a ra bng phõn loi thm
thc vt rng Vit nam trờn quan im sinh thỏi, da vo 4 tiờu chun c bn sau õy:
Dạng sống -u thế: thảm thực vật đ-ợc chia thành Rừng, Rú và Trảng cỏ, truông.
Độ tàn che của tầng -u thế sinh thái: Phân biệt TTV rừng -> rừng kín và rừng th-a.
Hình thái sinh thái của lá: Phân biệt thành 3 nhóm: Lá rộng, lá kim và hỗn giao
Trạng thái mùa của tán lá: Phân biệt rừng th-ờng xanh và Rừng nửa rụng lá.
Phõn loi thm thc vt rng Vit Nam trờn quan im sinh thỏi hc ca Thỏi Vn
Trng n nay c xem l bng phõn loi thm thc vt rng Vit nam phự hp nht trờn
quan im sinh thỏi.
1. Kiu rng kớn thng xanh ma m nhit i: phõn b di 700m hoc 1000m.
2. Kiu rng kớn rng lỏ hi m nhit i
3. Kiu rng kớn lỏ cng hi khụ nhit i
4. Kiu rng tha cõy lỏ rng hi khụ nhit i
5. Kiu rng tha cõy lỏ kim hi khụ nhit i
6. Kiu rng tha cõy lỏ kim hi khụ ỏ nhit i nỳi thp
7. Kiu trng cõy to, cõy bi, cõy c cao khụ nhit i
8. Kiu truụng bi gai hn nhit i
9. Kiu rng kớn thng xanh ma m ỏ nhit i nỳi thp
10.Kiu rng kớn hn hp cõy lỏ rng,lỏ kim m ỏ nhit i nỳi thp
Tổng diện tích 14,30 11,16 10,60 9,89 9,17 9,30 10,99 11,78 12,30
Rừng trồng 0,00 0,01 0,42 0,58 0,74 1,05 1,52 1,91 2,21
Rừng tự nhiên 14,30 11,07 10,18 9,30 8,43 8,25 9,47 9,86 10,89
Độ che phủ 43,00 33,80 32,10 30,00 27,80 28,20 33,20 35,80 36,70
Nguồn: Hiện trạng môi trường Việt Nam. Phần Đa dạng sinh học, 2005.
Rõng ViÖt Nam 1945
Rõng ViÖt Nam 1995
H×nh 3: Th¶m thùc vËt rõng ViÖt Nam qua c¸c giai ®o¹n 1945 vµ 1995
Nguyên nhân chính của sự thu hẹp rừng ở nước ta là do nạn du canh, du cư, phá rừng
đốt rẫy làm nông nghiệp, trồng cây xuất khẩu, lấy gỗ củi, mở mang đô thị, khai thác mỏ, nuôi
trồng thủy sản. Hậu quả chiến tranh hóa học do Mỹ thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua
để lại cho rừng là không nhỏ. Sức ép dân số và nhu cầu về đời sống, về lương thực và thực
phẩm, năng lượng, gỗ dân dụng đang là mối đe doạ đối với rừng còn lại ở nước ta.
Ba mươi năm chiến tranh là giai đoạn mà rừng Việt Nam bị thu hẹp lại khá nhanh.
Hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ cùng 13 triệu tấn bom đạn với hơn 25 triệu hố bom đạn, bom
cháy cùng với đội xe ủi đất khổng lồ đã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới các loại.
128
Hình 3.4: Vị trí các VQG, KBT ở
Việt Nam
Hình 3.5: Các vị trí và khu vực rừng miền
Nam bị mỹ rải Đioxin
Tỷ lệ % của các loại rừng Việt Nam, năm 1995
11%
33%
56%
Rừng giầu
Rừng trung bình
Rừng nghèo
Hình 3. 6: Chất l-ợng rừng Việt Nam qua các năm 1990, 1995 và 2000
Cng cn chỳ ý l cụng tỏc thng kờ rng ca chỳng ta ti nay cũn nhiu hn ch, cỏc
18- Bỡnh Phc 24,0%
19- Sn La 22,0%.
Bng 3.4. Thng kờ v hin trng rng cỏc vựng ca Vit Nam, cui nm 1999
Ngun: Chng trỡnh Kim kờ rng Nh nc - 03/2001 TTg, cụng b thỏng 12 nm 2002
Tuy diện tích rừng có tăng lên trong hơn 10 năm gần đây, nh-ng chất l-ợng của rừng lại giảm
đi, diện tích rừng giàu còn rất ít chỉ hơn 10%, diện tích rừng nghèo thì ngày càng tăng lên.
Bên cạnh đó, tỷ lệ này không đồng đều, tỷ lệ che phủ của rừng ở những vùng đồng bằng
đ-ơng nhiên là thấp, nh-ng đặc biệt là có những vùng rất cần có rừng nh- vùng núi Tây Bắc
thì độ che phủ lại chỉ 27%. Hình 3.7 chỉ cho thấy độ che phủ rừng ở các vùng miền trong cả
n-ớc.
39%
47%
28%
7%
55%
34%
8%
27%
34%
33%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
Cả n-ớc Vùng Bắc
và Đông
Bắc bộ
triển kinh tế - xã hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường. Diện tích đất có
rừng của một quốc gia tối ưu phải đạt 45% tổng diện tích. Tùy theo nhận thức và các lợi ích
khác nhau mà vai trò của rừng được đánh giá khác nhau.
Hiện nay rừng được đánh giá theo các vai trò chính như sau:
Là hệ sinh thái đa dạng và giàu có nhất trên cạn, đặc biệt là rừng ẩm nhiệt đới. Năng
suất trung bình của rừng trên thế giới đạt 5 tấn chất khô/ha/năm, đáp ứng 2 - 3% nhu
cầu lương thực phẩm cho con người.
Rừng có vai trò to lớn về môi trường và phát triển, là nguồn cung cấp nguyên vật
liệu cần thiết cho con người.
Rừng cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, dược
liệu, du lịch, giải trí
Rừng là "lá phổi xanh" hấp thụ CO2, tái sinh oxy, điều hòa khí hậu cho khu vực.
Rừng tạo nên khoảng 16 tấn oxy/ ha/ năm (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn).
Mỗi người một năm cần 4.000kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m2
cây xanh tạo ra trong năm.
Rừng giúp giảm nhẹ Hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Nhiệt độ
không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5
o
C. Rừng bảo vệ và
ngăn chặn gió bão, giảm thiểu lũ lụt, gió bão, hạn hán,
Về tác dụng cân bằng sinh thái, rừng có vai trò vô cùng quan trọng:
Trước hết, rừng có ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển
và có ý nghĩa điều hoà khí hậu. Rừng là vật cản trên đường di chuyển của gió và có
ảnh hưởng đến tốc độ cũng như thay đổi hướng gió. Rừng không chỉ chắn gió mà
còn làm sạch không khí và có ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn trong tự nhiên. Trên
thực tế, rừng đươc coi là nhà máy lọc bụi khổng lồ. Trung bình 1 năm, một ha rừng
thông có khả năng hút 36,4 tấn bụi từ không khí. Bên cạnh đó, rừng cũng góp phần
làm giảm tiếng ồn. Rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng làm cân bằng lượng O2 và
CO2 trong khí quyển. Rừng còn tạo ra một hoàn cảnh tiểu khí hậu có tác dụng tốt
đến sức khoẻ con người. Rừng làm giảm nhiệt độ và tăng độ ẩm không khí.
sinh thỏi. Do vy khi 1 loi b suy gim hoc b bin mt s nh hng n s tn ti
ca cỏc loi khỏc, v cui cựng gõy hi n h sinh thỏi ton cu.
Tài nguyên của rừng rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả tài nguyên sinh vật, đất
đai, khí hậu, cảnh quan. Tài nguyên rừng có thể đ-ợc chia thành các nhóm sau: (1) Tài
nguyên gỗ; (2) Tài nguyên phi gỗ; (3) Tài nguyên đất; (4) Tài nguyên n-ớc; (5) Tài nguyên
đa dạng sinh học. Ngoài ra rừng còn cung cấp cho con ng-ời l-ợng oxi dồi dào, rừng điều hoà
n-ớc, chống xói mòn, giảm thiểu ô nhiễm, cân bằng CO2/O2 Những vai trò đó của rừng là
vô cùng to lớn và có giá trị nh-ng chúng ta ch-a xếp chúng vào loại tài nguyên nào, ch-a đặt
đúng chỗ và đánh giá hết những vai trò của rừng trong lĩnh vực này. Việc bảo vệ rừng cần gắn
liền với việc bảo vệ các tài nguyên đã nêu trên.
Rừng có nhiều chức năng quan trọng, dựa vào đó mà ng-ời ta chia rừng thành 3 loại
tuỳ thuộc vào chức năng cơ bản nhất:
Rừng phòng hộ: bảo vệ đất, n-ớc, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu
Rừng đặc dụng: Bảo tồn ĐDSH, thiên nhiên, mẫu chuẩn, gen, nơi học tập, nghiên cứu,
bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, nghỉ ngơi, du lịch sinh thái
Rừng sản xuất: Sản xuất kinh doanh gỗ, lâm sản phi gỗ, động vật rừng và BVMT sinh
thái.
Hiện nay đất rừng Việt nam đã đ-ợc qui hoạch là hơn 19 triệu ha, đến cuối năm 1995,
độ che phủ của rừng mới chỉ đạt 49% số đất đã qui hoạch, nh- vậy chúng ta còn tới 51% diện
tích đất rừng nh-ng ch-a có rừng.
Bảng3.5.Diện tích các loại rừng và đất rừng phân theo mục đích sử dụng của Việt Nam, 1995.
Có rừng Không có rừng Tổng sốLoại rừng
Triệu ha % Triệu ha % Triệu ha %
Rừng đặc dụng
Rừng phòng hộ
Rừng sản xuất
Cộng:
0,9
3,5
4,9
của chúng:
Rừng lá kim (tai ga) ở vùng ôn đới, nơi có thời gian sinh trưởng ngắn nên năng suất
thấp hơn nhiều so với rừng ẩm nhiệt đới. Rừng này chiếm một diện tích rộng lớn ở
Bắc Mỹ, Châu Âu, Nga, Bắc Trung Quốc và các vùng núi cao nhiệt đới. Cây chủ yếu
của rừng là thông, linh sam, Rừng lá kim phát triển theo các dãy núi từ Bắc Mỹ
xuống Mehico bao gồm nhiều thông đỏ, thông núi,
Rừng lá rộng ôn đới, phân bố thấp hơn, gần vùng nhiệt đới hơn và đã có một thời kỳ
phủ kín vùng Đông Bắc Mỹ, khắp Châu Âu, một phần Nam Mỹ và một phần Trung
Quốc, Nhật Bản, Úc. Có lẽ "nền văn minh đạt được cực thịnh" ở Châu Âu, Bắc Mỹ và
Viễn Đông đã làm cho rừng này bị thu hẹp nhanh và nay chẳng còn bao nhiêu.
Khoảng 3.000 năm trước công nguyên, do phát triển của văn minh công nghiệp, rừng
lá rông bị triệt hạ tới 32 - 33% để lấy đất canh tác trong khi đó thì rừng nhiệt đới lúc
này chỉ bị mất 15 - 20%.
Rừng mưa nhiệt đới là rừng có độ đa dạng sinh học cao nhất, giàu có nhất, kéo dài
thành một vành đai quanh xích đạo, nơi có lượng mưa cao, nhiệt độ cao và đồng đều
quanh năm. Dải rừng mưa nhiệt đới rộng lớn nhất và phát triển liên tục thuộc lưu vực
sông Amazon (Nam Mỹ), lưu vực sông Côngô (Tây Phi) và vùng Ấn Độ, Malaysia.
Dải rừng Ấn Độ - Malaysia giàu có nhất, chỉ một khu vực hẹp thôi mà có thể đếm
được từ 2500 đến 10.000 loài thực vật mà đặc trưng của chúng là rừng nhiều tầng.
Trong rừng cây có lá quanh năm, chằng chịt dây leo, tối âm u, ẩm và nóng
2. Nguồn tài nguyên gỗ
a. Tµi nguyªn gç trªn thÕ giíi.
Con người nguyên thủy cũng sinh ra và kiếm sống đầu tiên trong các cánh rừng già
và từ đó dần mở rộng khu vực tìm kiếm thức ăn qua các đồi núi để lan tràn xuống dọc theo
các con sông vùng đồng bằng phì nhiêu. Trong sự phát triển lâu dài của toàn bộ hành tinh,
vào thời đại Trung sinh (Mesozoic) cách đây trên 100 triệu năm, sinh giới đã có một bước
tiến hóa quyết định, đó là sự ra đời của động vật có vú và thực vật hạt kín, hai nguồn tài
nguyên lớn nhất cho con người được sinh ra sau này (con người chỉ xuất hiện vào cuối Đại
tân sinh (Cenozoic). Con người ngay từ lúc bước ra khỏi cầm thú, đã thu lượm các sản
phẩm tài nguyên trên các cây gỗ lớn trung bình. Ban đầu, con người thu lượm những sản
300 - 500 kg tuỳ loại. Tuy nhiên tốc độ tích luỹ sinh khối thay đổi rất nhiều theo từng loại
rừng và theo từng giai đoạn phát triển của một khu rừng (Hình 3.8). Trong các giai đoạn
diễn thế đầu, các khu rừng đều tăng lên về số loài, số cây và ngày càng khép tán rậm rạp
hơn; trong giai đoạn này cả khu rừng tích cực tích luỹ sinh khối và tốc độ tích luỹ sinh khối
tăng rất nhanh. Trong các giai đoạn diễn thế giữa, các khu rừng tăng độ đa dạng, số loài
nhiều lên, nh-ng số cá thể trong mỗi loài lại ít đi, sinh khối vẫn đ-ợc tích luỹ, đặc biệt là
nhờ vào sự tăng kích th-ớc của các cây gỗ lớn, nh-ng tốc độ tích luỹ sinh khối giảm dần.
Tốc độ của sự tích luỹ sinh khối sẽ giảm dần cho đến khi quần xã đạt tới trạng thái đỉnh cực.
Rối loạn
Các giai đoạn
diễn thế đầu
Các giai đoạn
diễn thế giữa
Các giai đoạn
rừng thành thục
Các giai đoạn
gần đỉnh cực
Tốc độ tích luỹ sinh khối (kg/ha/năm)
thời gian
134
b. Ti nguyờn cõy g Vit Nam
Ti nguyờn cõy g tp trung vo hai ngnh thc vt tin húa nht: Ngnh thc vt
ht trn (cũn gi l Ngnh Thụng: Pinophyta) v Ngnh thc vt ht kớn (cũn gi l Ngnh
Ngc Lan: Magnoliophyta) hin nay chim hu ht cỏc din tớch t rng t nhiờn v gõy
trng. Cỏc loi cõy g trong ngnh thc vt ht trn c cỏc nh kinh doanh, lm ngh
rng gi l "Nhúm g mm hay nhúm cõy lỏ kim, cũn cõy g trong ngnh thc vt ht
kớn c gi l nhúm g cng hay nhúm cõy lỏ rng.
Tr-ớc năm 1945, rừng n-ớc ta có trữ l-ợng gỗ khoảng 200 - 300m3/ ha, trong đó
những loài gỗ quý nh- Đinh, Lim, Sến, Táu, Nghiến, Trai, Gụ là rất phổ biến. Những cây
gỗ có đ-ờng kính 40-50cm rất nhiều, chiếm đến khoảng 50% trữ l-ợng của rừng. Bên cạnh
cỏc bc sau:
- G tht nng: T trng t 0,95 1,30
- G nng: T trng t 0,80 0,95
- G nng trung bỡnh: T trng t 0,65 0,80
- G nh: T trng t 0,50 0,65
- G tht nh: T trng t 0,12 0,50
Loi g nh nht th gii l g ca cõy Balsa loi trong chi Ochroma cú t trng 0,12 v
loi g nng nht gi l g thộp Nam M (Krugiodendron ferreum) cú t trng n
1,30. Ngoi t trng, cỏc c tớnh vt lý khỏc ca g cng c quan tõm nh: sc rn,
sc nộn dc th, sc kộo ngay th, sc on, sc chu p Tuy nhiờn vi cụng ngh ch
bin g hin i, vic s dng g khụng ch dựng nguyờn c tm, khi nh trc kia m
vi vic ct dng, ngõm tm v dựng húa cht, cỏc loi g u c s dng rt a dng
v cú hu ớch lý tng.
135
Theo thống kê sơ bộ của các nhà khoa học Việt Nam, chỉ riêng nhóm thực vật bậc cao có
mạch (trong đó hai Ngành Thông và Ngành Ngọc Lan chiếm đa số) thì có khoảng trên
12.000 loài. Trong hệ thực vật này, nhóm cây thân gỗ có đến 2.500 loài, phân bố hoặc
trong các họ thực vật lớn như họ Cà phê (Rubiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) họ
Đậu (Fabaceae) hoặc trong các họ trong số loài ít nhưng số cá thể rất lớn, tạo nên các
kiểu thảm thực vật tối ưu như họ Dầu (Dipterocarpaceae) họ Long não (Lauraceae), họ
Xoan (Meliaceae), họ Đước (Rhizopheraceae)
Trong ngành thực vật hạt trần, các họ như họ kim giao (Podocarpaceae), họ Thông
(Pinaceae), họ Hoàng đàn (Cupressaceae) đều có các loài cho gỗ quí, vân đẹp, hương
thơm, rất bền (không bị mối mọt, mục), lại dễ gia công chế biến. Nhiều loài mọc thành các
quần thụ thuần loại vùng núi cao, khí hậu thiên về á nhiệt đới.
Ngành thực vật hạt kín, có nhiều họ được các nhà lâm học, các nhà kinh doanh, chế biến
quan tâm. Ví dụ như:
Họ Ngọc Lan (Magnoliaceae) chỉ có 5 chi và trên 25 loài, đều cho gỗ mềm mại, vân
gỗ đẹp, có hương thơm, ít bị mối mọt. Một số loài đã được gây trồng rộng rãi cho
sản lượng gỗ lớn, giá trị sử dụng cao, như: gỗ vàng tâm, gỗ mỡ, gỗ dổi xanh, dổi đá.
136
Hin nay vi cụng ngh ch bin v hin i, cỏc loi cõy g t nh n ln, t g mm,
nh, mu nht n g cng, nng, mu sc m u c x lý ngõm tm gia cụng tt,
nờn giỏ tr s dng ngy cng c nõng cao v cho nhiu sn phm quớ v p. Tuy
nhiờn, theo cỏc tiờu chun t nhiờn v mu sc, hng v, t trng, sc chu ng m cỏc
loi g vn c phõn ra lm 8 nhúm:
Nhúm I: Nhúm g quớ ni ting trờn th trng (trong nc v quc t), cú võn p,
mu sc úng ỏnh, bn v cú hng thm nh lỏt hoa (h Xoan), cm lai (h u), g
(H Vang), p mu (H Hong n)
Nhúm II: Nhúm g nng, cng bao gm cỏc loi cú t trng ln, sc chu lc cao,
nh inh (H Nỳc nỏc), Lim (H Vang), Nghin (H Chố), Tỏu (h Du), Sn (H
Hng xiờm), Gừ (H Vang)
Nhúm III: Nhúm g nh v mm hn, nhng sc bn cao, dẻo dai ln, sc chu
lc cao nh Sao en, Chũ ch, Hunh
Nhúm IV: Nhúm g cú mu t nhiờn, th mn, tng i bn, d gia cụng ch bin,
nh Gi, M, Re (h Long Nóo), Gii (h Ngc Lan)
Nhúm V: Nhúm g trung bỡnh, cú t trng trung bỡnh, dựng rng rói trong xõy dng,
úng c nh Si, gi, Trn, Thụng
Nhúm VI: Nhúm g nh, sc chu ng kộm, d b mi mt, d ch bin nh Rng
rng, Khỏo, Cho
Nhúm VII: Nhúm g nh, sc chu lc kộm, sc chng mi mt thp nh Cụm, S,
Ngỏt, Vng
Nhúm VIII: Nhúm g nh, sc chu lc rt kộm, kh nng b mi mt cao nh
Sung, Cụi, Ba bột, Ba soi
Ti nguyờn cỏc loi cõy thõn g Vit Nam cũn phc v rt nhiu mt trong i
sng con ngi. Ngy nay, mc dự vi s phỏt trin vt bc ca cỏc ngnh cụng nghip
ch bin khỏc, phc v i sng con ngi, nhng nhu cu v s dng cỏc sn phm ca
cõy g vn ngy cng gia tng. Do ú vic tỡm hiu a dng v nhúm cõy ny vn phi
c ra, mt mt phc v cho i sng ngy cng cao ca nhõn dõn, mt khỏc phi bo
v, tụn to c ngun ti nguyờn cõy g m bo cõn bng sinh thỏi, ci to nuụi trng,
ngắn, do vậy chúng có thể nhanh chóng được tái sinh và phục hồi lại mật độ của quần thể khi
bị các tác động khai thác hợp lý. Về mặt sinh thái học, vài trò của NTFPs và gỗ trong hệ sinh
thái (HST) rừng là rất khác nhau, một số các loài cây gỗ lớn mọc tự nhiên, khi trưởng thành
sẽ tạo nên tầng tán và hình thành tầng vượt tán, đây là tầng cây rất quan trọng, mang đặc tính
của HST rừng, quyết định vai trò phòng hộ của rừng và sự hình thành nên các tầng dưới. Chu
kì sống của các loài này rất dài, hàng trăm năm hoặc hơn. Nếu chúng ta khai thác kiệt tầng
cây này thì tức là đã phá huỷ HST này, và phải mất đi một thời gian rất dài để rừng phục hồi
lại, nhưng chắc chắn rằng không thể như xưa.
Với các đặc điểm trên, sự khai thác sản phẩm gỗ thường dẫn đến sự phá huỷ rất lớn.
Sự quản lý hợp lý rừng ẩm nhiệt đới bởi các kỹ thuật khai thác và chế biến gỗ (chưa tính đến
việc chặt trắng), bao gồm kiểm soát đốn gỗ, tu bổ lại rừng và đất rừng, tái trồng cây bản địa,
khoanh nuôi bảo vệ để tái sinh rừng trong khoảng thời gian thích hợp sau khi đã làm cạn kiệt
rừng vẫn là điều không tưởng (H. de Beer, J. McDermott, 1996). Điều đặc biệt quan trọng
trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên là phải luôn xem xét đến tính bền vững. Khi bắt đầu
chặt gỗ thì cũng là báo hiệu sự kết thúc của một cánh rừng, nó không chỉ bởi những điều kiện
của tính bền vững, mà còn là sự khai thông cho các hoạt động khác, như lấy đất để canh tác
hay xây dựng.
NTFPs thường được phân chia theo mục tiêu và giá trị sử dụng thành các nhóm như sau:
- Nhóm làm thuốc chữa bệnh.
- Nhóm cho tinh dầu.
- Nhóm cho nhựa.
- Nhóm làm hàng thủ công mỹ nghệ.
- Nhóm cho dầu béo.
- Nhóm cho dầu nhờn.
- Nhóm cho tannin.
- Nhóm làm cảnh.
Lan Medinilla magnifica
Lan cột cao sừng
138
Trước hết, một số loài cây thân gỗ có khả năng làm thuốc, như nhiều loài trong họ Trúc
thuộc họ Thầu dầu (Eupherbiaceae) đặc biệt các loài của chi Cao su (Hevea), họ
Chày (Sapotaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Trúc đào (Apocynaceae)
2. Nhựa dầu, gôm: các cây gỗ trong rừng nước ta cung cấp rất nhiều dạng nhựa dầu,
gôm, keo, quí như gồm các loại keo (Acacia) trong họ Đậu (Fabaceae), các loài
Trôm (Sterculia) trong họ Trôm (Sterculiaceae) và rải rác các loài khác trong các
họ Chùm ngây (Moringaceae), họ Thanh thất (Simaroubaceae), họ Đào lộn hột
(Anacardiaceae), họ Hồng Xiêm (Sapotaceae), họ Bàng (Combretaceae) \Các
loài cây thân gỗ còn cung cấp các loại nhựa dầu trích ra từ thân, rễ cây để phục
vụ cho sản xuất công nghiệp. Các loài trong chi Thông (Pinus), trong họ Thông
(Pinaceae) đều cho nhựa dầu quí. Ngoài ra còn có cái chi sao (Hopea), Dầu
(Dipterocarpus), Táu (Vatica) trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), các chi Rhus,
Melanonhea trong họ Đào lộn hột (Anacardiaceae)
3. Dầu béo, sáp, mỡ là các sản phẩm do cây gỗ cung cấp vừa làm thực phẩm, vừa
phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Các dầu béo này cho cây tổng hợp được trong
các mô dự trữ, các dầu, mỡ này có trong các quả, hạt của nhiều loài cây, như quả
Dừa trong họ Cau dừa (Arecaceae), các hạt trong họ Đậu (Fabaceae), họ Đậu lộn
hột (Anacardicaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
139
Cuối cùng các phần khô của cây gỗ (vách tế bào đã chết) cũng cung cấp cho loài người
các sản phẩm độc đáo. Đó là các dạng sợi khác nhau khai thác từ vỏ, gõ hay các phần
phụ của quả, hạt. Các sợi này có thể bện làm dây hoặc kéo guồng thành sợi để dệt. Vỏ
gỗ nhiều loại trong họ Thầu dầu (Eupherbicaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Trôm
(Sterculiaceae), họ Đay (Tiliaceae) và các loại quả, hạt trong họ Gạo (Bombacaceae) họ
Bông (Malvaceae) đều cho các dạng sợi tốt cho công nghiệp dệt.
Vỏ gỗ, vỏ rÔ và lá cây thân gỗ còn cho các chất Tamin để thuộc da, làm thuốc và nhuộm
màu các sản phẩm. Các loài cây trong rừng ngập mặn (Mangrove) như vẹt, sú, bần,
đước đều chứa tỷ lệ Tamin cao. Ngoài ra còn có các loài trong họ Bàng
(Combretaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đậu (Fabaceae) họ Đào lộn hột
(Anacardiaceae), cũng cung cấp nhiều Tanin để làm thuốc (làm se khô vết thương), và
sử dụng trong công nghiệp.
thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu
khác. Chắc chắn rằng hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài mà chúng ta chưa biệt công dụng
của chúng. Cũng có thể có rất nhiều loài có tiềm năng như một nguồn cung cấp dược liệu hết
sức quan trọng.
140
Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao. Tuy rằng hệ thực vật Việt Nam không
có các họ đặc hữu và chỉ có khoảng 3% số chi là đặc hữu (như các chi Ducampopinus,
Colobogyne) nhưng số loài đặc hữu chiếm khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt
Nam và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc (Thái Văn Trừng, 1970). Phần lớn số loài
đặc hữu này tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc,
khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực
rừng mưa ở phần Bắc Trung Bộ. Nhiều loài là đặc hữu địa phương chỉ gặp trong một vùng
rất hẹp với số cá thể rất thấp. Các loài này thường rất hiếm vì các khu rừng ở đây thường bị
chia cắt thành những mảnh nhỏ hay bị khai thác một các mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, do đặc điểm cấu trúc, các kiểu rừng nhiệt đới ẩm thường không có loài
chiếm ưu thế rõ rệt nên số lượng cá thể của từng loài thường hạn chế và một khi đã bị khai
thác, nhất là khai thác không hợp lý thì chúng chóng bị kiệt quệ. Đó là tình trạng hiện nay
của một số loài cây gỗ quý như Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) Gụ mật (Sindora siamensis)
nhiều loài cây làm thuốc như Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis), Ba kích (Morinda
officinalis) thậm chí có nhiều loài đã trở nên hiếm hay có nguy cơ bị tiêu diệt như Thông
nước (Glyptostrobus pensilis), Hoàng đàn (Cupressus terbulosa), Bách xanh (Calocedrus
macolepis), Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariaensis), Pơmu (Fokiena hodginsii) v.v.
Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê được 275 loài thú,
828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, 472 loài cá nước ngọt, khoảng 2.000 loài cá
biển và thêm vào đó có hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và
nước ngọt (Đào Văn Tiến, 1985; Võ Quý, 1997; Đặng Huy Huỳnh, 1978). Hệ động vật Việt
Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, đại diện cho vùng
Đông nam á. Cũng như thực vật giới động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn
100 loài và phân loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu. Có rất nhiều loài dộng vật
có giá trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như: Voi, Tê giác Giava, Bò
Nam l mt trong nhng vựng xng ỏng cú u tiờn cao v vn bo v. Khụng nhng th,
hin nay Vit Nam vn cũn cú nhng phỏt hin mi rt lý thỳ. Ch trong hai nm 1992 v
1994 ó phỏt hin c ba loi thỳ ln, trong ú cú hai loi thuc vựng rng H Tnh l loi
Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) v loi Mang ln hay cũn gi l Mang bm
(Megamuntiacus vuquangensis), ni m trc õy khụng lõu ó phỏt hin loi tr cui cựng
trờn th gii, loi G lam uụi trng hay cũn gi l G lng (Lophura hatinhensis).
Ngy 21 thỏng 10 nm 1994 mt loai thỳ ln mi th ba l loi (Pseudonovibos
spiralis) Tõy Nguyờn, tm gi l loi Bũ sng xon c cụng b v nm 1997 mt loi
thỳ ln mi na cho khoa hc c mụ t ú l loi Mang Trng Sn (Caninmuntiacus
truongsonensis) tỡm thy lõn u tiờn vựng Hiờn, thuc tnh Qung Nam. khu vc V
Quang trong nhng nm gn õy phỏt hin c thờm mt loi cỏ mi cho khoa hc:
Opsarichthys vuquangensis. Chỳng ta tin rng Vit Nam chc chn cũn rt nhiu loi
ng, thc vt cha c cỏc nh khoa hc bit n.
Ngun ti nguyờn thiờn nhiờn giu cú v sinh gii ny, cú th ỏp ng nhng nhu cu
hin ti v tng lai ca nhõn dõn Vit Nam trong quỏ trỡnh phỏt trin, cng nh ó ỏp ng
nhng nhu cu y trong quỏ kh. Ngun ti nguyờn thiờn nhiờn ny khụng nhng l c s
vng chc ca s tn ti ca nhõn dõn Vit Nam thuc nhiu th h ó qua m cũn l c s
cho s phỏt trin ca dõn tc Vit Nam trong nhng nm sp ti. Tuy nhiờn thay vỡ bo tn
ngun ti nguyờn ny, nhõn dõn Vit Nam di danh ngha Phỏt trin kinh t ang khai thỏc
quỏ mc v phớ phm ngun ti nguyờn quý giỏ ny. Nhiu loi hin ó tr nờn him mt s
loi ang cú nguy c b dit vong. Nu bit s dng ỳng mc v qun lý tt ngun ti
nguyờn sinh hc ca Vit nam cú th tr thnh ngun ti nguyờn tỏi to rt cú giỏ tr th
nhng ngun ti nguyờn ny ang suy thoỏi nhanh chúng.
(Xem thờm Bi ging a dng sinh hc trờn PowerPoint)
* Giá trị của Đa dạng sinh học.
Những giá trị kinh tế trực tiếp.
Giá trị sử dụng cho tiêu thụ:
Đó là những sản phẩm sinh học mà những ng-ời dân sống gần những nguồn tài nguyên đó
th-ờng khai thác và sử dụng cho những mục đích hàng ngày của mình. Ví dụ: củi đun, rau
quả, thịt cá, d-ợc phẩm và nguyên vật liệu xây dựng Nếu nh- tất cả các nguồn tài nguyên
cung cấp cho chúng ta nguồn thực phẩm to lớn, nguồn d-ợc phẩm qúi giá và nguồn gen vô
cùng quan trọng trong việc chọn giống, không những chỉ cho con ng-ời trên TG hiện nay mà
còn cho cả các thế hệ t-ơng lai. Hàng trăm loài có những công dụng khác nhau có thể bị biến
mất tr-ớc khi chúng ta nhận thức đ-ợc tầm quan trọng của chúng. Tr-ớc khi dịch AIDS bùng
nổ, chúng ta không hề biết rằng cây hạt dẻ gai tại vịnh Moreton của Australia lại có thể cho
chúng ta một loại chất thúc đẩy quá trình nghiên cứu ph-ơng pháp điều trị bệnh này. Hiện
nay có rất nhiều công ty d-ợc phẩm lớn trên TG đã đặt hàng hoặc tài trợ cho các Viện nghiên
cứu đa dạng sinh học của các n-ớc nhiệt đới để tìm hiểu, ngiên cứu và khai thác các loài cây
thuốc và con thuốc quí trong rừng của những quốc gia giàu có về ĐDSH này. Ví dụ, công ty
d-ợc phẩm MERCK (Mỹ) đã trả cho Viện ngiên cứu ĐDSH quốc gia Côsta Rica 1 triệu đôla
để có quyền kiểm tra sơ bộ toàn bộ các sản phẩm tự nhiên của quốc gia này, chứ ch-a đề cập
đến vấn đề đ-ợc phép sử dụng.
Những giá trị kinh tế gián tiếp.
Những giá trị này th-ờng đ-ợc đánh giá bằng sự trả giá khi những nguồn tài nguyên thiên
nhiên này không còn nữa, con ng-ời buộc phải tìm một ph-ơng cách khác để phục vụ cho đời
sống của mình. Ví dụ, chúng ta phải tìm những nguồn nguyên liệu thay thế cho gỗ, cho củi,
cho thuốc có nguồn gốc tự nhiên phải ngiên cứu, sáng chế, xây dựng các nhà máy, công
trình chống lại sự xói mòn, mở rộng các hồ chứa n-ớc, cải tiến công nghệ kiểm soát và giảm
thiểu sự ô nhiễm MT, đòi hỏi rất nhiều công sức và những khoản chi rất tốn kém
Các giá trị khác.
Nh- chúng ta đã biết, các sinh vật đều không thể tự sống độc lập đ-ợc, mà chúng phải dựa
vào nhau, thực vật là nguồn thức ăn của rất nhiều loài động vật và vi sinh vật, động vật giúp
thực vật trong việc thụ phấn, sinh sản và phát tán hạt để tiếp tục duy trì nòi giống, xác động
thực vật chết đi, quay trở về đất cung cấp một l-ợng mùn lớn cho thực vật, đấy là chúng ta
ch-a kể đến những mối quan hệ kí sinh, cộng sinh, hội sinh giữa các sinh vật với nhau. Nh-
vậy, một loài này khi mất đi chắc chắn sẽ ảnh h-ởng tới những loài khác sống chung với nó.
Ví dụ, rừng mất đi hay bị thu hẹp tức là mất đi nguồn thức ăn, nơi ở, nơi sinh sản của rất
nhiều loài sinh vật khác; loài mèo mất đi, tạo cơ hội cho loài chuột phát triển và chúng tha hồ
phá hoại mùa màng, gây dịch bệnh và tiếp theo đó là hàng loạt những ảnh h-ởng xấu xẩy
ra Nh- vậy, sự đa dạng sinh học càng cao thì hệ sinh thái ở đó càng ổn định và mang lại
sách phát triển, cơ quan dịch vụ du lịch và các cơ quan bảo tồn.
- Giá trị giáo dục và nghiên cứu khoa học: Các công cụ giáo dục nh- sác giáo khoa, các
băng hình, các ch-ơng trình truyền hình bỏ ra khoản chi tồn kém mới có thể tạo dựng nên
những hình ảnh thiên nhiên. Thay cho các hạot động đó, đa dạng sinh học đ-ợc gìn giữ
trong các HST sẽ là những bài học cụ thể nhất, án t-ợng nhất cho học sinh và những ng-ời
quan sát. Đó cũng là nơi ngiên cứu của các nhà khoa học.
- Quan trắc môi tr-ờng: Một số loài đặc biệt nhạy cảm với những biến động và các chất
độc hại của MT, có thể trở thành những sinh vật chỉ thị, báo động sớm những vấn đề khí
hậu, môi tr-ờng sẽ xảy đến với con ng-ời. Ví dụ địa y sống trên đá, hấp thụ n-ớc m-a có
thể cho ta biết những hoá chất có trong n-ớc m-a, biểu thị sự Ô nhiễm của MT khí.
Giá trị tồn tại và vấn đề đạo đức: Tất cả các sinh vật xung quanh chúng ta đều đ-ợc sinh ra
trên hành tinh này, đều có quyền sống, và chúng thể hiện nguyện vọng đó bằng cách chúng
sinh con, đẻ cái, chăm sóc con non, cách chúng thụ phấn, phát tán hạt, nhằm phát triển mãi
không ngừng Con ng-ời cũng chỉ là một loài sinh vật trên hành tinh này, cũng sống trong
một MT có giới hạn và cũng phụ thuộc vào nhiều loài sinh vật khác. Con ng-ời cũng nh- sinh
vật cần sống hài hoà với mọi sinh vật khác, giữ gìn sự cân bằng và sự đa dạng sinh thái, bảo
vệ môi tr-ờng sống cho tất cả các loài sinh vật và cũng chính là MT của chính loài ng-ời.
Nếu MT và sự đa dạng sinh học suy thoái thì con ng-ời cũng phải gánh chịu những hậu quả
xấu giống nh- những sinh vật khác.
Th nhng trong my chc nm qua rng b suy gim nghiờm trng. Nm 1943 din
tớch rng l 19 triu ha. Hin nay rng ch cũn chim t 20 n 28% din tớch c nc, ngha
l vo khong t 7 n 9 triu ha. Nh vy, trung bỡnh hng nm Vit Nam mt khong 160-
144
200 nghỡn hecta rng. c tớnh cú 603 triu m
3
g k c 593 triu m
3
trong rng t nhiờn
(trong ú cú 370 triu m
3
tổng số các loại cá n-ớc ngọt của toàn châu Âu. Hay nh- đảo Madagasca có tới 12.000 loài thực
vật, trong đó có khoảng 6.000 loài là đặc hữu; và khoảng 4.000 loài thực vật ở Cuba không thể tìm
thấy ở bất cứ nơi nào khác. Mỗi đai khí hậu khác nhau, mỗi môi tr-ờng sống khác nhau thì có sự
phân bố của những loài sinh vật khác nhau.
Ng-ời ta dễ quên đi rằng nhiều khu vực, ví dụ nh- các khu rừng nhiệt đới mà chúng ta vẫn
xem là hoang sơ nguyên thuỷ, nh-ng thực tế đã bị con ng-ời xâm nhập sinh sống và có sự tác
động đến sự phân bố của các loài. Theo dọc chiều dài lịch sử, những ng-ời nông dân đã thử
nghiệm và tạo ra nhiều giống mới, phù hợp với những điều kiện khác nhau của mỗi vùng đất.
Cuộc sống của con ng-ời đã từng phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong hàng trăm
cách khác nhau. Trải qua hàng ngàn năm phát triển, mặc dù con ng-ời đã sử dụng khoảng 7.000
loài thực vật, nh-ng hiện chỉ còn 150 loài có giá trị th-ơng mại quan trọng, với chỉ 3 loài lúa mì,
lúa n-ớc và ngô nh-ng đã cung cấp 60% calo cho cả TG và 56% protein cho con ng-ời.
Theo ngiên cứu mới đây nhất thì TG đã biết và mô tả đ-ợc 1,74 triệu loài trên TĐ, trong đó
có 4.000 loài thú, 9.040 loài chim, 4.184 loài ếch nhái, 18.150 loài cá x-ơng, 843 lòai cá sụn, 751
loài côn trùng, 6.100 loài da gai, 50.000 loài thân mềm, hàng chục ngàn loài giun, ruột khoang,
thân lỗ và hàng trăm ngàn lòai động vật nguyên sinh. Về thực vật có 50.000 lòai 1 lá mầm,
170.000 loài 2 lá mầm, hàng trăm ngàn loài thực vật hạt trần, d-ơng xỉ và tảo, rêu, nấm. Về vi
sinh vật, có gần 5.000 loài vi khuẩn, 1.000 loài vi rút. Trong thực tế, các số liệu gần đây -ớc tính
có khoảng 10 đến 15 triệu loài trên trái đất ch-a đ-ợc con ng-ời biết đến, đặc biệt là những loài
côn trùng sống ở vùng nhiệt đới và các loài vi sinh vật. Còn rất nhiều nơi mà con ng-ời ch-a bao
giờ đặt chân đến, và có thể không bao giờ đặt chân đến đó đ-ợc thì các sinh vật ở đó ra sao?
Chúng ta không thể biết đ-ợc. Đáy biển sâu là một trong những nơi đ-ợc đánh giá có giá trị đa
dạng cao, một số loài vi khuẩn năng động đã đ-ợc tìm thấy ở độ sâu 500m d-ới lớp trầm tích biển.
Nh-ng con ng-ời ch-a thể khám phá gì nhiều bởi có quá nhiều khó khăn. Có những loài vi khuẩn
yếm khí có khả năng sống trong những môi tr-ờng cực kì khắc nghiệt, nơi mà chúng ta không ngờ
đến sinh vật có thể sống đ-ợc, ví dụ: vi khuẩn yếm khí Archeabacteria sống giữa lớp đá nằm sâu
5km trong lòng đất. Có những loài vi khuẩn lại tồn tại trong các mỏ khí Sunfua, Metan Ch-a nói
gì đến những sinh vật nhỏ bé, ngay đến cả những loài động vật to lớn mà chúng ta cũng ch-a biết
hết, hàng ngày con ng-ời vẫn đang tìm ra những loài mới, ví dụ: Trong những năm 90, các nhà
khoa học đã tìm ra 5 loài thú mới ở khu rừng m-a nhiệt đới Bắc Tr-ờng Sơn (Mang lớn, Sao la,
Cứ 100kg nguyên liệu (quả Hồi khô) các nhà KH viện Khoa Học - Công nghệ
chiết xuất được 7kg và mục tiêu 9 - 10kg Shikimic. Giá Hồi hiện tại Lạng Sơn
khoảng 15.000đ/kg hay khoảng 100USD cho 100kg nguyên liệu để sản xuất ra 7kg
Shikimic tương đương giá trị 3.000 - 4.000 hoặc 6.000USD trên thị trường thế giới.
Như đã nói Việt Nam chiếm khoảng 50% sản phẩm Hồi thương phẩm trên thị
trường thế giới hay nói cách khác, Việt Nam có thế mạnh rất đặc biệt trong cung
cấp nguyên liệu để sản xuất Tamiflu của thế giới.
Phương án về giải quyết thuốc Tamiflu ở Việt Nam là đổâưxít Shikimic cho hãng
Roche để lấy Tamiflu. Trường hợp bất khả kháng là tự sản xuất hoạt chất này tại
Việt Nam.
Dù là phương án nào, khả năng hiện thực đều lớn vì chúng ta "có thừa" nguyên
liệu là rừng Hồi. Thống kê năm 2004, diện tích vùng Hồi các tỉnh biên giới phía Bắc
là 44.600ha: Lạng Sơn 31.000ha, Cao Bằng 4.200ha, Bắc Kạn 2.700ha và Quảng
Ninh 6.500ha (Viện ĐTQHR, 2005). Như vậy, ít nhất cũng có khoảng 15.000 -
20.000 ha rừng Hồi cho thu hoạch với năng suất 0,5 tấn/ha/năm hay 8.000 -
10.000tấn/năm như đã nêu.
Tương lai sản xuất thuốc Tamiflu ở Việt Nam là tín hiệu rất đáng mừng cho vùng
Hồi, hơn thế nữa người trồng Hồi cũng có thể hy vọng Việt Nam sẽ là nước xuất
khẩu axít Shikimic ra thế giới.
147
4. Nguồn tài nguyên đất và nước.
Nhiều tác giả cho rằng tài nguyên đất và nước trong rừng cũng là một loại tài nguyên
rừng. Như chúng ta đã biết đất và nước là những nguồn tài nguyên vô cùng quan trong đối
với con người. Rừng bảo vệ một diện tích đất đai rất lớn tránh khỏi sự xói mòn và bạc màu,
rừng còn điều hoà các dòng chảy, giữ nước, hạn chế nước đổ ra biển, làm tăng lượng nước
ngầm cho các vùng và làm lượng nước sạch được tái tạo nhanh hơn. Tính đến cuối năm 2006
diện tích đất có rừng trên toàn quốc là gần 13 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên là 10,4 triệu ha;
rừng trồng là 2,5 triệu ha. Phân loại theo chức năng sử dụng thì rừng đặc dụng là 2,2 triệu ha;
rừng phòng hộ là gần 5,3 triệu ha; rừng sản xuất là 5,4 triệu ha.
Những vùng đất rộng lớn ở miền núi và khu vực trung du Bắc Bộ có độ phì thấp, các
3
, Ðồng Nai 31 km
3
, sông Cả 24 km
3
, sông Mã - Chu 20 km
3
, sông Thu
Bồn19 km
3
, sông Ba 10 km
3
, sông Gianh 8 km
3
, sông Bằng - Kỳ Cùng 7 km
3
, các sông nhỏ
khác 120 km
3
. Sự dao động của dòng chảy qua các năm phức tạp, giữa năm nhiều nước và
năm ít nước tuỳ theo sông có thể chênh nhau từ 1,5 đến 30 lần. ở các sông có diện tích lưu
vực nhỏ thì chênh lệch lớn trên 10 lần, ở các sông lớn thì chỉ từ 1,5 đến 3 lần.