546
Mạng ATM, Frame Relay và X.25 truyền lưu lượng của nhiều khách hàng khác
nhau trong cùng một kết nối. Khách hàng không kiểm soát
đư
ợ
c
số lượng
đư
ờ
ng
kết nối, số lượng trạm trung gian mà dữ liệu phải
đ
i
qua trong mạng chia sẻ, cũng
như không thể
đ
i
ề
u
khiển
đư
ợ
c
thời gian chờ tại mỗi trạm. Chính vì nhược
đ
i
ể
m
về
ng
thuê kênh riêng có cùng dung lượng.
Mặc dù ATM cũng là một mạng chia sẻ nhưng nó
đư
ợ
c
thiết kế
đ
ể
giảm thiểu tối
đ
a
thời gian trễ và nghẽn mạch bằng cách sử dụng các kết nối tốc
đ
ộ
cao với một
đơ
n
vị dữ liệu thống nhất, dễ quản lý, gọi là tế bào. Mỗi một tế bào ATM ( chính là
mỗi gói dữ liệu trong mạng ATM) có chiều dài cố
đ
ị
nh
là 53 byte, trong
đ
ó
48 byte
dữ liệu và 5 byte cho phần Header. Các tế bào có chiều dài nhỏ và như nhau,
thuê riêng thường
đư
ợ
c
sử
dụng
đ
ể
kết nối các chi nhánh vào một trung tâm. Frame Relay, ATM hoặc
đư
ờ
ng
thuê riêng thường
đư
ợ
c
sử dụng
đ
ể
kết nối các vùng mở rộng vào
đư
ờ
ng
trục
chính. ATM hoặc
đư
ờ
c
thiết kế theo mô hình phân cấp có thể mở rộng hơn
mở rộng nhiều mà không hề làm giảm bớt mức
đ
ộ
kiểm soát và quản lý hệ
thống. Các chức năng của hệ thống
đ
ã
mang tính tập trung và các lỗi
tiềm
ẩ
n
sẽ
đư
ợ
c
phát hiện dễ dàng hơn. Hệ thống mạng chuyển mạch
đ
i
ệ
n
thoại là một ví dụ cho kiểu cấu trúc mạng phân cấp lớn.
Dễ triển Cấu trúc phân cấp có chức năng rõ ràng cho từng lớp nên công việc
khai triển khai cũng
đư
ợ
c
thực hiện dễ dàng hơn.
ó
việc nâng cấp hệ thống cũng sẽ tạo
đư
ợ
c
thuận
lợi hơn.
Khả năng
Đ
ố
i
với cấu trúc mạng có phân cấp thì việc tích hợp các
ứ
ng
dụng và
hỗ trợ giao thức hiện tại với tương lai có thể thực hiện dễ dàng vì cơ sở hạ
các giao tầng mạng
đư
ợ
c
tổ chức theo logic.
thức
Khả năng Tất cả các
ư
u
đ
i
ể
m
đư
sao
đơ
n
cũng không thực hiện
đư
ợ
c
vì chúng ta cần phải có một router tại vị trí
trung tâm hình sao với 900 cống hoặc 1 cổng vật lý có khả năng thiết lập 900 giao
tiếp
ả
o.
548
Thay vào
đ
ó
chúng ta sẽ thiết kết theo mô hình phân cấp. Các mạng LAN trong
cùng một vùng
đ
ị
a
lý sẽ
đư
ợ
c
liên kết lại với nhau thành một vùng. Các vùng sẽ
đư
ợ
ể
m
đư
ợ
c
kết nối với nhau trong một vùng
đư
ợ
c
giới hạn trong
khoảng từ 30
đ
ế
n
50. Mỗi vùng có cấu trúc hình sao, thiết bị tại trung tâm hình sao
sẽ kết nối ra khu vực. Mạng khu vực có phạm vi
đ
ị
a
lý lớn, kết nối khoảng 3
đ
ế
n
10 vùng với nhau. Thiết bị trung tâm của mạng khu vực sẽ kết nối ra trục chính,
các kết nối này có thể là kết nối
đ
i
ể
m
i
ể
m
truy cập vào hệ thống mạng. Lưu lượng giữa các vùng
đư
ợ
c
phân phối bởi các kết
nối trong lớp phân phối và chỉ
đư
ợ
c
chuyển lên
đư
ờ
ng
trục chính sang khu vực
khác khi cần thiết.
Cấu trúc này rất hữu dụng khi công ty có cấu trúc chi nhánh và
đư
ợ
c
chia thành
khu vực, vùng, chi nhánh. Cấu trúc này cũng rất phù hợp khi có một trung tâm dịch
vụ mà tất cả các chi nhánh
đ
ề
u
cần phải truy cập vào nhưng cấp
thể là quay số, thuê riêng hoặc Frame Relay. Cấu trúc Frame Relay cho phép thực
hiên dạng mạng lưới
đ
ể
dự phòng mà không cần phải thêm kết nối vật lý. Các kết
nối
ở
lớp Phân phối (Distribution Layer) có thể là Frame Relay hoặc ATM và kết
nối trục chính ( Core Layer) có thể là ATM hoặc
đư
ờ
ng
thuê riêng.
2.3.5. Các mô hình phân lớp khác
Có nhiều hệ thống mạng lại không
đ
òi
hỏi phải có cấu trúc phân cấp phức tạp
đ
ủ
3
lớp. Do
đ
ó,
chúng ta có thể sử dụng dạng phân cấp
đơ
n
Hình 2.3.5.b.
Mô hình phân cấp một lớp.
N
ếu do yêu cầu
đ
ị
a
lý cần phải tập trung thành một số
đ
i
ể
m
thì chúng ta có thể áp
dụng mô hình thiết kế 2 lớp.
Khi thiết kế mạng
đơ
n
giản chúng ta vẫn dựa theo mô hình ba lớp
đ
ể
mạng có khả
năng mở rộng về sau. Các thiết bị tại trung tâm của lớp 2
đư
ợ
c
coi là trục chính
mặc dù không có router nào
ở
nhiều quốc gia khác
nhau.
Trong quá trình thiết kế, chúng ta phải quant tâm
đ
ế
n
thành phần
đ
i
ra và
đ
i
vào từ
Internet. Từ khi Internet
đư
ợ
c
triển khai khắp nơi, các mạng LAN của công ty có
thể trao
đ
ổ
i
dữ liệu theo hai cách. Mỗi LAN có một kết nối
đ
ế
n
ISP trong vùng của
nó hoặc là từ router trung tâm củ vùng thực hiện một kết nối
đ