KHÁI QUÁT ĐỊA LÍ TỰ
NHIÊN TP HỒ CHÍ MINH Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10
0 38 vĩ độ bắc và 106 0 22’ – 106 054 ’ kinh độ đông . Phía Bắc giáp
tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc
giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và
Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ,
nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống
Nam , từ đông sang tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung
tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu
mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế .
Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước , cảng Sài Gòn với
năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất
với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km.
Ðịa hình
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông
Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng
thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Nó có thể chia
thành 3 tiểu vùng địa hình
bình 270C. Nhiệt độ cao tuyệt đối 400C, nhiệt độ thấp tuyệt đối
13,80C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,80C),
tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và
tháng 1 (25,70C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung
bình 25-280C. Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát
triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao;
đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các
chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị.
- Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949 mm. Năm cao nhất 2.718
mm (1908) và năm nhỏ nhất 1.392 mm (1958). Số ngày mưa trung
bình/năm là 159 ngày. Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung
vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng
6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất. Các tháng 1,2,3 mưa rất ít,
lượng mưa không đáng kể. Trên phạm vi không gian thành phố,
lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục
Tây Nam - Ðông Bắc. Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện
phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và
Tây Nam.
- Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân
mùa mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô
74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%.
- Về gió, Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió
chính và chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc. Gió
Tây -Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ
tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình 3,6m/s và gió thổi mạnh
nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s. Gió Bắc- Ðông Bắc từ
biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2,
nhưng đất có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều
loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho năng suất và hiệu
qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt.
Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng
cơ bản.
Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh,
trầm tích này có nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển,
aluvi lòng sông và bãi bồi nên đã hình thành nhiều loại đất khác
nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha (7,8%), nhóm đất
phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn (45.500 ha (23,6). Ngoài
ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần
biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
+ Nhóm đất phù sa không hoặc bị nhiễm phèn, phân bố ở những nơi
địa hình hơi cao khoảng 1,5-2,0m. Nó tập trung tại vùng giữa của
phía Nam huyện Bình Chánh, Ðông Quận 7, Bắc huyện Nhà Bè và
một ít nơi ở Củ Chi, Hóc Môn.
Nhóm đất phù sa hai loại: đ?t phù sa không được bồi, có tầng loang
lổ; đất phù sa không được bồi, gley. Trong đó hai loại đầu chiếm diện
tích lớn hơn; loại sau, là đất phù sa ngọt, đất rất tốt, chỉ có khoảng
5.200 ha (2,7%). Ð?t phù sa nói chung có thành phần cơ giới từ sét
trung bình tới sét nặng. Ðất có phản ứng chua, độ pH khoảng 4,2-4,5
ở tầng đất mặt và xuống sâu 0,5-1,2m độ chua giảm nhiều, pH nâng
lên tới 5,5-6,0. Hàm lượng mùn trung bình, các chất dinh dưỡng khá.
Là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển trồng lúa cao sản, chất
lượng tốt.
+ Nhóm đất phèn, có hai loại: đất phèn nhiều và đất phèn trung bình.
dưới môi trường yếm khí, chất dinh dưỡng khá; phản ứng của đất từ
chua đến rất chua, pH ở độ sâu tầng sinh phèn xuống tới 2,4-2,7. Tuy
nhiên, về mùa lũ, mặn bị đẩy ra xa và nước được pha loãng trong
thời gian dài 4-5 tháng; đồng thời đất có lớp phủ phù sa dày tới 20-
30 cm, nên vẫn cấy được một vụ lúa với năng suất khoảng 2,0-2,0
tấn/ha. Ðể đạt hiệu quả kinh tế cao hơn, vùng này đã và đang chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phương thức canh tác-các loài cây
ăn quả, cây rừng, nuôi tôm theo các mô hình nông-lâm-ngư kết
hợp.
Ðất mặn dưới rừng ngập mặn: Loại đất này rộng 35.000 ha, chiếm
phần lớn diện tích huyện Cần Giờ. Ðất thịt trung bình, màu xám đen,
nhiều mùn nhão lẫn xác hữu cơ bán phân giải, bị ngập triều thường
ngày, nói chung đất còn ở dạng bùn lỏng chưa cố định, giàu chất dinh
dưỡng, độ pH tầng đất trên 5,8-6,5. Ðất ngập mặn, phù hợp với duy
trì và phát triển các loại cây rừng ngập mặn, nhằm giữ bờ lấn biển,
bảo vệ môi trường cảnh quan, phục vụ phát triển du lịch sinh thái và
nuôi dưỡng hệ sinh thái giàu tiềm năng ở vùng ven biển phía nam
của thành phố.
Nhược điểm chung của hai loại đất phèn mặn là nền đất yếu, nhất là
đất phèn mặn thường xuyên; do đó có mặt hạn chế trong xây dựng
cơ bản, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên, lại rất thuận lợi
đối với phát triển giao thông đường thủy, bởi hệ thống sông rạch tự
nhiên mật độ rất dày, chiếm tới gần 1/3 diện tích lãnh thổ của cả
nhóm đất.
Nguồn nước và thủy văn
Về nguồn nước, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài
kênh Ðông-Củ Chi và các kênh đào An Hạ, kênh Xáng, Bình Chánh đã
giúp cho việc tưới tiêu kết quả, giao lưu thuận lợi và đang dần dần
từng bước thực hiện các dự án giải tỏa, nạo vét kênh rạch, chỉnh
trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh quan sông nước, phát huy lợi thế
hiếm có đối với một đô thị lớn.
Nước ngầm ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung khá phong phú
tập trung ở vùng nửa phần phía Bắc-trên trầm tích Pleixtoxen; càng
xuống phía Nam (Nam Bình Chánh, quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ)-trên
trầm tích Holoxen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.
Ðại bộ phận khu vực nội thành cũ có nguồn nước ngầm rất đáng kể,
nhưng chất lượng nước không tốt lắm. Tuy nhiên, trong khu vực
này, nước ngầm vẫn thường được khai thác ở ba tầng chủ yếu: 0-
20m, 60-90m và 170-200m. Khu vực các quận huyện 12, Hóc môn và
Củ Chi có trữ lượng nước ngầm rất dồi dào, chất lượng nước rất tốt,
thường được khai thác ở tầng 60-90m. Ðây là nguồn nước bổ sung
quan trọng của thành phố.
Về thủy văn, hầu hết các sông rạch Thành phố Hồ Chí Minh đều chịu
ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông. Mỗi ngày, nước
lên xuống hai lần, theo đó thủy triều thâm nhập sâu vào các kênh
rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ đối với sản xuất
nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,10m. Tháng có mực nước
cao nhất là tháng 10-11, thấp nhất là các tháng 6-7. Về mùa khô, lưu
lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 4% có thể xâm nhập trên
sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến đến tận Thủ Dầu Một và
trên sông Ðồng Nai đến Long Ðại. Mùa mưa lưu lượng của nguồn
Ba hệ sinh thái rừng
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa Ðông Nam Bộ
Hệ sinh thái rừng này vốn có ở Củ Chi và Thủ Ðức. Theo một số tài
liệu nghiên cứu cho biết, rừng nguyên sinh Củ Chi là rừng kín
thường xanh ưu thế cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) và trong cấu
trúc tổ thành hỗn giao có khoảng 20-30% các loài cây rụng lá thuộc
họ Ðậu (Leguminosea), họ Tử vi (Lythraceae), đều ở tầng nhô và
tầng tán rừng. Các cây họ Dầu hiện còn tồn tại ở các đốm rừng thứ
sinh khu địa đạo Bến Ðình, có 5 loài là: Dầu lông (Dipterocarpus
intricatus), Sến mủ (Shorea cochinchinensis), Vên vên (Anisoptera
costata), Sao đen (Hopea odorata), và một loài gỗ quý nổi tiếng như:
Cẩm lai (Dalbergia bariensis), Gõ mật (Sindora siamensis), Trắc
(Dalbergia cochinchinensis), Xoay (Dialium cochinchinensis), Căm
xe (Xylia dolabriformis) và trong họ Tử vi có một loài Bằng lăng ổi
(lagerstroemia tomentosa) rụng lá trong mùa khô. Tầng dưới tán có
cây Mã tiền hay còn gọi là cây Củ Chi (Strychnos nux vomica), Cù đèn
(Croton sp), Bời lời và ở bìa rừng hay dưới lỗ trống có Lim xẹt
(Peltophorum dasyrachi), Cò ke (Grewia paniculata), Lòng mức
(Wrightia annamensis). Do vậy, rừng Củ Chi là kiểu rừng ẩm hơi khô
và tương tự như rừng vùng Samát-Cà Tum (Tây Ninh), trên nền đất
phù sa cổ tỷ lệ cát cao-địa hình đồi gò thấp lượn sóng nhẹ đến bằng.
Còn ở Thủ Ðức, rừng nguyên sinh tương đồng với kiểu rừng ẩm điển
hình ở Ðông Nam Bộ, như những cánh rừng ở khu vực Hố Nai, Trảng
Bom trước đây, hoặc khu vực Mã Ðà (Ðồng Nai) hiện nay, trên địa
hình đồi lượn sóng mạnh có nền đất xen kẽ giữa phù sa cổ, đá phiến
sét và các đá acide khác. Trong đó, tổ thành rừng không thấy xuất
hiện các loài cây Dầu chịu khô ở rừng Củ Chi như Dầu lông
(Dipterocarpus intricatus), mà ưu thế lại là các loài cây Dầu rừng ẩm,
Từ sau giải phóng (1975), thực hiện chủ trương dãn dân, phát triển
các cụm kinh tế mới và xây dựng các nông trường, đất phèn hoang
dã được đưa vào sử dụng ngày càng nhiều. Ngoài việc mở rộng diện
tích trồng lúa, mía, thơm, hoa màu và các cây ăn quả lưu niên ra,
phong trào trồng rừng và trồng cây phân tán của nhân dân đã phát
triển rất mạnh, với chủ yếu hai loài cây Bạch đàn trắng (Acasia
Auriculiformis), Keo tai tượng (Acasia mangium), So đũa (Sesbania
grandiflora) Nhờ vậy, môi trường sinh thái vùng ngập phèn ngoại
thành đã nhanh chóng được cải thiện và đang từng bước trở thành
trù phú
Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn tập trung ở huyện Cần Giờ (phía Nam Thành phố)
vốn là rừng nguyên sinh, xuất hiện đã lâu năm theo lịch sử của quá
trình hình thành bãi bồi cửa sông ven biển; ưu thế loài cây đước
(Rhizophora apiculata) có kích thước lớn; với hệ thực vật khá phong
phú-104 loài thuộc 48 họ. Thời thuộc Pháp, nó là rừng cấm, song,
khoảng từ năm 1961-1970 bị các đợt khai quang rải chất độc hóa
học của Mỹ, nên có tới 80% diện tích rừng vùng này bị hủy diệt,
khiến đại bộ phận đất đai trở thành những trảng cỏ cây bụi thứ sinh.
Từ năm 1978, thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư trồng phục hồi hàng
chục ngàn ha rừng đước, chủ yếu tập trung vào khoảng thời gian
1978-1986. Ngoài ra, ở phía Bắc huyện thuộc vùng nước lợ, rải rác
trồng Dừa nước (Nypa fruticans), trồng Tràm và sau đó phát triển
thêm cây Bạch đàn, cây Ðiều.
Về cấu trúc quần thể thực vật rừng ngập mặn, sự phân bố các quần
xã phụ thuộc rõ rệt vào điều kiện lập địa-mà ở vùng ngập mặn, thì
mức độ ngập thủy triều và độ dẽ chặt của đất là yếu tố chi phối chủ