Giá trị nổi bật của dòng thơ
Làng quê trong phong trào
Thơ Mới 1932-1945
Trong lịch sử thi ca Việt Nam, làng quê là một nguồn cảm hứng lớn. Ca dao, thơ
trung đại đã có nhiều bài xuất sắc về đề tài này. Ở mỗi thời kỳ, đề tài làng quê đều có tác
giả, tác phẩm đặc sắc. Nhưng có thể nói, chỉ đến Thơ mới trở đi, thơ làng quê mới thực
sự phong phú như chưa từng có. Mảng sáng tác này có một khối lượng tác phẩm khá
lớn. Theo thống kê của chúng tôi (dựa vào bộ tuyển tập: Thơ mới 1932 - 1945, Tác giả
và tác phẩm do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn, H, 1999 - đây
là công trình được coi là tập hợp đầy đủ và nghiêm túc nhất về Thơ mới hiện nay) thì số
bài viết về làng quê là 426/ 1075 chiếm 39,62%. Con số này chỉ có giá trị tương đối
song có thể tham khảo và cho phép chúng ta hình dung về số lượng tương đối lớn của
mảng sáng tác này. Trong số đó, không ít bài được xem như kiệt tác. Đây là bộ phận thi
ca qui tụ được một đội ngũ tác giả đông đảo. Hầu như không có thi sĩ Thơ mới nào
không viết một đôi bài, một đôi câu, thường vào loại hay nhất của mình về làng quê.
Trong đội ngũ sáng tác đông đảo ấy, có nhóm tả chân chuyên về đề tài này: Bàng Bá
Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ Nguyễn Bính - một trong những tên tuổi lớn nhất của
Thơ mới - được coi là nhà thơ “chân quê”, với hồn thơ “quê mùa”. Một số nhà thơ khác
tuy không chuyên hẳn về làng quê nhưng cảm hứng quê hương có vị trí quan trọng trong
sự nghiệp của họ. Mỗi người đều có một chùm thơ làng quê rất đặc sắc: Hàn Mặc Tử,
Huy Cận, Tế Hanh Sự phong phú của mảng sáng tác này còn được thể hiện cả về nội
dung cụ thể, về các khuynh hướng thẩm mỹ, các phong cách, bút pháp thơ
Với sự phong phú, đa dạng ấy, mảng thơ làng quê giữ một vị trí quan trọng đặc
biệt trong Thơ mới. Là một bộ phận của Thơ mới, thơ làng quê mang đặc điểm, giá trị
chung của cả phong trào. Tuy nhiên, là một mảng sáng tác có đối tượng thẩm mỹ riêng,
quan niệm mỹ học cũng có những nét riêng, thơ làng quê còn có đặc điểm, giá trị riêng.
Nếu giờ đây, không ai còn nghi ngờ Thơ mới là một phong trào thi ca mang đậm
đương thời, không nhằm mục đích tố cáo hay cổ vũ tinh thần chiến đấu nhưng như vậy
không có nghĩa là nó không có ý nghĩa tích cực, không có khả năng thúc đẩy con người
vươn tới những điều cao đẹp.
Tìm đến phong cảnh thiên nhiên làng quê, thi sĩ Thơ mới thường rung cảm và
thấm thía vẻ đẹp thi vị tiềm ẩn trong những cảnh thật đơn sơ, bình dị: “Tia nắng tía nháy
hoài trong ruộng lúa” (Đoàn Văn Cừ), “Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng. Lũ bướm
vàng lơ đãng lướt bay qua” (Anh Thơ), “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay. Hoa xoan lớp
lớp rụng vơi đầy” (Nguyễn Bính), “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng” (Hàn Mặc Tử)
Biết rung cảm một cách sâu sắc, biết thưởng thức nâng niu, trân trọng vẻ đẹp của
thiên nhiên, đặc biệt là những cảnh vốn rất bình dị là một biểu hiện của nhân cách văn
hóa trong con người. Hành trang mà con người mang theo trong quá trình tự hoàn thiện
nhân cách của mình sẽ không thể thiếu vắng những trang văn, dòng thơ giàu thẩm mỹ
trước vẻ đẹp muôn màu của tạo hóa. Thạch Lam có một quan niệm sâu sắc, tiến bộ và
khá toàn diện về văn chương. Nhà văn khẳng định văn chương phải là “thứ khí giới
thanh cao và đắc lực”. Khí giới ấy phải nhằm “tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối
và tàn ác”. Nhưng nó còn phải gánh vác một sứ mệnh thiêng liêng và cao cả khác “làm
cho lòng người trong sạch và phong phú hơn”, có nghĩa là con người trở nên người hơn,
nhân văn hơn. Đó là một tư tưởng lớn, đẹp, rất sâu sắc.
Có thể nói, những câu thơ, bài thơ viết về phong cảnh thiên nhiên làng quê ở Thơ
mới tuy không mang nội dung xã hội, thường chỉ là những rung động, cảm xúc trước cái
đẹp đơn sơ, bình dị của thiên nhiên nhưng đã góp phần đặc biệt quan trọng trong việc
“làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn” như mong mỏi của Thạch Lam.
Ở mảng thơ làng quê, lòng thương đời của thi sĩ được thể hiện sâu đậm hơn bất cứ
mảng thơ sáng tác nào khác của Thơ mới. Mạch tình cảm nhân đạo rất đáng trân trọng
đó được thể hiện nổi bật trong không ít bài thơ rất đỗi hiện thực viết về muôn nỗi thống
khổ của cuộc sống dân quê.
Là một hồn thơ đầy lãng mạn nhưng Tế Hanh đã viết về làng quê với cảm hứng
hiện thực khá sâu sắc. Ông thực sự đau xót khi chứng kiến cảnh làng quê điêu tàn bởi
“Hàng ngoại hóa giết dần hàng nội hóa”. Câu thơ giản dị, mộc mạc như văn xuôi nhưng
trĩu nặng nỗi xót thương của đứa con quê hương vùng biển. Văn Cao là tác giả của
hướng ngoại. Nó hướng đến cuộc sống tăm tối ở nông thôn với cảm hứng hiện thực
thấm đượm tinh thần nhân đạo, nhiều khi thật sâu sắc.
Lòng thương đời ấy còn thể hiện trong sự cảm thông, nâng niu trân trọng những
khát khao yêu đương, khát vọng hạnh phúc lứa đôi âm thầm mà mãnh liệt của những
chàng trai, cô gái thôn quê. Đặc biệt, thi sĩ Thơ mới còn đồng cảm với rung động tình
yêu đầu đời, nỗi tương tư da diết, nhất là nỗi đau bởi duyên phận lỡ làng của bao cô gái
quê. Mưa xuân và Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính có thể coi là những tác phẩm
xuất sắc về phương diện này. Không phải quá lời nếu nói rằng, trong thi ca đương thời,
Nguyễn Bính là người tri âm số một với thân phận của bao cô gái quê. Và vì thế, thơ
ông có sức lay cảm đặc biệt, có khả năng lan truyền rộng rãi và có nhiều lớp độc giả của
nhiều thời ở nông thôn.
Với những biểu hiện đa dạng, sâu đậm như trên, rõ ràng, thơ làng quê trong Thơ
mới là mảng sáng tác giàu giá trị nhân văn. Ở bộ phận thi ca này, giá trị nhân văn ấy vừa
có sự kế thừa truyền thống, vừa có những khía cạnh mới mẻ, chủ yếu do gắn với sự thức
tỉnh ý thức cá nhân trong thời đại chữ Tôi. Như vậy, thơ làng quê đã góp phần làm giàu có,
sâu sắc thêm tinh thần nhân văn của phong trào Thơ mới nói riêng và của văn học dân tộc
nói chung.
Cùng với giá trị nhân văn, Thơ mới còn được đánh giá cao bởi tinh thần dân tộc.
Ở mỗi mảng sáng tác, tinh thần dân tộc ấy có những biểu hiện cụ thể khác nhau. Tuy có
những biểu hiện đa dạng song cội gốc của nó vẫn là tấm lòng gắn bó với quê hương, đất
nước của người làm thơ. Trong phong trào Thơ mới, thơ làng quê luôn được nhiều nhà
nghiên cứu coi là mảng sáng tác thể hiện đầy đủ nhất, đậm đà nhất tinh thần dân tộc ấy.
Cũng như giá trị nhân văn, biểu hiện của tinh thần dân tộc ở mảng thơ làng quê
của Thơ mới cũng rất phong phú.
Thi ca Việt Nam trước đó đã bao lần miêu tả vẻ đẹp của phong cảnh làng quê.
Song về cơ bản, hầu hết những bức tranh quê trong thơ cổ điển nặng tính ước lệ nên màu
sắc dân tộc còn nhòe nhạt. Ngay cả Nguyễn Khuyến được Xuân Diệu coi là “nhà thơ của
làng cảnh Việt Nam” thì màu sắc dân tộc trong những bức tranh quê của ông cũng chưa
thật đậm đà, rõ nét. Phải đến Thơ mới, phong cảnh làng quê mới thực sự “rất đậm đà
phong vị quê hương” - chữ dùng của Hoài Thanh. Con đường làng trong thơ Huy Cận
áo the nâu” đến phẩm chất “thảo hiền” khiến “ai cũng khen” u. Tần tảo sớm khuya tận
hiến cho chồng con nhưng u vẫn không quên dạy con phải biết giữ gìn thuần phong mỹ
tục từ bao đời. Mỗi độ xuân về, u “Lại dẫn chúng tôi về nhận họ - Bên miền quê ngoại
của hai thân”. Với “u tôi” và nhiều người phụ nữ truyền thống Việt Nam thì “Dẫu phải
theo chồng thân phận gái - Đường về quê mẹ vẫn không quên”.
Vẻ đẹp tâm hồn người dân quê, nhất là vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ đã
góp phần làm cho vẻ đẹp Việt Nam, tính cách Việt Nam tỏa sáng trong Thơ mới.
Nặng tình với dân tộc, thi sĩ Thơ mới còn đặc biệt thiết tha, trân trọng vẻ đẹp
trong sinh hoạt văn hóa làng quê. Thơ mới có hẳn một không gian văn hóa làng quê. Các
thi sĩ say sưa viết và viết đầy gợi cảm về ngày “hội làng”, “hội chèo”, “hội chùa”, những
Đám cưới mùa xuân rồi cảnh ngày Tết mồng năm, Rằm tháng tám, “lễ vào hè”, “cúng
ra hè” Nhất là ngày Tết nguyên đán. Đây là dịp vẻ đẹp văn hóa nơi làng quê phô diễn
mọi vẻ đẹp cổ truyền của mình. Thơ mới có hẳn một chùm thơ phong phú về đề tài
này: Chợ Tết, Năm mới, Tết, Tết quê bà (Đoàn Văn Cừ), Chiều ba mươi Tết, Đêm ba
mươi Tết, Ngày Tết (Anh Thơ), Xuân tha hương, Tết của tôi (Nguyễn Bính)
Với bao phong tục cổ truyền đẹp đẽ ấy, Tết với người dân quê thực sự là một sự
kiện trọng đại, thiêng liêng. Vì thế, nếu phải xa quê khi Tết đến, xuân về, mỗi người
Việt Nam luôn khắc khoải sống với tâm trạng hoài nhớ da diết: “Lênh đênh tóc rối cỏ
bồng - Chiều ba mươi Tết ai không nhớ nhà”.
Có thể nói chưa bao giờ trong thi ca Việt Nam trước đó, vẻ đẹp của văn hóa làng,
của phong tục tập quán cha ông lại được miêu tả chân thực, sống động, phong phú và
hấp dẫn như trong Thơ mới.
Không phải ngẫu nhiên mà thi sĩ Thơ mới lại thiết tha với vẻ đẹp văn hóa làng quê
đến vậy. Điều này vốn bắt nguồn từ tâm thế của cái Tôi Thơ mới. Chứng kiến cuộc sống
đầy biến động dữ dội theo xu hướng Âu hóa lúc bấy giờ, những thi sĩ Thơ mới tuy xuất
thân Tây học chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây, song hầu hết họ đều là
những đứa con của làng quê Việt Nam theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Hơn ai hết, họ
thấm thía nỗi đau khi chứng kiến nhiều giá trị văn hóa truyền thống đẹp đẽ của dân tộc
đang bị băng hoại trước làn sóng Âu hóa với mặt trái của nó. Vì vậy, họ càng khao khát
tìm về để níu giữ vẻ đẹp thuần phác của làng quê xưa với tâm thế: “Van em, em hãy giữ