BÁO CÁO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM QUÝ 2 - NĂM 2008
www.fpts.com.vn
© 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang1
Thay đổi
Chỉ số Đầu Quý Cao nhất Thấp nhất Cuối Quý
3 tháng 6 tháng 1 năm
VN-Index
520,53 552,05 366,02 399,4 -23% -57% -63%
HaSTC-Index
184,41 198,33 107,76 112,67 -39% -65% -66%
FPTS-Index
80,44 85,06 55,44 59,85 -26% -57% -60%
NỘI DUNG
Tóm tắt Trang 1-2
D
ự báo vĩ mô và Thị trường Quý 3 Trang 15- 19
Kinh tế vĩ mô Quý 2 Trang 3-12 Phụ lục: Thống kê thị trường và ngành Trang 20- 27
Diễn biến thị trường Quý 2 Trang 13-14 Phòng Phân tích Đầu tư
Võ Quốc Khánh
ĐT: 084 (04) 7737 070 ext 4301
Giang Trung Kiên
ĐT: (84.373) 72 63 73
TUYÊN BỐ MIỄN TRÁCH NHIỆM
TÓM TẮT
Khó khăn vẫn đang ở phía trước nhưng niềm tin
đang dần trở lại • Lạm phát tiếp tục là mối lo ngại hàng đầu
Chỉ số lạm phát tháng 6 tăng 2,14% so với tháng 5, đưa mức lạm
tháng 6/2008 so với 1 năm trước lên mức 26,8%. CPI cho cả năm
2008 dự kiến sẽ ở mức 30-31% trong điều kiện giá xăng dầu trong
nước không có biến động lớn.
• VND biến động mạnh so với USD
Sau tết, tỷ giá VND liên tục chịu sức ép tăng giá so với đồng USD
do lượng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng nhanh và
nhu cầu vay VND của các doanh nghiệp ở mức cao. Tuy nhiên,
sức ép lên VND đã quay ngược 180
o
, VND bắt đầu giảm giá mạnh
so với USD và chỉ dần trở lại ổn định vào cuối tháng 6.
• Chính sách tài khóa, tiền tệ thắt chặt dần phát huy tác
dụng
Thay đổi chính sách tài khóa, tiền tệ tạo làn sóng lãi suất tăng cao,
gây ra sức ép cho doanh nghiệp trong cắt giảm chi phí và nâng
cao hiệu quả hoạt động. Chính phủ tăng cường kiểm soát chi tiêu
gấp 4,8 lần so với lượng vốn thu hút từ quý 1. Các dự án từ hướng
chủ yếu tập trung vào đầu tư bất động sản đã dịch chuyển sang lĩnh
vực sản xuất công nghiệp.
• Các diễn biến trái chiều trên Thị trường Bất động sản
Trong khi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà và đầu cơ bất
động sản điêu đứng, thì phân khúc thị trường dành cho người có
thu nhập trung bình vẫn chưa từng được coi là “đóng băng“. Nhu
cầu về bất động sản khu công nghiệp và khu chế xuất cũng vẫn
không ngừng tăng lên từ các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt ở
các tỉnh phía Nam.
• Hướng phát triển thị trường quý 3/2008
Diễn biến thị trường quý 2 sau những đợt điều chỉnh tăng biên độ
giao dịch đã khẳng định sự vận động của TTCK không cần sự can
thiệp quá lâu của các biện pháp hành chính. Việc tiếp tục mở rộng
biên độ giao dịch nhiều khả năng sẽ xảy ra trong quý 3/2008.
DỰ BÁO QUÝ 3/2008 • Tình hình kinh tế
Tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu chậm lại nhưng khả năng kiềm chế
lạm phát bắt đầu có dấu hiệu từ tháng 6. Tuy vậy, năm 2008 sẽ
chứng kiến lạm phát rất cao trong nhiều năm trở lại đây. Các dấu
hiệu tích cực hơn trong tình hình kinh tế vĩ mô đã xuất hiện tuy
nhiên những yếu tố không chắc chắn còn khá lớn.
Việc tiếp tục giữ giá dầu
và một số mặt hàng thiết
yếu khác trong thời gian
tới là hết sức cần thiết
trong việc kiềm chế lạm
lạm phát. Lạm phát theo tháng trong tháng 6 tuy có giảm nhẹ so với tháng 5 cho
thấy các giải pháp tài chính và tiền tệ đã phần nào phát huy hiệu quả của nó
nhưng còn quá sớm để khẳng định cơn bão lạm phát đã qua. Điều này sẽ chỉ có
thể thấy rõ hơn vào 2,3 tháng cuối năm 2008 và các năm tiếp theo khi các chính
sách hiện tại phát huy một cách vững chắc hơn. Việc tiếp tục giữ giá dầu và một
số mặt hàng thiết yếu khác trong thời gian qua và trong các tháng tới do đó là hết
sức cần thiết dù rằng khả năng chịu đựng của ngân sách đang được đặt dấu hỏi.
Trong tháng 6, thực phẩm (chiếm tới 25% trong rổ CPI), đã có tốc độ tăng cao hơn
so với tháng trước, tăng 3,05% so với tháng 5 (tháng 5 tăng 2,28% so với tháng
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam quý 2/2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang4
phần đáng kể vào việc
giảm CPI
4). Tuy nhiên, với vụ đông xuân được mùa thì chỉ số giá lương thực đã có chuyển
biến tích cực, chỉ tăng 4,29% so với tháng 5 (tháng 5 tăng tới 22,19% so với tháng
4), mặc dù vẫn là mặt hàng có tốc độ tăng giá lớn nhất . Mức giảm mạnh này của
giá lương thực bù đắp cho việc tăng giá thực phẩm và giúp mặt hàng ăn uống
(bao gồm lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình …) giảm tốc độ tăng
(tăng 3,29% trong tháng 6 so với mức 7,25% trong tháng 5) góp phần đáng kể vào
việc giảm CPI khi mặt hàng này tính chung chiếm 42,85% trong rổ CPI.
Mặt hàng có trọng số lớn thứ 2 trong rổ CPI (với khoảng 10%) là nhà ở và vật liệu
xây dựng vẫn đang có những diễn biến phức tạp. Cơn báo giá vật liệu xây dựng
trong quý 1/2008 đã đưa chỉ số CPI của mặt hàng này đạt đỉnh trong tháng 3/2008
(3,55%), sau đó đã giảm trong tháng 4 và 5 (2,62% và 1,20%) nhưng lại tăng trở
lại trong tháng 6 (1,93%). Nỗ lực chống đầu cơ, tăng cường công tác quản lý đối
với mặt hàng vật liệu xây dựng do đó sẽ đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các cơ
quan quản lý trong thời gian tới.
Giá dầu sẽ là tâm điểm chú ý trong các tháng còn lại của năm, bất kỳ động thái
nào của Chính phủ trong việc tăng giá xăng dầu trong nước cũng sẽ ảnh hưởng
lớn đến chỉ số lạm phát của năm 2008. Trung Quốc (một nước có tỷ lệ tiêu thụ
xăng dầu/GDP chỉ nhiều hơn Việt Nam chút ít) gần đây cũng đã phải tăng giá xăng
dầu trong nước lên 18% và theo ước tính của Ngân hàng Thế giới thì điều này có
thể làm lạm phát của Trung Quốc năm 2008 tăng thêm 1% lên 8% từ mức dự tính
7% hiện tại (tức là tăng 14%).
2. VND biến động mạnh so với USD; xuất khẩu gặp khó khăn, thâm
hụt thương mại gia tăng kỷ lục, tuy nhiên có dấu hiệu chững lại
trong tháng 6
ngoại hối. Đồng thời với đó, việc SBV gần đây công bố dự trữ ngoại hối đang ở
mức khá an toàn (20,7 tỷ USD) phần nào lấy lại lòng tin của nhà đầu tư, làm giảm
nhiệt trên thị trường tự do. Tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do đã có dấu hiệu
giảm từ mức đỉnh khoảng 19.500 xuống mức hiện này khoảng 17.500. Trên thị
trường quốc tế, NDF đã giảm mạnh từ mức đỉnh 25.000 xuống còn 21.000. Mặc
dù hiện tại việc giao dịch NDF đối với VND là khá nhỏ và khó có thể nói mang tính
đại diện nhưng diễn biến đối với giao dịch này cũng là chỉ dấu quan trọng trong
niềm tin của các nhà đầu tư ngoại đối với giá trị VND. Tuy nhiên, những lo ngại về
việc VND mất giá trong khoảng thời gian còn lại của năm 2008 chưa thực sự lắng
xuống hoàn toàn. Trong bối cảnh thâm hụt thương mại 6 tháng ở mức kỷ lục từ
trước tới nay (đạt 14,8 tỷ USD, cao hơn 0,7 tỷ USD nhập siêu cả năm 2007) cộng
với việc các nguồn vốn đầu tư nước ngoài dù đang gia tăng rất nhanh nhưng khả
năng đẩy mạnh việc giải ngân khó có thể được cải thiện trong thời gian ngắn.
Can thiệp mạnh tay của
Ngân hàng Nhà nước
giúp giảm nhiệt trên thị
trường ngoại hối. Tuy
nhiên cung ngoại tệ và
khả năng mất giá của
VND so với USD chưa
lắng xuống hoàn toàn
Diễn biến NDF- nguồn Bloomberg
Để đảm bảo tiếp tục ổn định giá trị VND, bên cạnh việc nâng cao khả năng giải
ngân của vốn đầu tư ngoại thì biện pháp căn cơ hơn, cả trong ngắn hạn (các
tháng còn lại của năm 2008) và dài hạn là giải quyết vấn đề thâm hụt thương mại.
Phân tích tình hình xuất khẩu của các tháng đầu năm cho thấy:
- Mặt hàng ô tô tiếp tục là mặt hàng nhập khẩu có tốc độ tăng cao nhất. Nhập khẩu
ô tô trong 6 tháng đã vượt mức của cả năm 2007, đạt 1,6 tỷ USD so với mức 1,44
tỷ USD của cả năm 2007. Một số mặt hàng khác cũng đã vượt hoặc gần đạt mức
của cả năm 2007 bao gồm: phân bón 1,03 tỷ USD (năm 2007: 996 triệu USD); sắt
thép 6 triệu tấn tương đương 4,6 tỷ USD (năm 2007: 3,7 triệu tấn tương đương
4,88 tỷ), thức ăn chăn nuôi 1 tỷ USD (năm 2007: 1,1 tỷ USD). Đây cũng chính là
các mặt hàng thuộc diện ưu tiên nhập khẩu và cung ứng ngoại tệ trong thời gian
vừa qua. Đối với mặt hàng sắt thép, tình trạng nhập khẩu phôi thép mạnh trong khi
tiêu thụ thép trong nước đã chậm lại đã góp phần khiến cung thép trên thị trường
trong nước thêm dư thừa, giá thép trong nước thấp hơn cả giá phôi thép nhập
khẩu. Và gần đây nhiều doanh nghiệp kinh doanh thép đã phải tính tới việc xuất
khẩu phôi thép.
- Trong 6 tháng qua, giá trị nhập khẩu xăng dầu đã vượt giá trị xuất khẩu dầu thô,
lần đầu tiên trong nhiều năm: nhập khẩu đạt 5,9 tỷ USD, xuất khẩu đạt 5,6 tỷ USD
(con số của cả năm 2007 là nhập khẩu 7,5 tỷ USD, xuất khẩu 8,5 tỷ USD; 2006 là
nhập khẩu 5,85 tỷ USD, xuất khẩu 8,32 tỷ USD), một phần do việc khai thác dầu
thô giảm 7,9% dẫn đến sản lượng xuất khẩu dầu giảm khoảng 11% trong khi
lượng xăng dầu nhập khẩu tăng khoảng 8%.
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam quý 2/2008
Ngân hàng Nhà nước siết
chặt tăng trưởng tín dung
sau 1 năm tăng trưởng
quá nóng, một nguyên
nhân quan trong dẫn tới
tăng cung tiền Lãi suất cơ bản được
điều chỉnh tăng 2 lần
Nhập khẩu trung bình tháng trong nửa đầu năm đạt 7,4 tỷ USD (số cùng kỳ năm
trước là 4,5 tỷ, giá trị nhập khẩu 6 tháng 2007 chiếm 44,8% cả năm 2007). Tuy vậy
với các biện pháp thuế gần đây, giá trị nhập khẩu tháng 6 giảm khá mạnh so với
con số trung bình này, đạt 6,8 tỷ USD. Điều này cho thấy tín hiệu khả quan trong
việc kiềm chể nhập siêu trong các tháng còn lại của năm.
Xuất khẩu vẫn đang là điểm sáng của nền kinh tế. Trong 6 tháng qua xuất khẩu đã
đạt giá trị 29,7 tỷ USD (trong đó dầu thô là 5,6 tỷ USD) đạt mức tăng 31,8% so với
cùng kỳ 2007. Dầu thô có mức tăng trưởng mạnh nhất với mức 49% do giá dầu
thế giới tăng cao. Cũng do giá dầu thế giới tăng cao nên dù xét về lượng, dầu thô
xuất khẩu trong 6 tháng 2008 chỉ bằng 45% cả năm 2007 nhưng giá trị đã bằng
66%. Giá trị xuất khẩu dầu trong tổng giá trị xuất khẩu đã tăng lên mức 18,9% so
với mức 17,5% năm 2007. Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác (có giá trị
xuất khẩu trên 1 tỷ USD/ năm, có 3 mặt hàng có mức tăng xuất khẩu cao hơn mức
tăng trung bình 31,8% là gạo (tăng 99%), điện tử máy tính (tăng 35,1%) và than đá
(tăng 43,3%). Xuất khẩu dệt may sau một năm 2007 tăng trưởng ấn tượng với
mức 33,4% đã gặp nhiều khó khăn hơn trong nửa đầu năm 2008 khi chỉ tăng
17,7% sau 6 tháng qua. Khó khăn của ngành dệt may đến chủ yếu từ sự biến
động mạnh của USD khi mà ngành này vừa phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu
và các thị trường xuất khẩu và chủ yếu thanh toán bằng USD. Các mặt hàng chủ
© 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang7
mức 14%, đây là mức lãi suất cơ bản cao nhất trong khu vực. Động thái và mức
tăng này là vừa phải trong tình hình hiện tại của Việt Nam dù rằng lãi suất cho vay
tương ứng (ở mức 21%) có thể nói đang là ngưỡng chịu đựng của đa phần các
doanh nghiệp. Điều này cũng tạo áp lực cho các doanh nghiệp trong việc cắt giảm
chi phí không thực sự cần thiết và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh hơn
nữa.
Kiểm soát chi tiêu của Chính phủ, rà soát các dự án của các tập đoàn cũng đang
được thực hiện. Đi đôi với các biện pháp tiền tệ, Chính phủ cũng đã quan tâm hơn
các biện pháp tài khóa. Thắt chặt chi tiêu công, tạm dừng hoặc loại bỏ các công
trình không thực sự cần thiết cũng là các giải pháp phù hợp trong tình hình hiện
nay. Theo số liệu của Bộ kế hoạch đầu tư mới công bố, tổng vốn đầu tư đình
hoãn, ngừng triển khai trong năm 2008 của các dự án dùng vốn ngân sách của
các bộ ngành, địa phương đạt 17.700 tỷ đồng (khoảng 1 tỷ USD) so với mục tiêu
đặt ra trước đó là 20.000 tỷ đồng . Giảm đầu tư công sẽ giúp giảm tổng cầu và tác
động tích cực tới tình hình lạm phát ngay trong năm 2008. Tuy vậy biện pháp này
cần được thực hiện mạnh hơn trong thời gian tới không chỉ dừng ở việc đình
hoãn, giãn tiến độ mà trong cả việc đánh giá tính hiệu quả của các dự án công.
4. Tăng trưởng GDP bị ảnh hưởng mạnh, Quốc hội giảm chỉ tiêu tăng
trưởng GDP
Những ảnh hưởng từ các biến động vĩ mô đã ngày càng thể hiện rõ hơn trong tăng
trưởng GDP. Trong quý 1/2008, GDP tăng 7,4%, đã giảm nhẹ so với cùng kỳ năm
trước (7,8%), thì đến hết quý 2/2008, GDP chỉ tăng 6,5% (số cùng kỳ năm trước là
7,87%). Cũng cần lưu ý là GDP trong quý 2 các năm trước thường tăng trưởng tốt
hơn trong quý 1. Quốc hội trong phiên họp giữa năm đã thông qua chỉ tiêu tăng trưởng
cho năm 2008 ở mức 7%, mục tiêu này sẽ vẫn là thách thức cho Chính phủ, nhất là
trong điều kiện lạm phát vẫn chưa có xu hướng giảm rõ ràng.
Giá nguyên liệu đầu vào gia tăng, việc tiếp cận vốn vay ngân hàng gặp nhiều khó
được thực hiện cùng với
các biện pháp tiền tệ.
Trong đó việc cắt giảm
chi tiêu công đã gần đạt
mục tiêu của Chính phủ
Tốc độ tăng trưởng GDP
đã giảm khá mạnh trong
quý 2 Xây dựng và công nghiệp
các dự án bất động sản Các dự án lớn vào lĩnh
vực sản xuất cũng đang
được thực hiện Trong khi nông nghiệp vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá so với các cùng kỳ các năm
trước thì công nghiệp và xây dựng bị ảnh hưởng nặng nề trong 6 tháng đầu năm.
Công nghiệp và xây dựng tính chung chỉ tăng 7% so với cùng kỳ 2008 (so với mức
9,88% và 9,15% tương ứng cùng kỳ năm 2007 và 2006) . Trong đó, xây dựng ảnh
hưởng nặng nề nhất, chỉ tăng 0,9% so với cùng kỳ 2007 (so với mức 9,51% và
8,3% tương ứng cùng kỳ năm 2007 và 2006) do các biến động giá mạnh của các
mặt hàng sắt thép, xi măng cũng như sự đi xuống của thị trường bất động sản và
hạn chế cho vay của các ngân hàng đối với lĩnh vực này. Tình hình này nhiều khả
năng vẫn sẽ duy trì đến hết năm 2008. Lĩnh vực công nghiệp tính riêng cũng chỉ
tăng 8,3% (so với các mức 9,96% và 9,41% tương ứng cùng kỳ 2007 và 2006).
Nguyên nhân chủ yếu do công nghiệp chế biến (chiếm khoảng 89% giá trị sản xuất
công nghiệp, đóng góp 21% GDP) chỉ đạt mức tăng khiêm tốn 11,4% so với cùng
kỳ năm trước (so với mức 12,3% và 11,8% tương ứng cùng kỳ năm 2007 và
2006). Ngành công nghiệp chế biến phụ thuộc nhiều vào các yếu tố đầu vào nhập
khẩu và với giá nguyên liệu thế giới tăng cao, tiếp cận các nguồn vốn USD khó
khăn trong nửa đầu năm thì việc giảm sút tốc độ tăng trưởng của ngành này là
không đáng ngạc nhiên. Ngay cả chế biến thủy sản lâu nay vốn phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu trong nước thì cũng đang gặp khó khăn khi nguồn nguyên liệu
đầu vào trong nước không đáp ứng kịp năng lực chế biến của ngành. Đó cũng là
lý do Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) vừa đề xuất
kiến nghị nhập khẩu mạnh nguyên liệu thủy sản trong các năm tới. Phát triển các
ngành công nghiệp phụ trợ, các vùng nguyên liệu do vậy ngày càng trở nên cấp
Vốn FDI thực hiện đang
được đẩy nhanh hơn.
Thị trường bất động sản
đang trở nên khó khăn
hơn với các nhà đầu tư
sau thời gian tăng trưởng
nóng
Các dự án quy mô lớn là
quan tâm của nhà đầu tư
nước ngoài Thi trường nhà ở gắn với
đối tượng có thu nhập
bình quân vẫn đang phát
triển tốt
Khác với năm 2007, trong các tháng vừa qua nhà đầu tư nước ngoài thăm dò, tìm
hiểu dự án kỹ càng hơn trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Sự quan tâm của nhà
đầu tư nước ngoài thường tập trung vào các dự án quy mô lớn, đầy đủ tính pháp
lý, có tiềm năng kinh doanh, khả năng gia tăng giá trị bất động sản và uy tín
thương hiệu của chủ dự án. Nhìn chung giá Bất động sản đã hạ từ 20% - 30%.
Tuy nhiên, sự giảm giá này cũng được đánh giá là tín hiệu tốt cho sự trở lại giá trị
thực của bất động sản và là cơ hội cho các nhà đầu tư cơ cấu lại danh mục của
mình.
Tuy nhiên, điểm sáng trong quý 2/2008 lại tập trung vào mảng dự án với giá bình
dân, phù hợp với yêu cầu thực của thị trường và hướng tới đối tượng có thu nhập
bình quân. Điều này thể hiện rõ nhất khi trong bối cảnh cả thị trường bất động sản
và thị trường tài chính đều đang xuống dốc, hai công ty bất động sản Sacomreal
và Công ty Hai Thành chỉ trong một buổi sáng đã bán hết 330 căn hộ của dự án
Phú Lợi 1 và phát hành trái phiếu thành công cho cả dự án Phú Lợi 1 và dự án
Phú Lợi 2. Sự thành công của các dự án này thể hiện thị trường nhà ở gắn với đối
tượng có thu nhập bình quân chưa bao giờ đóng băng.
Cũng là một điểm nhấn trong quý 2/2008, thị trường bất động sản khu công nghiệp
lại trở nên sôi động trong do nhu cầu thuê đất và nhà xưởng xây sẵn của các nhà
đầu tư nước ngoài rất lớn, đặc biệt tại các khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai. Với nhu cầu này, giá
thuê đất tại nhiều khu công nghiệp đã tăng từ tới gần 50% so với thời điểm cách
đây 1 năm.
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam quý 2/2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang
10
công nghiệp và khu chế xuất. Theo kế hoạch, quỹ đất cho mảng này sẽ tăng lên
65.000 ha vào 2010 và 80.000 ha vào năm 2020. Trong quý 2, cả nước có khoảng
150 khu công nghiệp và khu chế xuất đang hoạt động với tổng diện tích khoảng
320.000 ha ở 55 tỉnh, thanh phố. Đến năm 2015, dự kiến sẽ xây dựng thêm 113
khu công nghiệp mới và tập trung chủ yếu ở khu vực các tỉnh Bình Phước, Tây
Ninh và Đồng Nai.
7. Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại: Đua lãi suất huy
động, và tình trạng thanh khoản kém chưa kết thúc.
Hệ thống ngân hàng thương mại trong quý 2 không phải chịu nhiều sự điều chỉnh
từ phía Ngân hàng Nhà nước như trong quý 1 2008, tuy nhiên biểu hiện từ đua
cuộc đua lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại vẫn chưa có điểm
dừng cho đến cuối quý 2 2008 đang là vấn đề khiến nhà đầu tư lo ngại. Nhiều
ngân hàng hiện tại vẫn đang hướng tới mốc 19%/năm. Tại thời điểm cuối quý 1,
đầu quý 2, mức trần lãi suất cho vay áp dụng trong hệ thống ngân hàng thương
mại chỉ khoảng 14,75% đến 15,25%.
Quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản từ 8,75% trong quý 1 2008 lên 12% giữa
tháng 5 và lên tiếp đến 14% từ giữa tháng 6 của Ngân hàng Nhà nước đã tạo ra
xu hướng thuận lợi hơn đối với hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Ngay lập
tức, lãi suất cho vay từ hệ thống ngân hàng thương mại cũng được điều chỉnh lên
tối đa 150% lãi suất cơ bản, ở mức 21%. Khối ngân hàng thương mại cổ phần
trong thời gian qua chủ yếu thu hút vốn thông qua kênh tiền gửi ngắn hạn. Hàng
loạt ngân hàng quy định khách hàng muốn hưởng lãi suất cao nhất mà ngân hàng
đang áp dụng thì buộc phải gửi từ 5 tỷ đồng với kỳ hạn ít nhất là 6 tháng và không
được rút trước hạn, nhận lãi vào cuối kỳ. Tuy nhiên, đối tượng khách hàng này rất
ít, thường chỉ gửi với kỳ hạn từ 1 tuần đến 3 tháng và họ thường là những nhà đầu
tư vàng, chứng khoán đang chờ giải ngân. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng
đang tiếp tục hỗ trợ các ngân hàng cổ phần nhỏ thông qua kênh tái cấp vốn.
Điều này cho thấy tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại dù đã phần
nào được cải thiện nhưng vẫn còn khá căng thẳng. Đối với các khoản cho vay đầu Giá vàng thế giới cuối quý đạt 918 USD/oz giảm 20 USD so với cuối quý 1 2008.
Có những thời điểm giá vàng sụt giảm mạnh xuống mức 849 USD/oz. Trong quý
2/2008, giá vàng thế giới biến động với biên độ khá mạnh. Khoảng cách giữa điểm
cao nhất và thấp nhất trong quý 2 gần 100 USD, và tại mức hạ nhiệt mạnh nhất
khiến giá vàng gần như trở lại mức giá đầu năm 2008. Tuy nhiên, giá vàng đang
có xu hướng tăng trở lại trong các ngày gần đây, dao động trong khoảng 930 USD
– 940 USD/oz. Tuy nhiên, do sự cố liên tiếp xảy ra tại sàn giao dịch vàng ACB,
nhà đầu tư đã dần chuyển hướng luồng tiền của họ từ đầu tư vàng sang đầu tư
chứng khoán với mức độ ổn định cao hơn và mức rủi ro thấp hơn.
Diễn biến giá dầu quý 2 năm 2008
Trái ngược với diến biến 2 chiều của giá vàng, giá dầu trong quý 2 nhìn chung liên
tục tăng. Cuối quý 1/2008 giá dầu đạt mức 100,98USD/thùng, sau đó giá dầu liên
tục leo thang và thời điểm cao nhất lên vượt mức 142 USD/thùng vào những ngày
cuối tháng 6. Với giá kỷ lục mới xác lập này, giá dầu đã tăng lên gấp đôi so với
thời điểm này năm ngoái. Theo dự báo của OPEC, giá dầu có thể tiến tới
170USD/thùng trong mùa hè năm nay do đồng USD suy yếu và bất ổn chính trị ở
nhiều nơi trên thế giới.
Với chính sách bảo hộ giá xăng dầu trong nước hiện nay, việc giá xăng tăng
không ngừng sẽ khiến cho áp lực bù lỗ từ ngân sách nhà nước ngày càng lớn
hơn. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia đều đã điều
chỉnh tăng giá xăng dầu trong nước. Gần đây hiện tượng “chảy máu” xăng tại các
tỉnh biên giới lại xuất hiện trở lại do chênh lệch giá xăng trong nước và các nước
này. Vì vậy, không loại trừ khả năng giá xăng dầu sẽ được điều chỉnh chút ít trong
tháng các tháng tới đây, dù rằng điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình
lạm phát.
dịch của các loại chứng khoán là 40.697 tỷ đồng, sau 59 phiên giao dịch
bình quân một phiên đạt 689,7 tỷ đồng/phiên.
• Tính đến 30/6/2008 có trên 10.689 tài khoản giao dịch thuộc khối đầu tư
nước ngoài, trong đó có trên 742 tài khoản là của các tổ chức đầu tư nước
ngoài. Con số này gia tăng khá lớn khi tổng số tài khoản thuộc khối này
cuối năm 2007 dừng ở con số 7.500, trong đó có 300 tài khoản của nhà
đầu tư tổ chức nước ngoài.
• Tính đến 30/6/2008, nhà đầu tư nước ngoài tại Sở Giao dịch Chứng khoán
TP.HCM vẫn duy trì sức mua của mình, chiếm 38,01% giá trị giao dịch
khớp lệnh và chiếm 6,95% giá trị giao dịch thỏa thuận đối với cổ phiếu. Tại
Trung tâm giao dịch Hà Nội, nhà đầu tư nước ngoài giao dịch hơn 8,9 triệu
chứng khoán đạt 275,5 tỷ đồng giá trị giao dịch.
• Theo thống kê UBCKNN, trong quý 2/2008 có 11 công ty được phép chào
bán gần 130 triệu cổ phiếu ra công chúng. Trong khi, tổng khối lượng phát
hành năm 2007 là 2,46 tỷ cổ phiếu với giá trị tương ứng trên 48.000 tỷ
đồng.
Theo thống kê của UBCKNN, khối lượng lưu hành trái phiếu chính phủ đến
cuối quý 2 năm 2008 trên thị trường niêm yết chiếm hơn 11% GDP. Giao dịch
trái phiếu đang giao dịch tại HASTC có 479 loại và HOSE có 63 loại. Ngoài ra
còn khoảng các loại trái phiếu không giao dịch khác. Bước sang quý 3/2008,
UBCKNN đang gấp rút xây dựng thị trường giao dịch trái phiếu Chính phủ thứ
cấp theo như lộ trình đã được phê duyệt của Bộ Tài chính.
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam quý 2/2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang
Apri l
71621285
May
12 19 26 2
June
9 162330
July
2000
3000
4000
5000
6000
7000
8000
9000
10000
11000
12000
13000
14000
15000
16000
17000
18000
19000
20000
21000
22000
23000
24000
Lãi suât ngân hàng biến
đông. Vn-Index có 26
phiên giảm liên tiếp. Một kỉ
lục!
Biên độ
thêm 3%
Index hình
hình 2 đ
tăng 7 ph
cuối thá
được nới rông
và 4%. VN-
thành mô
áy kép. TTCK
iên liên tiếp
ng 6
13
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam quý 2/2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang
• Một lần nữa tính thanh khoản của các cổ phiếu bị đe dọa nghiêm trọng khi
mà người mua thì không muốn mua, vì họ chờ giá cổ phiếu rẻ hơn nữa,
còn người bán thì không thể bán được. Tâm lý của nhà đầu tư chứng
khoán xuống rất thấp. Cũng trong tháng 5 này, các tổ chức nước ngoài đã
ra hàng loạt báo cáo nhằm “mổ xẻ” các dấu hiệu “khủng hoảng” nền kinh
tế, hay “đổ vỡ” của TTCK. Tâm lý tiêu cực càng lên cao hơn khi tính thanh
khoản của các ngân hàng trong nước cũng rơi vào tình trạng khó khăn.
Vốn huy động đang có dấu hiệu chạy lòng vòng qua các ngân hàng.
1. Lạm phát
3. Tăng trưởng GDP
Chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2008 ở mức từ 6,3% đến
6,7% trong điều kiện lạm phát được giữ ở mức khoảng 30-31%.
Các khó khăn trong sản xuất nông nghiệp do tình trạng dịch bệnh vẫn
chưa kết thúc. Trong khi đó, tình trạng thiếu điện như dự báo cho quý 2
trong báo cáo quý 1 sẽ còn tiếp tục trong quý 3. Các biến động của tình
hình kinh tế vĩ mô đã khiến cho việc phát hành trái phiếu quốc tế của EVN
trong 2008 đã không thực hiện được đã ảnh hưởng nhất định đến việc
đảm bảo nguồn vốn cho các dự án điện theo kế hoạch của EVN.
Không chỉ EVN mà việc khó khăn trong vay vốn tín dụng đang là thách Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam Quý 2- 2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang16
của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Số vụ vi phạm liên quan đến
chào bán, phát hành riêng lẻ chứng khoán trong quý 2 tăng lên, đồng
thời các giao dịch bất hợp pháp gây mất lòng tin trong giới đầu tư. Các
biện pháp tiến hành đồng thời hy vọng sẽ lập được hành lang pháp lý
vững chắc cho việc quản lý hiệu quả thị trường chứng khoán
• Các kế hoạch đưa thị trường OTC vào giao dịch tập trung một lần nữa
lỗi hẹn trong quý 2. Với việc thị trường niêm yết tập trung đang kém
tính thanh khoản như hiện nay, thì sàn OTC tập trung chính thức hoạt
động sẽ là một dấu hiệu tăng tính thanh khoản, khơi thông dòng vốn
đang bị “chôn” ở thị trường này, mang lại nhiều cơ hội hơn cho các
nhà đầu tư. Thị trường OTC vẫn đang chờ thời điểm thích hợp để
được “đánh thức”.
• Khá nhiều ý kiến xoay quanh việc có nên thành lập một Quỹ bình ổn thị
trường, do các thành viên thị trường góp vốn thành lập, tương tự như vai
trò mà Tổng công ty Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) đã thực hiện trong
một thời gian ngắn trước đây. Về mặt dài hạn thì đây là một biện pháp
trực tiếp đóng góp quan trọng việc bình ổn TTCK. Tuy nhiên, có nhiều lo
lắng về Quỹ bình ổn này, đó là cơ chế điều hành và quản trị nguồn vốn
như thế nào nhằm đảm bảo lợi ích công bằng cho các chủ thể tham gia thị
trường. Đồng thời, TTCK cũng có thể bị bóp méo và không hoạt đông
theo cơ chế Cung – Cầu cũng là nhưng yếu tố tác động đến tăng trưởng
bền vững của TTCK. Việc triển khai Qũy bình ổn này sẽ khó có thể thực
hiện được trong thời gian quý 3, và có thể là trong cả năm 2008.
• Sẽ có sự phân hóa giữa các cổ phiếu đang niêm yết trên TTCK, một
số cổ phiếu thuộc các ngành tốt, ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vĩ mô
sẽ được các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân lựa chọn. Đồng thời, theo
quy luật chung thì kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong quý
2 thường không tốt bằng các quý khác trong năm, do vậy, báo cáo kết
quả kinh doanh quý 2 sẽ là cơ sở để các nhà đầu tư cơ cấu lại danh
mục đầu tư của mình. Xu hướng đầu tư dựa trên các phân tích cơ bản
quý 2, môt lần nữa khẳng định sự vận động của TTCK không cần sự
can thiệp quá lâu của các biện pháp hành chính. Do vậy, khả năng nới
tiếp biên độ có lộ trình sẽ là một biện pháp hành chính hợp lý nhất
trong quý 3. Tuy nhiên, khả năng nới rộng ngay về biên độ như cũ
(HOSE là 5%, HASTC là 10%) có thể sẽ gây biến động lớn về tâm lý
cũng như các phản ứng của TTCK. Chúng tôi vẫn thiên về nhận định
UBCK sẽ có lộ trình phù hợp để nới biên độ giao dịch trong quý 3.
Nhận định
• Việc cam kết đưa VCB niêm yết trong quý 3 có thể tác động lớn đến
TTCK. Cụ thể, VCB sẽ thiết lập một mặt bằng giá cho cổ phiếu của
khối ngân hàng cổ phần. Mặt bằng giá và cả xu hướng vận động của
NHTM cổ phần hàng đầu này còn có thể tác động đến cả cổ phiếu
ngân hàng đang niêm yết. Với lượng Cung khá lớn (97 triệu cổ phiếu)
và mức giá trúng thầu bình quân vào khoảng 107.000 VND/cổ phiếu sẽ
là một áp lực cho chính cổ phiếu của VCB trong việc xác định giá chào
sàn và ảnh hưởng đến cán cân Cung-Cầu chung của cả thị trường.
Trong quý 2, các cổ phiếu ngành Dịch vụ tài chính, trong đó Ngân
hàng đóng vai trò chủ yếu có mức giảm đáng kể (31%) so với quý
trước. Trong khi các cổ phiếu ngân hàng thường có tỉ lệ Vốn hóa thị
trường cao, đóng vai trò lớn trong rổ cổ phiếu tính VN-Index và
HaSTC-Index. Như vậy, kết quả hoạt động kinh doanh của nhóm cổ
phiếu ngành tài chính trong đó sẽ có cổ phiếu của VCB, có tác động
lớn đến xu hướng chung của cả TTCK.
• Tỉ lệ lạm phát mặc dù đã giảm trong tháng cuối của quý 2, với các nỗ
lực kiềm chế lạm phát mà chủ yếu bằng cách giữ giá các mặt hàng
thiết yếu. Mức giảm 1,7% xuống còn 2,14% trong tháng 6 đã làm yên
lòng các nhà đầu tư chứng khoán, tuy nhiên, vẫn còn đó các áp lực
tăng giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, than, xi măng, thực phẩm…
Do vậy, trong thời gian tới chính sách thắt chặt tiền tệ vẫn tiếp tục
“chức năng” cần thiết của nó. Khó có chuyển biến tích cực lớn từ môi
23/06/2008 VN-Index đã bắt đầu khởi sắc với 10 phiên tăng điểm liên tiếp,
đẩy mức điểm của chỉ số này vượt qua mức 400 điểm vốn được cho là
ngưỡng kháng cự (Resistance) tương đối khó khăn khi trước đó VN-Index
trượt dốc xuống 366,02 điểm (ngày 20/06/2008). Như vậy, với giả thiết đáy
đã được thiết lập (và test) tại mức điểm này, VN-Index đang tạo một xu thế
up trend chọc thủng ngưỡng 410 điểm, tương đương mức 23,6%
Fibonacci Retracement (FR). Về lý thuyết, đây vẫn chưa phải mức cản
mạnh, do đó, VN-Index có khá nhiều cơ hội vươn tới 480 điểm trước khi bị
chặn lại tại mức 61,8% FR. Vượt qua mức chặn “cứng” này, VN-Index có
thể sẽ bắt đầu kiến tạo một quá trình tăng trưởng ổn định và dài hạn hơn
tại mức 540 điểm (tương đương mức 23,6% FR của quá trình hoàn giá trị
cho đợt suy giảm bắt đầu từ tháng 10/2007).
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam Quý 2- 2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang19
Với xu thế tăng những phiên gần đây của VN-Index, mẫu hình “Double
Bottom” thiết lập trong tháng 06/2008 đã được khẳng định sau khi chỉ số
này vượt mốc 410 điểm ngày 07/02 vừa qua. Cùng với đó, đường giá trị
đã cắt lên MA-20 tương đối chắc chắn, trong khi xu thế hai biên của
Bollinger Bands (20) vẫn đang mở rộng với biên trên bám khá sát đường
giá trị, cho thấy khả năng VN-Index có nhiều khả năng vượt qua 450 điểm
và cắt lên MA-60 trong thời gian từ 01 đến 02 tuần đầu tháng 07/2008.
Nếu điều này xảy ra, MA-20 sẽ có cơ hội vượt lên MA-60 vào khoảng cuối
tháng 07/2008, mở ra khả năng phục hồi cho chỉ số này trong nửa cuối
quỹ 3/2008. Cũng ủng hộ xu thế này, các chỉ báo kỹ thuật RSI (60), MFI
(60) và MACD đều đang cho những tín hiệu tốt nhưng lại chưa thể khẳng
định một xu thế tăng dài hạn (MACD đã cắt lên đường tín hiệu nhưng vẫn
duy trì vị trí dưới chuẩn 0, RSI (60) mới chỉ vượt ngưỡng 30 và MFI (60)
Giá đóng cửa
01/04/2008
(ngàn đồng)
Giá đóng cửa
30/06/2008
(ngàn đồng)
Thay đổi
(ngàn đồng)
% thay
đổi
ITA
72 89 17 23,61%
SCD
17,9 21,5 3,6 20,11%
SGH
85 96,5 11,5 13,53%
VIC
86 93,5 7,5 8,72%
DPR
49,4 52,5 3,1 6,28%
TRC
59 62 3 5,08%
LBM
15,9 16 0,1 0,63%
DMC
113 112 (1) -0,88%
SHC
22 21,8 (0,2) -0,91%
NHC
28,4 28,1 (0,3) -1,06%
ALP
25,6 12,2 (13,4) -52,34%
TTP
49,4 23,7 (25,7) -52,02%
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam Quý 2- 2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang21
Top 10 mã chứng khoán tăng giá nhiều nhất (giảm giá ít nhất) – HASTC
Mã
CK
Giá đóng cửa
01/04/2008
(ngàn đồng)
Giá đóng cửa
30/06/2008
(ngàn đồng)
Thay đổi
(ngàn đồng)
% thay
đổi
MIC
58,3 65,1 6,80 11,66%
VNR
27 29,9 2,90 10,74%
DTC
38,9 41,7 2,80 7,20%
LUT
21,3 21,6 0,30 1,41%
27 10 (17) -62,96%
BVS
84,4 32,2 (52,2) -61,85%
SDA
61,7 23,9 (37,8) -61,26%
ILC
49,8 19,7 (30,1) -60,44%
S99
88,5 35,1 (53,4) -60,34%
TLT
33,5 13,5 (20) -59,70%
S96
38,2 15,7 (22,5) -58,90%
SD9
40,4 16,9 (23,5) -58,16%
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam Quý 2- 2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang22
Top 10 mã chứng khoán giao dịch nhiều nhất và ít nhất – HOSE
10 mã giao dịch nhiều nhất 10 mã giao dịch ít nhất
Mã CK Khối lượng Mã CK Khối lượng
STB
53.107.323 BTC 19.590
DPM
40.739.960 VKP 90.620
SSI
32.237.830 SGC 92.780
4.245.700 PSC 36.000
DBC
4.171.900 VBH 44.000
NVC
3.805.200 YSC 46.600
HPC
3.615.200 DTC 49.000
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam Quý 2- 2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang23Phụ lục 2. Tổng hợp các chỉ số tài chính theo Ngành
STT Ngành Số công ty
trong
ngành
Vốn hóa thị
trường
(tỷ đồng)
P/E
(6/2008)
Chênh lệch
quý (%)
P/B % vốn
hóa thị
trường
1
Đồ dùng cá nhân 8 1.454 11,31 -12,78% 0,82 0,64%
14
Đồ uống 3 366 7,69 7,74% 1,26 0,16%
15
Du lịch & Giải trí 5 12.027 40,87 -23,47% 5,21 5,28%
16
Dược phẩm & Công nghệ
sinh học
3 5.533 20,15 -5,45% 3,35 2,43%
17
Gas, nước và Công ty
dịch vụ tiện ích đa ngành
2 338 11,09 -0,62% 0,91 0,15%
18
Giấy & Các chế phẩm từ
gỗ
5 631 5,43 -10,44% 0,94 0,28%
19
Hoá chất 15 24.276 6,41 -4,99% 2,02 10,65%
20
Khai khoáng 5 813 11,62 -9,34% 2,43 0,36%
21
Kim loại Công nghiệp 6 8.690 8,06 -20,30% 1,36 3,81%
22
Ngân hàng 2 22.183 6,34 -7,42% 1,47 9,73%
23
Ô tô & Phụ tùng 1 117 6,69 -12,27% 4,01 0,05%
24
Phần cứng và thiết bị
phần cứng
4 11.279 10,86 -18,76% 2,03 4,95%
30
Thuốc lá 1 35 3,27 -8,78% 0,74 0,02%
31
Truyền thông 11 215 6,15 -49,36% 0,99 0,09%
32
Vật liệu xây dựng 88 16.719 6,43 -9,83% 1,05 7,33%
Tổng 299 227.966 100%
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam Quý 2- 2008 © 2008 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang25Phụ lục 3, Những cổ phiếu tiêu biểu trên 2 sàn - sắp xếp theo giá trị vốn hóa
(Vốn hóa tại 30/06/2008 > 500 tỷ, PE< 13 và EPS > 3000)
TT Mã
CK
Sàn Ngành Vốn hóa
(tỷ đồng)
Giá
(30/06/08)
TTM
P/E
P/Bv EPS cơ
bản
ROA ROE
1
VNM HO
Điện
8.293 26 10,05 2,17 2,537 8% 22%
11
HPG HO
Kim loại Công nghiệp 7.223 52 6,78 2,16 7,598 24% 38%
12
FPT HO
Phần cứng và thiết bị phần
cứng
4.595 50 6,05 2,32 8,265 20% 49%
13
SSI HO
Dịch vụ tài chính 4.373 32 6,90 0,95 4,640 17% 33%
14
KDC HO
Chế biến thực phẩm 3.588 78 12,21 0,66 6,386 12% 16%
15
ANV HO
Chế biến thực phẩm 3.346 51 7,11 1,89 7,169 33% 42%
16
VSH HO
Điện 3.327 24 10,56 1,65 2,292 11% 15%
17
DHG HO
Dược phẩm & Công nghệ
sinh học
2.859 143 19,97 4,40 7,159 18% 31%
18
PVS HA
Sản xuất dầu khí 2.620 26 8,21 1,95 3,191 7% 26%