i: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - Pdf 19

Tiểu luận GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh
HVTH: Nguyễn Đức Trung 0 Lớp: CH Ngân hàng Ngày 1 Bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Ngân hàng


TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Đề tài:
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng
các dịch vụ thanh toán”.
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ
hai thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10
năm 1998 định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Dù có nhiều định nghĩa về ngân hàng thương mại nhưng nó phải chứa đựng 3
nội dung cơ bản là: ngân hàng thương mại phải có hoạt động huy động vốn, hoạt động
cho vay và hoạt động thanh toán.
1.2.Chức năng Ngân hàng Thương mại.
Nhìn chung, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản là: chức năng trung
gian tài chính, chức năng tạo tiền và chức năng sản xuất.
1.2.1. Chức năng trung gian tài chính.
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng thương mại và có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trung gian tài
chính ở đây bao gồm trung gian về tín dụng, trung gian về thanh toán và trung gian
nhiều lĩnh vực tài chính khác.
Trung gian về tín dụng nghĩa là ngân hàng thương mại huy động và tập trung
các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để cho các chủ
thể khác vay. Như vậy ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho
vay.
Trung gian về thanh toán nghĩa là ngân hàng thương mại làm trung gian giữa
người trả tiền và người nhận tiền bằng cách tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng
như: sec, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ thanh toán, … và độc quyền quản lý các
công cụ đó.
1.2.2. Chức năng tạo tiền.
Ngoài chức năng trung tài chính, ngân hàng thương mại còn có chức năng tạo
tiền, tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ (tiền ghi sổ) góp phần gia tăng khối tiền tệ
phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế. Theo Quỹ tiền tệ quốc

1-0.8
Như vậy, với số tiền gửi ban đầu là $1000, ngân hàng thương mại có thể tạo ra
số tiền gửi không kỳ hạn gấp 5 lần nếu dự trữ là 20%.
1.2.3. Chức năng “sản xuất”.
Chức năng trung gian tài chính và chức năng tạo tiền là hai chức năng cơ bản
của ngân hàng thương mại. Trong những năm gần đây, nhiều nhà quản trị ngân hàng
còn đề cập đến chức năng “sản xuất” của ngân hàng thương mại.“Sản xuất” ở đây bao
gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra “sản phẩm” và dịch vụ ngân
hàng cung cấp cho nền kinh tế. Sản xuất ở đây cũng đặc biệt bởi vì nguyên vật liệu đầu
vào là tiền và sản phẩm đầu ra cũng là tiền.Tuy nhiên, chữ sản xuất ở đây nên hiểu
theo nghĩa trong ngoặc kép vì có thể còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất.
1.3. Phân loại ngân hàng thương mại.
1.3.1. Phân loại dựa vào hình thức sở hữu.
Dựa theo tiêu thức này, có thể phân loại ngân hàng thương mại thành các loại
ngân sau:
- Ngân hàng thương mại quốc doanh;
- Ngân hàng thương mại cổ phần;
- Ngân hàng thương mại liên doanh;
- Ngân hàng thương mại 100% vốn của nước ngoài;
- Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài.
1.3.2. Phân loại dựa vào chiến lược kinh doanh.
Dựa theo tiêu thức chiến lược kinh doanh và mối quan hệ giữa ngân hàng với
khách hàng, có thể chia ngân hàng thương mại thành các loại sau:
- Ngân hàng bán buôn;
- Ngân hàng bán lẻ;
- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ.

Sn= U1
1-q
Tiểu luận GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh

ngân hàng trung ương. Vì thế, có thể nói rằng, mọi hoạt động của ngân hàng trung
ương đều tác động đến nền kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ của chính sách tiền tệ đã
vạch ra.
Sự điều tiết tiền tệ có thể điều tiết gián tiếp và vô cùng hiệu quả đến những hoạt
động của nền kinh tế quốc gia từ vĩ mô đến vi mô. Nội dung quan trọng của điều tiết
tiền tệ là điều hòa khối tiền tệ. Điều hòa khối tiền tệ có nghĩa là điều chỉnh việc tạo
tiền và sử dụng tiền của ngân hàng thương mại, điều chỉnh mức cung tiền để ổn định
tiền tệ.
Như vậy, bằng việc tạo tiền gắn liền chặt chẽ với công cụ quản lý vĩ mô của
ngân hàng trung ương (như tỷ lệ dự trữ bắt buộc) trong khi thực hiện hoạt động kinh
doanh của mình, ngân hàng thương mại đã thể hiện vai trò của mình trong việc góp
phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô của ngân hàng trung ương thông qua chính sách
tiền tệ.
1.5. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn;
- Hoạt động cấp tín dụng;
- Hoạt động dịch vụ thanh toán;
- Hoạt động ngân quỹ;
Tiểu luận GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh
HVTH: Nguyễn Đức Trung 4 Lớp: CH Ngân hàng Ngày 1
- Các hoạt động khác như:góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ,
kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ
và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan
đến hoạt động ngân hàng.
1.5.1. Hoạt động huy động vốn.
- Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi;
- Phát hành giấy tờ có giá;
- Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước;

tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước. Việc tham gia các hệ thống
thanh toán quốc tế phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
Ngân hàng thương mại được thực hiện dịch vụ ngân quỹ thông qua hoạt động
thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
1.5.4. Các hoạt động khác.
Ngân hàng thương mại được thực hiện các hoạt động khác bao gồm:
- Góp vốn, mua cổ phần;
- Tham gia thị trường tiền tệ;
- Kinh doanh ngoại hối và vàng;
Tiểu luận GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh
HVTH: Nguyễn Đức Trung 5 Lớp: CH Ngân hàng Ngày 1
- Nghiệp vụ ủy thác và đại lý;
- Kinh doanh bất động sản;
- Kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm;
- Dịch vụ tư vấn tài chính;
- Bảo quản vật quý giá;
- Các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.


Hiện nay, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam là hệ thống ngân hàng 2 cấp gồm có:
cấp Ngân hàng Nhà nước và cấp Ngân hàng Thương mại. Trong đó, Ngân hàng Trung
ương quản lý tất cả các Ngân hàng Thương mại trên cả nước.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tính đến cuối năm 2008,
nước ta có số lượng ngân hàng thương mại như sau:
- 6 ngân hàng thương mại nhà nước bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển
Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng
Bằng Sông Cửu Long, Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam.
- 36 ngân hàng thương mại cổ phần như: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, ngân hàng thương mại cổ
phần Đông Á, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín, …
- 6 ngân hàng liên doanh như: ngân hàng Việt Thái, Ngân hàng Việt Nga, …
- 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài như: ngân hàng NATEXIS(Pháp), ngân
hàng Chinatrust Com. Bank, ngân hàng ANZ, …
- 7 công ty tài chính
- 8 công ty cho thuê tài chính
- 23 chi nhánh quỹ tín dụng Ngân hàng Trung ương
- Khoảng 888 quỹ tín dụng cơ sở
2.2. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam qua các
năm 2006, 2007 và 2008.
2.2.1. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
năm 2006.
Năm 2006, tình hình kinh tế thế giới ổn định do đó đã tác động tích cực đến
kinh tế Việt Nam. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2006 tăng 8,17% so với năm
2005. Lãi suất cơ bản trong cả năm 2006 là 8,25%/năm.
Có thể nói năm 2006 là năm thành công nhất của hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam từ trước tới nay. Điều này thể hiện rõ nét nhất qua sự phát triển vượt bậc
cả về quy mô cũng như chất lượng hoạt động của hệ thống . Hoạt động của hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ cả về huy động vốn và cho vay.

6 tỷ USD.
Năm 2007 đánh dấu một bước phát triển cơ bản về hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tiêu biểu đó là đưa vào sử dụng Công
nghệ phần mềm lõi Core Banking; trên cơ sở phần mềm lõi, ngân hàng thương mại đã
phát triển thêm nhiều chương trình quản lý sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích và
hiện đại khác, phát triển chương trình quản lý và điều hành nội bộ, giao dịch ngân
hàng một cửa, chuyển tiền điện tử, …
Tính đến hết năm 2007, cả nước có khoảng 8,2 triệu tài khoản cá nhân, với gần
6 triệu thẻ ATM đã được phát hành, trên 4.500 máy ATM đã được lắp đặt. Các ngân
hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng khác trên tài khoản như thấu
chi trên tài khoản, với hạn mức thấu chi dựa trên thu nhập ổn định hàng tháng, mức
tiền lương và tài sản đảm bảo khác,… Trong những ngày cuối năm 2007, Banknet và
Smarlink - do Vietcombank chủ trì cùng 15 ngân hàng thương mại cổ phần và 2 cổ
đông sáng lập khác đã ký kết thỏa thuận hợp tác kết nối hai mạng thanh toán thẻ ATM
lớn nhất Việt Nam, tạo cơ sở liên thông toàn bộ thị trường thẻ trong năm 2008.
Với chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước quy định đến 31/12/2007, các tổ chức tín dụng phải đưa tỷ lệ dư nợ vốn cho
vay, chiết khấu giấy tờ có giá, … để khách hàng đầu tư, kinh doanh chứng khoán về
mức dưới 3% tổng dư nợ đã hạn chế dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại đối
với đầu tư, kinh doanh chứng khoán.
Có thể nói hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong năm
2007 đã gặt hái nhiều thành công nhờ một phần rất lớn từ nổ lực của các ngân hàng
thương mại. Tuy nhiên cũng còn tồn tại một số bất cập như cho vay quá nhiều vào đầu
tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản mà chưa thẩm định kỹ khách hàng.

2.2.3. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
năm 2008.
Năm 2008 là năm cả trong nước và trên thế giới tình hình kinh tế xã hội có
nhiều biến động phức tạp.
Tiểu luận GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh

ngân hàng thương mại và doanh nghiệp lúng túng trong việc xác định lãi suất cho vay
trong các hợp đồng tín dụng đã được ký kết. Lãi suất cho vay của các ngân hàng
thương mại lên đến 21%/năm đã gây ra khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp vay
vốn. Nguồn cung về vốn cũng rất hạn chế và nhiều ngân hàng thương mại đã có dấu
hết mất tính thanh khoản do đó họ đã nâng lãi suất huy động lên rất cao có lúc lên tới
gần 20%/năm. Với mức lãi suất huy động hấp dẫn như vậy nên nhiều khách hàng đã
rút tiền ở ngân hàng có lãi suất thấp và gửi tiền ở ngân hàng có lãi suất cao hơn.
Tuy nhiên, trong 6 sáu tháng cuối năm 2008 tình hình lại diễn biến theo chiều
hướng ngược lại tốt hơn. Việc chính phủ đề ra 5 nhóm giải giải pháp vào tháng 12 năm
2008; trong đó thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ linh hoạt, hiệu quả. Do đó, lãi
suất cơ bản đã giảm liên tục từ 14%/năm trong tháng 7 năm 2008 xuống còn
8.5%/năm trong tháng 12 năm 2008 gần bằng với lãi suất cơ bản đầu năm 2008. Đi đôi
với việc hạ lãi suất cơ bản thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng giảm từ 8% trong tháng 11
năm 2008 xuống còn 5% trong tháng 12 năm 2008. Lãi suất cơ bản giảm đã kéo lãi
suất cho vay và huy động của các ngân hàng thương mại giảm theo. Các doanh nghiệp
đã bớt khó khăn hơn do gánh nặng lãi suất. Mặt khác, vào cuối năm 2008 chính phủ đã
đưa ra gói kích cầu 6 tỷ USD nhằm đưa hoạt động của các doanh nghiệp trong nước
vượt qua giai đoạn suy thoái kinh tế.
Tiểu luận GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh
HVTH: Nguyễn Đức Trung 9 Lớp: CH Ngân hàng Ngày 1
Nhìn chung năm 2008 do điều kiện kinh tế thế giới bị suy thoái và Việt Nam
cũng đã bị ảnh hưởng nên hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân do thị trường chứng khoán Việt Nam bị suy
giảm mạnh và thị trường bất động sản bị đóng băng nên việc thu hồi vốn vay của hai
thị trường này hết sức khó khăn. Mặt khác do điều hành quản lý kinh tế vĩ mô của
chính phủ còn nhiều yếu kém như:
- Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm làm tăng dư nợ tín dụng
quá nóng.
- Bội chi ngân sách liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày
càng lớn nhưng chưa đặt kế hoạch phấn đấu giảm bội chi, do đó không tạo áp lực đối
Tiểu luận GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh
HVTH: Nguyễn Đức Trung 10 Lớp: CH Ngân hàng Ngày 1 CHƯƠNG 3 : NHỮNG KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ĐỂ
HOÀN THIỆN PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 3.1. Định hướng về chiến lược chung cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam nên sáp nhập lại với nhau để có nguồn
vốn tài chính lớn tương đương với các ngân hàng thương mại lớn của quốc tế. Từ đó
tạo ưu thế cạnh tranh với quốc tế.
Không nên thành lập quá nhiều ngân hàng thương mại mà nên chú trọng đến
chất lượng hơn là số lượng.
Ngày càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng hơn nữa. Đa
dạng hóa các sản phẩm ngân hàng theo chiều sâu.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả trong hoạt động thanh tra, giám sát trong
nội bộ các ngân hàng thương mại.
3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước.
Hoàn thiện hơn nữa khuôn khổ pháp luật về thanh tra, giám sát hoạt động các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status