2422.4.2.1. Khái niệm
Bánh dinh dưỡng là một dạng thức ăn hỗn hợp bổ sung các chất dinh
dưỡng thường thiếu trong khẩu phần cở sở của bò. Thành phần chủ yếu của
bánh dinh dưỡng gồm: rỉ mật (cung cấp năng lượng), urê (cung cấp protein) và
các chất khoáng. Ngoài ra, ñể làm bánh dinh dưỡng cần sử dụng thêm các chất
ñộn, các chất kết dính tạo thuận lợi cho việc ép thành bánh và làm cho bánh
xốp. ðó là ñá vôi, ximăng, vỏ lạc xay nhỏ, bột bã mía, rơm nghiền
Sử dụng bánh dinh dưỡng trong chăn nuôi bò thịt có nhiều lợi ích: tận
dụng ñược các nguyên liệu thức ăn rẻ tiền, kém ngon miệng và mất cân ñối về
mặt dinh dưỡng tạo thành một hỗn hợp ngon miệng, cân ñối dinh dưỡng và
hoàn toàn có thể thay thế một phần thức ăn tinh hỗn hợp (chính vì vậy một số
người còn gọi là bánh ña dinh dưỡng). Bánh dinh dưỡng cung cấp cho hệ vi
sinh vật dạ cỏ các chất bột ñường và nitơ phi protein, làm cho quá trình tổng
hợp protein vi sinh vật ñạt hiệu quả cao.
Bánh dinh dưỡng chỉ sử dụng cho gia súc nhai lại (trâu, bò, dê, cừu),
không ñược sử dụng cho các ñối tượng khác.
2.4.2.2. Yêu cầu của bánh dinh dưỡng
Bánh dinh dưỡng cần ñáp ứng ñược những yêu cầu cơ bản sau ñây:
- Bảo ñảm có các thành phần cần thiết (như năng lượng dễ tiêu, nitơ,
khoáng ña và vi lượng) nhằm bổ sung dinh dưỡng cho khẩu phần cơ sở ñể tối
ưu hoá hoạt ñộng của vi sinh vật dạ cỏ.
- Có ñộ cứng thích hợp, không bị vỡ khi vận chuyển.
- Bò thích ăn.
2.4.2.3. Một số công thức bánh dinh dưỡng
Có nhiều công thức làm bánh dinh dưỡng, tùy thuộc vào ñiều kiện cụ thể
của từng gia ñình, ñịa phương mà có thể chọn công thức phù hợp. Sau ñây là
một số công thức áp dụng khá phổ biến ở Việt Nam.
Trong trường hợp không có bột dây, vỏ lạc hay bột bã mía khô thì có thể
5
5
20
40
5
10
5
5
10
5
20
45
0
10
5
5
10
5
20
52
3
2
2
1
20
20
5
trộn ñều. Lưu ý ñến ñộ ẩm của hỗn hợp: nếu dùng tay nắm lại, khi mở bàn tay
ra hỗn hợp không bị rã rời, tạo ñược hình trong lòng bàn tay là ñược. Cho hỗn
hợp vào khuôn và ép thành bánh. Tháo khuôn ra và ñể cho bánh tự khô.
2.4.2.5. Cách bảo quản và sử dụng
Bánh dinh dưỡng chế biến như trên có thể bảo quản, dự trữ trong 4-5
tháng. Nếu bao gói trong giấy ximăng hoặc giấy nilông, ñặt vào nơi khô ráo,
thoáng thì có thể bảo quản ñược lâu hơn, thậm chí tới 1 năm.
Cách cho bò ăn là ñể bánh dinh dưỡng nơi sạch sẽ trong chuồng (nên
ñóng máng bằng gỗ ñể ñặt bánh dinh dưỡng và treo ngang tầm) và gia súc ăn
244tự do theo kiểu “gậm nhấm” dần. Không bóp vụn cũng như không hoà vào
nước.
Cũng như urê nguyên chất, không sử dụng bánh dinh dưỡng cho bê dưới
6 tháng tuổi vì dạ cỏ của chúng chưa phát triển hoàn chỉnh nên chưa chuyển
hoá tốt urê.
Gia súc có thể bị ngộ ñộc bánh ña dinh dưỡng nếu như chỉ ñược cho ăn
bánh dinh dưỡng mà không có các loại thức ăn thô xanh khác, hoặc khi sản
xuất các nguyên liệu như urê, muối ăn không ñược trộn ñều, kỹ.
Lượng ăn vào: trâu bò: 0,3 - 0,5 kg/con/ngày; bê nghé (khi ñã ăn cỏ):
0,15 - 0,2 kg/con/ngày; dê, cừu: 0,05 - 0,1 kg/con/ngày.
2.4.3. Sản xuất hỗn hợp khoáng và tảng liếm
2.4.3.1. Khái niệm
Trong chăn nuôi bò thịt người ta thường bổ sung các chất khoáng ña
lượng và vi lượng dưới dạng hỗn hợp trộn sẵn theo những tỷ lệ nhất ñịnh gọi
là premix khoáng. Hỗn hợp này ñược sử dụng ñể trộn vào các loại thức ăn tinh
với tỷ lệ 0,1-0,3% hoặc bổ sung vào khẩu phần hàng ngày với lượng 10-40g
cho mỗi con, tuỳ theo từng ñối tượng. Người ta cũng có thể bổ sung khoáng
bằng cách trộn các thành phần khoáng với nhau và với các chất mang (chất
a. Một số công thức
+ Công thức 1 (tính theo %):
- ðicanxi phốtphát 70
- Sulphát magiê 5
- Muối ăn 25
- Chất kết dính vừa ñủ
+ Công thức 2 (dùng cho bò sữa; tính theo %):
- Canxi phosphat 40
- Canxi carbonat 20
- Sulphat magiê 10
- Muối ăn 30
- Chất kết dính vừa ñủ
b. Cách làm:
Lúc ñầu trộn ñều sulphát magiê với muối ăn. Bước tiếp theo là trộn hỗn
hợp này với 1/2 lượng dicanxi phosphat (ñối với công thức 1) hoặc canxi
phôtphát và canxi carbonat (ñối với công thức 2) và sau ñó trộn với lượng còn
lại của các loại muối này.
246Chất kết dính thường ñược sử dụng là ñất sét. Cũng có thể cho thêm
ximăng với tỷ lệ 12% so với khối lượng chung. ðất sét dẻo phải phơi khô, tán
thật nhỏ. Sau ñó trộn ñất sét vào hỗn hợp khoáng ñã chuẩn bị như trên với tỷ
lệ vừa ñủ, nhồi thành khối dẻo rồi nặn thành các viên gạch nặng 0,5-1,0 kg,
phơi khô hoặc nung thành gạch non ñể dùng cho gia súc.
c. Cách dùng:
ðặt bánh ñá liếm ở góc chuồng hoặc dưới gốc cây trên bãi chăn, hoặc
treo bánh liếm ngang tầm ñể bò liếm dần. Chú ý tránh nơi ẩm ướt hoặc mưa
hắt. Khi nào hết lại thay bánh mới. Bò rất thích liếm các tảng ñá này nhờ ñó
mà chúng thường xuyên ñược cung cấp các chất khoáng.
Sơ ñồ 5.2. Sơ ñồ cấu trúc khẩu phần ăn của bò
ðối với gia súc cao sản khẩu phần cơ sở ñã hiệu chỉnh cũng không ñáp
ứng ñủ nhu cầu dinh dưỡng cho sản xuất. Trong trường hợp này cần có thêm
thức ăn ñể bổ sung sản xuất. Khẩu phần cơ sở ñã hiệu chỉnh và thức ăn bổ
sung sản xuất sẽ tạo thành khẩu phần hoàn chỉnh.
3.2.2. Mục ñích và nguyên tắc bổ sung dinh dưỡng
Khi xây dựng khẩu phần ñiều cốt yếu là làm trâu bò ăn ñược càng nhiều
thức ăn thô càng tốt nhưng vẫn ñảm bảo ñáp ứng ñủ nhu cầu về dinh dưỡng
cho VSV dạ cỏ và vật chủ, do ñó cần phải bổ sung dinh dưỡng như ñã nói ở
trên. Các chất dinh dưỡng trong thức ăn thô chỉ có thể ñược phân giải và
chuyển hoá có hiệu quả trong dạ cỏ nếu như các VSV cộng sinh trong ñó ñược
cung cấp ñủ và cân ñối các chất dinh dưỡng cần thiết. Hơn nữa, các sản phẩm
lên men cuối cùng trong dạ cỏ (protein VSV và AXBBH) chỉ có thể trở thành
các chất dinh dưỡng cho vật chủ và làm tăng năng suất của gia súc nếu như
chúng cân bằng với các chất dinh dưỡng ñược tiêu hoá và hấp thu ở ruột non.
Do vậy, bổ sung dinh dưỡng cho khẩu phần cơ sở là thức ăn thô, ñặc biệt là
thức ăn thô chất lượng thấp, phải ñảm bảo ñược những nguyên tắc sau:
Khẩu phần cơ sở
(thức ăn thô)
THỨC ĂN BỔ
SUNG
Bổ sung tối thiểu
(theo nhu cầu VSV dạ cỏ)
các chất dinh dưỡng hấp thu và ñáp ứng nhu cầu sản xuất của gia súc.
Các chất dinh dưỡng cần cung cấp trong trường hợp này là các axit amin,
axit béo không no mạch dài (không thay thế), tiền thân của glucose. Những
chất này thường lấy từ thức ăn protein, lipit và bột ñường. Các loại thức ăn bổ
sung này phải ñược phối hợp theo tỷ lệ phù hợp sao cho chúng không cản trở
hoạt ñộng phân giải xơ trong dạ cỏ và ñảm bảo cân bằng giữa các sản phẩm
lên men dạ cỏ với sản phẩm tiêu hoá ở ruột nhằm ñạt ñược mức sản xuất ñề ra.
Khái niệm bổ sung nhằm hai mục ñích này hoàn toàn khác với cách bổ
sung truyền thống ñối với các khẩu phần cơ sở là thức ăn thô. Trước ñây
người ta thường dùng các hỗn hợp thức ăn tinh hoàn chỉnh làm từ các loại hạt
cốc và thức ăn protein ñể bổ sung. Việc bổ sung như thế chỉ nhằm tăng ñược
dinh dưỡng cho vật chủ, nhưng lại không quan tâm ñến vai trò của VSV lên
men xơ trong dạ cỏ và do ñó mà nó thường ức chế hoạt lực của chúng.
Bổ sung “xúc tác” có tác dụng kích thích quá trình phân giải xơ ở dạ cỏ
và nhờ ñó mà lượng thu nhận tự do của gia súc ñối với thức ăn thô có thể tăng
249lên. Tuy nhiên, khi tăng lượng thức ăn tinh bổ sung vượt quá một mức nhất
ñịnh thì lượng thu nhận thức ăn thô bị giảm xuống. ðó là do hiện tượng thay
thế thức ăn thô bởi thức ăn tinh. Thông thường người ta quan sát thấy rằng khi
tỷ lệ carbohydrate dễ tiêu chiếm dưới 10-15% tổng số VCK thu nhận thì quá
trình phân giải xơ ñược kích thích và do ñó mà lượng thu nhận tăng lên. Trong
trưởng hợp này việc bổ sung có thể coi là “xúc tác”. Vượt quá mức bổ sung
nói trên thì các ñiều kiện thuận lợi cho quá trình phân giải xơ trong dạ cỏ bị
mất ñi và lượng thu nhận thức ăn thô giảm xuống.
Hiện tượng thay thế thường thể hiện rõ ñối với những thức ăn bổ sung
giàu năng lượng dễ lên men do lúc ñó AXBBH ñược sinh ra nhanh làm giảm
pH dạ cỏ ñột ngột nên không thuận lợi cho VSV phân giải xơ. Hiện tượng
thay thế xảy ra còn do ảnh hưởng vật lý (thế chỗ trong dạ cỏ). Hơn nữa, bổ
cầu sản xuất của gia súc cao sản.
3.2.3.2 Bổ sung các hợp chất chứa nitơ
- Bổ sung nitơ phi protein (NPN
)
Ngoài nguồn năng lượng cần thiết cho quá trình lên men vách tế bào thức
ăn thực vật, VSV dạ cỏ cần có ñủ N ñể tổng hợp protein cho bản thân chúng.
Tuy nhiên rơm rạ cũng như các loại thức ăn thô chất lượng thấp khác chứa rất
ít N và tỷ lệ tiêu hoá N của chúng thấp. ðiều ñó có nghĩa là ñể cho các loại
thức ăn xơ chất lượng thấp này ñược phân giải và lên men tốt thì trước hết cần
phải cung cấp ñủ lượng N cần thiết cho VSV dạ cỏ. Nhu cầu N của VSV dạ cỏ
phụ thuộc vào năng lượng có thể lên men trong dạ cỏ.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng nồng ñộ ammonia trong dạ cỏ cần thiết
ñể tiêu hoá tốt và tăng lượng thu nhận rơm ở bò nằm trong khoảng 150-200
mg NH
3
-N/l dich dạ cỏ. Nồng ñộ này có thể ñạt ñược bằng việc phun dung
dịch urê lên rơm (15g urê/kg rơm). Một số tác giả khác ước tính rằng những
khẩu phần cơ sở có tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ dưới 50% (như rơm không xử
lý) chỉ cần có 1% N (hay 6,25% CP) là ñủ. Nhưng hàm lượng nitơ cần tăng lên
ñến 1,5-2% (hay 9-12% CP) khi năng lượng tiêu hoá của khẩu phần ñược tăng
lên qua bổ sung hay nhờ xử lý rơm.
ðể tính chính xác hơn lượng NPN cần bổ sung phải cân bằng khẩu phần
ñể ñảm bảo PDIN = PDIE. Thí dụ sau ñây minh hoạ cách tính thực tế cho
việc xác ñịnh lượng NPN cần thiết ñể bổ sung cho gia súc nhai lại khi cho ăn
thức ăn thô chất lượng thấp.
Ví dụ: Giả sử một con bò ăn một ngày ăn 3,5kg VCK rơm lúa với tỷ lệ
tiêu hoá 40%, hàm lượng chất hữu cơ là 90% và hàm lượng protein thô là 3%.
Tính lượng urê cần bổ sung cho con bò này.
251
Lượng urê này phải cho ăn làm nhiều lần trong ngày ñể tránh bị ngộ ñộc
do ammonia tích tụ trong dạ cỏ quá nhiều một lúc. Nên hoà urê thành dung
dịch rồi vẩy lên rơm ngay trước khi cho ăn. Không ñược cho uống trực tiếp vì
như thế sẽ rất nguy hiểm do nguy cơ ngộ ñộc urê.
252- Bổ sung protein thực vật
Thông thường gia súc nhai lại phải phụ thuộc chủ yếu vào protein VSV
dạ cỏ ñể thoả mãn nhu cầu protein. Tuy nhiên, ngay cả trong ñiều kiện thuận
lợi nhất khả năng tổng hợp protein của VSV dạ cỏ là có giới hạn. Vì vậy,
protein VSV, ñặc biệt là khi nuôi bằng thức ăn thô, không thể ñủ ñể thoả mãn
nhu cầu sản xuất. Do vậy, ñối với thức ăn thô thì ngoài việc bổ sung nguồn N
dễ phân giải ở dạ cỏ việc bổ sung thêm các loại thức ăn protein ở dạng khó
phân giải ở dạ cỏ sẽ rất có lợi, bởi vì những thức ăn protein này sẽ ñi thẳng
xuống dạ khế và ruột ñể ñược tiêu hoá nhằm cung cấp axit amin trực tiếp cho
vật chủ ñể thoả mãn các nhu cầu sản xuất.
Việc bổ sung một số loại thức ăn protein phân giải chậm ở trong dạ cỏ
còn có tác dụng tốt ñối với quá trình phân giải xơ ở dạ cỏ thông qua việc cung
cấp trực tiếp một số axit amin và một số axit béo mạch nhánh (isoaxit) cần
thiết cho quá trình tổng hợp protein của VSV dạ cỏ. Do vậy, việc bổ sung
những protein phân giải chậm này sẽ vừa làm tăng sinh khối protein VSV vừa
tăng axit amin trực tiếp ở ruột.
Ngoài một số thức ăn bổ sung protein như khô dầu hay protein ñộng vật
(trừ casein) có tỷ lệ phân giải thấp ở dạ cỏ thì hầu hết protein thu nhận ñều bị
phân giải ở trong dạ cỏ. Vì vậy ñể tăng cường nguồn protein thoát qua người
ta ñã áp dụng một số biện pháp bảo vệ protein chống lại sự phân giải ở dạ cỏ
như: xử lý nhiệt, xử lý hoá học (xử lý bằng focmaldehyt, xử lý bằng tanin, xử
lý bằng ñường khử), tạo màng bọc polyme, hay bọc thức ăn giàu protein bằng
các thức ăn khác.
nói chung. Tuy nhiên, việc bổ sung này chỉ nên áp dụng khi khẩu phần cơ sở
không ñáp ứng ñủ nhu cầu dinh dưỡng, ñặc biệt là ñối với gia súc cao sản. Cần
cẩn thận khi sử dụng thức ăn tinh với những lý do sau:
- Có thể không có lợi về mặt dinh dưỡng cũng như kinh tế nếu bổ sung
quá nhiều. Bổ sung quá nhiều thức ăn tinh sẽ làm tăng tốc ñộ sinh ABBH
trong dạ cỏ, làm giảm pH và ức chế các loại VSV phân giải xơ và thường gây
ra hiện tượng thay thế (giảm thu nhận thức ăn thô). Hơn nữa việc lên men dạ
cỏ sẽ làm mất nhiều năng lượng của thức ăn tinh qua sinh nhiệt trong qua trình
lên men và sinh khí mêtan. Như vậy, lợi ích có ñược từ việc bổ sung các chất
dinh dưỡng thoát qua từ thức ăn tinh (protein, axit béo mạch dài, glucose) sẽ
phải trả giá bởi ảnh hưởng tiêu cực lên quá trình phân giải xơ ở dạ cỏ.
- Không phù hợp với những nơi thiếu lương thực cho người. Khi sử dụng
nhiều thức ăn tinh nuôi gia súc nhai lại sẽ tạo ra sự cạnh tranh thức ăn giữa
254chúng với người cũng như các loại gia súc dạ dày ñơn trong khi lợi thế tiêu
hoá xơ của chúng không ñược phát huy tối ña.
3.3. Những thông tin cần biết khi xây dựng khẩu phần
Người cán bộ kỹ thuật lập khẩu phần phải biết ñược phương pháp và
nghệ thuật phối hợp khẩu phần trên cơ sở những hiểu biết về dinh dưỡng gia
súc nhai lại. Hiện nay nhiều phần mềm phối hợp khẩu phần có thể giúp cho
việc xây dựng khẩu phần một cách dễ dàng và chính xác hơn. Tuy nhiên, trước
khi xây dựng khẩu phần cán bộ kỹ thuật cần có ñược ñầy ñủ những thông tin
cần thiết sau ñây:
- Nhu cầu dinh dưỡng ñầy ñủ của con vật: Khi tính toán nhu cầu dinh
dưỡng cần phải dựa vào một hệ thống dinh dưỡng nhất ñịnh (tiêu chuẩn ăn).
Tiêu chuẩn ăn ñược sủ dụng lâu nay ở nước ta ñối với trâu bò ñã lạc hậu nhiều
so với thế giới do vẫn tính toán nhu cầu protein theo protein thô hay protein
tiêu hoá, tức là không tính ñến nhu cầu và chuyển hoá protein của vi sinh vật
Các bước xây dựng khẩu phần ăn theo phương pháp cổ ñiển (Kearl,
1982) gồm những bước sau:
- Việc xây dựng khẩu phần bắt ñầu bằng việc tính toán nhu cầu dinh
dưỡng của bò về lượng vật chất khô thu nhận, năng lượng (ME), protein (CP),
Ca, P và vitamin A.
- Chọn một số loại thức ăn sẵn có và lấy thông tin về thành phần dinh
dưỡng của các loại thức ăn ñó. Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn
bắt buộc phải tra theo bảng có sẵn hay dựa vào kết quả phân tích thành phần
dinh dưỡng cụ thể cho các loại thức ăn ñược sử dụng của cơ sở (sẽ chính xác
hơn).
- Tính giá thành ñơn vị của các loại dinh dưỡng chính (thường chỉ là
năng lượng và protein) ñể quyết ñịnh chọn phương án rẻ tiền nhất.
- Tính toán khẩu phần thường dựa trên cơ sở tính theo thành phần dinh
dưỡng trong vật chất khô, sau ñó tính chuyển về khối lượng các loại thức ăn
theo nguyên trạng lúc cho ăn.
Nhu cầu dinh dưỡng của bò ñược thể hiện theo lượng các chất dinh
dưỡng cần cho mỗi con bò trong một ngày ñêm. Dưới ñây sẽ là một ví dụ về
cách lập khẩu phần trên cơ sở này chứ không theo kiểu tính nồng ñộ các chất
dinh dưỡng có trong khẩu phần. Tuy nhiên, có thể tính chuyển ñổi giữa hai
cách thể hiện này.
Ví dụ, theo tính toán thì nhu cầu dinh dưỡng cho một bò nặng 300kg và
tăng trọng 0,5kg/ngày sẽ là: 13,4 Mcal ME và 679g CP. ðồng thời, lượng
256năng lượng và protein này phải chứa trong 7kg VCK thu nhận. Như vậy, ñể
ñáp ứng ñược nhu cầu dinh dưỡng cho bò này thì mỗi kg VCK của khẩu phần
phải chứa 1,9 Mcal ME và 97g CP.
Giả sử các thức ăn có sẵn ñược sử dụng ñể nuôi bò trên có thành phần
dinh dưỡng và giá như ở bảng 5.7 (giá ở ñây chỉ có tính chất ví dụ tính toán).
Khô dầu bông
91 2,75 45,2 0,18 1,21 3000 3297
Ngô hạt 89 3,15 10,9 0,03 0,29 2600 2921
Ghi chú: * Thức ăn ở trạng thái khi cho ăn.
Bảng 5.8: Giá của mỗi ñơn vị ME và CP của một số loại thức ăn
Thức ăn ME
CP
Giá (ñồng)
257(Mcal/kg
VCK)
(g/kg VCK)
ME (Mcal)
CP (kg) VCK (kg)
Rơm lúa 1,63 44 337 12477 549
Cỏ Ghinê 1,81 70 486 12571 880
Cỏ Napier 1,70 54 588 18519 1000
Cỏ Alfalfa 2,17 180 819 9878 1778
Khô dầu bông 2,75 452 1199 7294 3297
Ngô hạt 3,15 109 927 26798 2921
Có nhiều cách ñể cân bằng khẩu phần và ñiều chỉnh khẩu phần ñể ñáp
ứng nhu cầu. Thông thường người ta áp dụng một trong 3 thuật toán phổ biến
nhất là phương pháp ñại số, phương pháp thế và phương pháp ô vuông. Sau
ñây là cách sử dụng phương pháp ô vuông (ñường chéo) vào ví dụ trên.
CP/kg VCK. Trong khi ñó nhu cầu của bò là 97g CP/kg VCK hay 9,7%, tức là
còn thiếu 4,07% CP trong khẩu phần. Từ bảng 2-6 có thể thấy rằng khô dầu
hạt bông là nguồn protein rẻ nhất (7294 ñ/kg CP). Bây giờ sử dụng phương
pháp ô vuông ñể phối hợp khô dầu hạt bông với hỗn hợp Rơm-Ngô hạt như
sau:
Tổng cộng có: 40,7 + 355,7 = 396,4 phần
Tỷ lệ của mỗi loại thức ăn trong hỗn hợp cơ sở sẽ là:
Hỗn hợp cơ sở: 355,7/396,4 x 100 = 89,7%
Khô dầu hạt bông: 40,7/396,4 x 100 = 10,3%
Như vậy, phối hợp 89,7% hỗn hợp cơ sở với 10,3% khô dầu hạt bông sẽ
có ñược khẩu phần chứa 9,7% CP theo như yêu cầu.
Tiếp theo có thể tính lại lượng ME và CP có trong 7 kg VCK của khẩu
phần theo tỷ lệ phối trộn như sau:
Rơm: 89,7/100 x 82,24% = 73,77% hay 5,16kg VCK
Ngô hạt: 89,7/100 x 17,76% = 15,93% hay 1,12kg VCK
Khô dầu bông: 10,30% hay 0,72kg VCK
Cộng 7,00 kg VCK
Nếu kiểm tra thấy mức năng lượng quá chênh lệch so với yêu cầu thì tiếp
tục ñiều chỉnh năng lượng bằng cách lặp lại các bước như trên ñối với protein.
Nếu mức năng lượng nằm trong giới hạn cho phép thì chuyển sang kiểm tra
hàm lượng Ca, P và vitamin A trong khẩu phần ñể có bổ sung nếu thấy thiếu.
Từ khối lượng VCK của mỗi loại thức ăn ñã tính ñược trong khẩu phần
cho bò ta có thể tính ñược giá thành của khẩu phần bằng cách nhân với giá của
giàu năng lượng hoặc protein (tuỳ trường hợp) ñể cân bằng năng lượng và
protein (phần dư trên duy trì). Khẩu phần cơ sở ñã ñiều chỉnh này sẽ ñáp ứng
ñược nhu cầu duy trì và nhu cầu cho một mức sản xuất nhất ñịnh (thấp).
6. Bổ sung sản xuất khi nhu cầu của con vật vượt trên mức mà khẩu
phần thức ăn cơ sở ñã ñiều chỉnh cho phép bằng cách dùng thức ăn tinh hỗn
hợp.
7. Cân ñối lượng khoáng và vitamin có trong khẩu phần trên, nếu thiếu so
với nhu cầu thì phải bổ sung dưới dạng khoáng hỗn hợp hay ñá liếm.
Ví dụ 1: về tính toán khẩu phần cho bò sữa theo hệ thống TDN và DCP
Lập khẩu phần ăn cho 1 con bò sữa có khối lượng 500 kg, cho sữa chu
kỳ thứ 3 và sản xuất 10 kg sữa tiêu chuẩn trong một ngày ñêm. Nông hộ có
các loại thức ăn và giá trị dinh dưỡng của chúng như sau:
Bảng 5.9. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong khẩu phần
260Trong 1 kg sản phẩm Trong 1 kg VCK Loại thức ăn
VCK(g)
TDN (kg)
DCP(g) TDN(kg)
DCP(g)
Cỏ voi 250 0,12 9 0,48 36
Cỏ tự nhiên 250 0,10 12 0,40 48
Cây ngô ủ 220 0,12 10 0,55 45
Cây ngô xanh 200 0,12 10 0,60 50
Cám gạo 900 0,50 60
Bột ngô 900 0,85 80
Ví dụ 2:
về cách tính toán khẩu phần cho bò sữa theo hệ thống UFL/PDI
(INRA):
Lập khẩu phần cho bò sữa có khối lượng 400 kg, ñang trong chu kỳ sữa
thứ 3, cho 16 lít sữa tiêu chuẩn (4% mỡ)/ngày. Hàng ngày người ta cho bò ăn
45 kg cỏ voi thu cắt lúc 30 ngày tuổi. Tính toán thức ăn bổ sung cho con bò
này.
- Nhu cầu duy trì của bò này (400kg) theo tính toán là 3,88 UFL và 291g
PDI.
- Căn cứ vào bảng giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn hiện có, loại cỏ
voi như trên có 15% VCK với 0,78 UFL, 93g PDIN và 100g PDIE/kg VCK.
Như vậy, khẩu phần thức ăn thô cơ sở gồm có 45 kg cỏ voi sẽ có 6,75 kg
VCK; 5,26 UFL; 627g PDIN và 657g PDIE.
- Với khẩu phần ăn trên số dinh dưỡng còn lại cho sản xuất sữa là:
(5,26 - 3,88) = 1,38 UFL
(627 - 291) = 336 g PDIN
(675 - 291) = 384 g PDIE
Như vậy, năng lượng của khẩu phần cơ sở còn cho phép con bò này sản
xuất 1,38/0,44 = 3,13 lít sữa tiêu chuẩn (4% mỡ), còn protein cho phép sản
xuất 336/48 = 7 lít sữa tiêu chuẩn. Như vậy, khẩu phần thức ăn thô bị thiếu
năng lượng nếu con bò này sản xuất 7 kg sữa tiêu chuẩn/ngày.
- ðể cân bằng khẩu phần ăn cơ sở cho sản xuất 7 kg sữa tiêu chuẩn/ngày
(ngoài duy trì), cần phải cho bò ăn thêm một loại thức ăn bổ sung năng lượng
ñể cho phép con bò sữa ñó sản xuất thêm (7,00 - 3,13) = 3,87 lít sữa tiêu
chuẩn. ðiều này có nghĩa là cần phải bổ sung thêm 3,87*0,44 = 1,70 UFL. Giả
sử bổ sung 2 kg bột sắn. Theo bảng giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn, bột
sắn có: 87,8% vật chất khô, 1,16 UFL, 21g PDIN và 88g PDIE. Như vậy,
lượng bột sắn bổ sung này sẽ cung cấp thêm ñược 1,75 kg VCK, 2,04 UFL,
36g PDIN và 154g PDIE.
262
820
Cho phép sản xuất (lít sữa tiêu
chuẩn)
7,75 7,75 11,2
Nhu cầu còn chưa ñược ñáp ứng 3,70 403 -
Thành phần thức ăn tinh bổ sung 0,925 100 105
Lượng thức ăn tinh cần bổ sung 4,0 4,0
- Nếu chấp nhận khẩu phần cơ sở trên thì việc tiếp theo là tính toán thức
ăn tinh bổ sung cho bò sữa này ñể sản xuất số sữa vượt trên 7,75 lít/ngày.
Tổng nhu cầu của bò này tính ñược là 11,0 UFL và 1066 g PDI. Như vậy,
lượng thức ăn tinh bổ sung thêm phải ñáp ứng ñược 11,00 - 7,30 = 3,70 UFL
và 1063 - 663 = 400 g PDI. Giả sử có một loại thức ăn hỗn hợp có 0,925
UFL/kg và có PDIN=PDIE (hay giá trị thấp nhất trong 2 giá trị này) = 100g/kg
thì cần bổ sung 4 kg là ñủ.
263Chú ý: ðể biết ñược giá trị protein (PDI) của một khẩu phần, trước hết
cần tính tổng số lượng PDIN (tổng này bằng giá trị PDIN của từng loaị thức
ăn sử dụng trong khẩu phần). Sau ñó tính tổng PDIE của khẩu phần theo cách
tương tự (không lấy tổng của PDIN và PDIE). Cuối cùng giá trị thấp nhất của
tổng PDIN hoặc PDIE của khẩu phần chính là số lượng protein tiêu hoá ở
ruột (PDI) của khẩu phần ñó. ðể xây dựng ñược một một khẩu phần hợp lý
(cân ñối N và năng lượng cho VSV dạ cỏ tăng sinh và hoạt ñộng tối ña) người
ta phải phối hợp các loại thức ăn sao cho PDIN = PDIE (tính cho toàn khẩu
phần) bằng cách phối hợp những thức ăn có các giá trị PDIN và PDIE khác
nhau.
3.4.3. Phối hợp khẩu phần bằng chương trình máy tính
Hiện nay các chương trình máy tính có thể giúp tính toán ñược những
khẩu phần vừa ñáp ứng ñược nhu cầu của bò vừa ñảm bảo giá thành thành
Hanson J., Mullen B., Partridge I., Peters M., Kraft R. S. (2005)
Tropical Forages. CD Rom
3. FAO, 1998. Tropical feeds, 8
th
Edition. FAO, Rome
(
http://www.fao.org/WAICENT/FAOINFO/AGRICULT/AGA/AGAP/
FRG/conf96.htm/guo.htm)
4. Lê ðức Ngoan, Nguyễn Xuân Bả và Nguyễn Hữu Văn (2007). Thức ăn
cho gia súc nhai lại trong nông hộ miền Trung. Nhà xuất bản Nông
Nghiệp.
5. Pozy P., D. Dehareng và Vũ Chí Cương (2002) Nuôi dưỡng bò ở miền
Bắc Việt Nam: Nhu cầu dinh dưỡng của bò và giá trị dinh dưỡng của
thức ăn. NXB Nông nghiệp. Hà Nội.
6. Phùng Quốc Quảng, Nguyễn Xuân Trạch (2004). Thức ăn và nuôi
dưỡng bò sữa. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. Hà Nội, 2004.
7. Nguyễn Thiện (2004). Trồng cỏ nuôi bò sữa. Nhà xuất bản Nông
Nghiệp. Hà Nội, 2004.
8. Nguyễn Xuân Trạch (2002, 2003, 2004, 2005, 2007). Sử dụng phụ
phẩm nuôi gia súc nhai lại. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. Hà Nội, 2004.
9. Nguyễn Xuân Trạch (2007). Giáo trình chăn nuôi trâu bò. Nhà xuất bản
Nông Nghiệp. Hà Nội
10. Viện chăn nuôi quốc gia (1995). Thành phần và giá trị dinh duỡng thức
ăn gia súc-gia cầm Việt Nam. Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội, 1995.
CHƯƠNG VI
CÁC BỆNH DINH DƯỠNG THƯỜNG GẶP Ở BÒ
I. BỆNH KETOSIS
Bệnh này khá phổ biến trong chăn nuôi bò ở nước ta, nhất là bò sữa
trong giai ñoạn tiết sữa mạnh hay ở cừu cuối giai ñoạn mang thai. Bệnh do
sữa bò khẩu phần rất nghèo các loại ñường ñơn, ñặc biệt là glucose. Khi
glucose bị huy ñộng mạnh vào sữa thì gây ra thiếu glucose ñể tạo năng lượng
cho các quá trình chuyển hoá và cho hoạt ñộng của não và thần kinh, lúc này
cơ thể lấy năng lượng từ nguồn ketone. Sơ ñồ 6.1. Con ñường hình thành thể ketone trong gan và sử dụng thể
ketone ñể cho năng lượng ở cơ và não