Dinh dương và Thức ăn cho bò part 8 - Pdf 19

212Cỏ Ruzi có thể sử dụng làm thức ăn xanh, cỏ khô hay cỏ ủ chua ñều tốt.
Cắt lứa ñầu 60 ngày sau khi trồng, các lứa sau cắt cách nhau 40 ngày. Thu
hoạch bằng cách cắt cao 5-10 cm cách mặt ñất và cắt sạch.
1.1.2.4. Cỏ lông Para (Brachiaria mutica)
Cỏ lông Para là loài cỏ lâu năm thân có chiều hướng bò, có thể cao tới
1,5m. Thân và lá ñều có lông ngắn. Cánh cứng to rỗng ruột, ñốt dài 10-15cm,
mắt 2 ñầu ñốt có màu trắng xanh. Các mắt ở ñốt có khả năng ñâm chồi và rễ
dài, lá dài ñầu nhọn như hình tim ở gốc. Bẹ lá dài, lưỡi bẹ ngắn.
Cỏ lông Para ưa khí hậu nóng ẩm, phát triển rất mạnh ở chỗ ñất bùn lầy,
chịu ñược ñất ngập nước chứ không chịu ñược khô hạn, là cây cỏ phổ biến ở
hầu hết các vùng ñất không thoát nước và ngập úng.
Năng suất xanh của cỏ lông Para ñạt 70-80 tấn/ha/năm, có nơi ñạt 90-100
tấn/ha/năm. Cỏ lông Para có khả năng phát triển tốt vào vụ ðông-Xuân nên nó
chính là cây hoà thảo trồng cung cấp thức ăn xanh cho gia súc vào vụ này rất
tốt.
Lá cỏ Para có tính ngon miệng cao cho gia súc song phần thân và cỏ già
tính ngon miệng giảm rõ rệt. Giá trị dinh dưỡng của cỏ cao, giá trị CP diễn
biến từ 14-20% và IVDMD từ 65-80% ở lá và 55-65% ở phần cành ngọn, giá
trị này giảm xuống chỉ còn 35-45% ở ngọn già.
Cỏ lông Para không chịu ñược giẫm ñạp do vậy chỉ nên trồng ñể thu cắt
làm thức ăn xanh cho ăn tại chuồng hay ủ chua, cắt lứa ñầu 45-60 ngày sau khi
gieo, các lứa sau cắt cách nhau 30-35 ngày, cắt 5-10 cm cách mặt ñất. Cỏ
trồng 1 lần có thể sử dụng ñến 4-5 năm.
1.1.2.5. Cỏ Pangola (Digitaria decumbens)
Cỏ Pangola là loài cỏ hoà thảo lâu năm, cây thấp, có hướng ñổ rạp, thân
cành nhỏ (0,2-0,3 cm) và bò ñan vào nhau tạo thành thảm. Ở các ñốt thân, nhất
là các thân bò có vòng lông màu trắng xanh hay phớt tím, lá cỏ xanh mượt và
mềm, dài khoảng 6-7cm và rộng 0,6cm. Mỗi nhánh có khoảng 10-12 lá. Lá có

ñối tượng gia súc rất thích ăn (kể cả lợn). Tuy vậy, không nên dùng cho ngựa.
Trồng ñể thu cắt là chính, tuy nhiên có thể chăn thả nhẹ.
Năng suất chất khô hàng năm ước tính từ 4-24 tấn/ha, phụ thuộc lớn vào
ñộ màu mỡ của ñất, phân bón và ñộ ẩm
Giá trị dinh dưỡng của cỏ Setaria: 1,36%N (8,5%CP), 0,33%P, 4,94%K;
0,20%Ca, 0,06%Na; 0,18% Mg ở cỏ có thời gian sinh trưởng 5 tuần.
Hàm lượng ñộc tố Oxalate từ 4,5-6,7% trong chất khô ở cỏ 3 tuần tuổi.
Vì hàm lượng Oxalate cao nên có thể là nguyên nhân dẫn ñến bệnh “ñầu to”
(Osteodystrophia fibrosa) ở ngựa và bệnh “sốt sữa”(Milk fever,
Hypocalcaemia) vì làm giảm can xi huyết. Vi sinh vật dạ cỏ có khả năng làm
giảm ñộc tố Oxalate khi ñược ăn cỏ Setaria một cách từ từ.
Khả năng sản xuất hạt kém, nhân giống dễ dàng bằng thân gốc.
Cỏ có thể ñược bảo quản bằng cách phơi khô hoặc ủ chua.
Các giống có triển vọng là Lampung, Nandi, Narok, Solander và
Splendida.
2141.1.2.7. Cỏ VA-06 (cỏ mía)
Cỏ VA-06 (cỏ mía) là tên viết tắt của tổ chức Hiệp hội doanh nghiệp
nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn Việt Nam (VARISME) nhập giống cỏ về
nước năm 2006 (ðào Lệ Hằng, 2007). VA-06 là dòng lai giữa giống cỏ voi và
cỏ ñuôi sói của châu Mỹ và ñược ñánh giá là vua của các loài cỏ. Ngày
05/09/2007, Hội ñồng KHCN - Bộ NN và PTNN ñã ñánh giá tầm quan trọng
của giống cỏ VA-06, coi ñây là một itến bộ kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay, giống cỏ này ñã ñược nhân rộng nhiều vùng sinh thái trong cả nước.

ðặc ñiểm
Cỏ VA-06 có hình dáng như cây trúc, thân thảo, cao lớn và dạng bụi.
Cây mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm

sau trồng là có thể thu hoạch lần ñầu. Các lần thu hoạch sau 35 - 40 ngày/lứa
cắt. Năng suất ñạt trung bình 50 – 70tấn/ha/lần cắt. Năng suất chất xanh có thể
ñạt 500 tấn/ha/năm.
Khả năng lưu gốc khá lâu 6 -7 năm, từ năm thứ 2 ñến năm thứ 6, là thời
kỳ cho năng suất cao nhất. Hàng năm có thể thu hoạch ñược 8 – 10 vụ.
Chú ý: ñây là loại cây cần nước, nếu không tưới ñủ nước thì năng suất
rất thấp.
Thành phần hóa học và sử dụng
Cỏ VA-06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn
dạng thô hoặc làm bột cỏ khô dùng ñể nuôi bò thịt, bò sữa, dê, cừu, thỏ, gà tây,
cá trắm cỏ, mà không cần hoặc cơ bản không cần bổ sung thêm thức ăn tinh
vẫn ñảm bảo vật nuôi phát triển bình thường. Giống cỏ VA-06 nhiều lông, ñộ
nhám của lá thấp, vì vây, gia súc thích ăn loại cỏ này.
Ngoài ra, VA-06 có thể dùng làm nguyên liệu giấy, làm gỗ ván nhân
tạo, trồng nấm ăn và nấm dược liệu.
Cỏ VA-06 có hàm lượng protein cao hơn nhiều giống cỏ hòa thảo ñang
trồng phổ biến ở nước ta. ðó là ưu ñiểm lớn về giá trị dinh dưỡng. Thành phần
hóa học ñược trình bày ở bảng 5.1.
Bảng 5.1. Thành phần hóa học của cỏ VA-06 tái sinh 35 ngày tuổi (%)
VCK Protein thô

Xơ thô

ðường Khoáng
16,39
12,87 (11,16-14,7) 41,00 23,12

8,39

Nguồn:

lượng khẩu phần thức ăn cho bò. Cỏ có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân
giống, có thể vừa gieo bằng hạt, vừa trồng bằng cành giâm. Cỏ Stylo phát triển
tốt khi nhiệt ñộ không khí trong khoảng 20-35
0
C. Khi nhiệt ñộ dưới 5
0
C hay
trên 40
0
C cây phát triển kém. Cỏ Stylo phù hợp với chân ruộng cao và là loại
cây chịu ñược khô hạn, không chịu ñược ñất bị úng ngập. ðộ ẩm không khí
thích hợp là 70-80%.
Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại ñất, ngay cả
ở vùng ñất ñồi cao. Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn cho gia
súc chất lượng cao nó còn ñược trồng ñể cải tạo và che phủ ñất, chống xói
mòn.
217Năng suất xanh ñạt 40-50 tấn/ha/năm.
Giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo khá cao, ñặc biệt là hàm lượng protein.
Giá trị CP khoảng 12-20%, IVDMD từ 52-60%, 0,2-0,6% P và 0,6 -1,6% Ca.
Thu hoạch cỏ Stylo lứa ñầu khoảng 3 tháng sau khi trồng, tức là lúc cỏ
cao khoảng 60cm và thảm cỏ che phủ kín ñất. Khi cắt lần ñầu nên cắt cách mặt
ñất 10-20cm. Cỏ dễ bị chết nếu cắt sát gốc do ñiểm tái sinh của các chồi non
thường tập trung ở phần cao hơn. Thu hoạch các lứa tiếp theo cứ sau 2-2,5
tháng, lúc cây cao 35-40cm. Những lần cắt sau nên cắt ở ñộ cao hơn (>25cm)
ñể ñảm bảo việc tái sinh. Chu kỳ kinh tế 4-5 năm.
1.1.2.10. Cây dâu (Morus alba)
Cây Dâu ñược trồng nhiều nơi trên ñất nước ta không những là nguồn

dâu.
Lượng lá dâu trong khẩu phần ăn của trâu bò, dê, cừu nên ở mức 20-40%
tính theo chất khô khẩu phần.
1.1.2.11. Cây chè khổng lồ (Trichanthera gigantea)
Cây chè khổng lồ thuộc họ Acanthaceae và phụ họ Acanthoideae, có
nguồn gốc từ chân ñồi Andean, Colombia và cũng có thể tìm thấy nhiều nơi
trên thế giới ở dọc suối hoặc vùng ñầm lầy từ Costa Rica ñến Nam Mỹ. Cây
Trichanthera gigantea phát triển tốt ở nhiều vùng sinh thái khác nhau của Việt
Nam, cho ñến nay ñã nhân rộng ra nhiều tỉnh ở nước ta và ñược người dân
chấp nhận do khả năng chống bệnh và côn trùng cao. Cây Trichanthera
gigantea có khả năng phát triển dưới tán cây, nên rất phù hợp với mô hình
canh tác hỗn hợp.
Cây Trichanthera gigantea có thể ñược thu hoạch lần ñầu sau khi trồng
khoảng 8-10 tháng, cho sản lượng 15,6 ñến 16,7 tấn chất tươi/ha/lần cắt, với
mật ñộ trồng 40000 cây/ha (0,5 X 0,5 m). Giá trị dinh dưỡng của lá cây
Trichanthera gigantea cho gia súc khá cao. Hàm lượng protein thô trong
khoảng 15 - 22 % và hầu hết là protein thực, hàm lượng can xi cao hơn so với
các loại cây thức ăn khác. Tuy vậy, tính ngon miệng của cây Trichanthera
gigantea ñối với trâu bò không cao, ñối với dê, cừu ở mức trung bình, vì vậy
khi sử dụng cho gia súc nên dùng làm thức ăn bổ sung và trộn với các loại
thức ăn khác.
1.1.2.12. Cây dâm bụt (Hibiscus rosasinensis L.)
Cây dâm bụt thuộc họ Malvacae là cây trồng ñược sử dụng làm hàng rào
sống và là nguồn thức ăn cho gia súc nhai lại có giá trị. Dâm bụt có khả năng
sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiều loại ñất khác nhau, ñặc biệt là có khả năng
chịu hạn trong mùa khô ở khu vực miền Trung. Dâm bụt có hàm lượng protein
khá cao (17- 20%) và có tính ngon miệng cao ñối với gia súc nhai lại. Cây có
219
Tỷ lệ tiêu hóa in vivo
Loại thức ăn
VCK CHC CP
Lá và cành non cây dâu 76,2 80,3 82,5
220Lá và cành non dâm bụt 62,3 65,8 79,9
Lá dâu ủ chua
*
58,0 63,1 62,9
Lá dâm bụt ủ chua 69,8 73,1 84,4
Nguồn: Nguyễn Xuân Bả (2006)
1.1.2.13. Cây keo dậu (Leucaena leucocephala)
Keo dậu là cây bụi, bộ ñậu có khả năng cố ñịnh ñạm, ñược coi là nguồn
thức ăn tuyệt vời cho gia súc ở vùng nhiệt ñới. Ở nước ta cây keo dậu ñã phát
triển ở nhiều vùng khác nhau. Tuy vậy, chúng chỉ phát triển tốt trên ñất trung
tính hơi chua (pH = 6-7). Nhiều kết quả nghiên cứu ở nước ta cho biết năng
suất keo dậu ñạt khoảng 50 tấn chất xanh/ha/năm. Ưu ñiểm lớn của lá keo dậu
làm thức ăn cho gia súc là hàm lượng protein cao (>20%) và giàu caroten.
Trong lá cây keo dậu có chất ñộc ñối gia súc, gia cầm ñó là mimosine, do vậy
khi sử dung cho trâu bò không nên vượt quá 30% khẩu phần, cho dê, cừu
không quá 50%, cho gia cầm không quá 5% và cho lợn không quá 10%. Sử
dụng lá keo dậu cho trâu bò có thể cho ăn tươi kết hợp với các loại thức ăn xơ
thô khác, hoặc là làm bột keo dậu trong thành phần của bánh ña dinh dưỡng.
1.2. Nguồn phụ phẩm giàu xơ từ trồng trọt
1.2.1. Rơm rạ
Rơm rạ là phụ phẩm của các cây lương thực như lúa nước, lúa cạn. Nó là
nguồn thức ăn dự trữ chủ yếu và phổ biến nhất của gia súc nhai lại ở nước ta.
Rơm là nguồn thức ăn tiềm năng cho ngành chăn nuôi trâu bò. Cứ ước tính tỷ

nay, tại những vùng nguyên liệu mía ñường của nước ta, hàng năm lượng
ngọn lá mía thải ra rất lớn, cần tận dụng ñể nuôi bò thịt. Tuy vậy, khi sử dụng
ngọn lá mía làm thức ăn cho trâu bò cũng có nhiều hạn chế:
- Hàm lượng protein thấp (6-7%)
- Thu hoạch mía có tính chất thời vụ nên trâu bò không thể ăn hết trong
một khoảng thời gian ngắn. Lá mía bị khô thì giá trị làm thức ăn rất thấp.
Giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía thấp, ñặc biệt là hàm lượng protein
thấp (bảng 5.4). Tuy vậy, trâu bò vẫn duy trì ñược thể trạng và vẫn làm việc
hăng hái trong khi ăn một khẩu phần toàn ngọn mía. ðiều ñó chứng tỏ rằng
quá trình lên men của ngọn mía trong dạ cỏ ñã cung cấp ñủ dinh dưỡng cho
duy trì và lao tác ở mức thấp. Tuy nhiên với khẩu phần ñơn ñiệu chỉ có ngọn
mía kéo dài và không ñược bổ sung các loại thức ăn khác như rỉ mật, cám, urê
thì sức làm việc sẽ bị giảm sút, tình trạng này càng kéo dài sẽ làm cho con vật
giảm trọng lượng cơ thể.
Khi sử dụng ngọn lá mía cho gia súc cần bổ sung một số loại thức ăn
khác (cám, urê ) ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và tăng lượng ăn vào của gia súc
222và ngọn lá nên ñược cắt ngắn trước khi cho ăn. Ngọn mía có thể ñược ủ chua,
bằng cách băm nhỏ ngọn mía 3-4 cm rồi ủ yếm khí với rỉ mật, hay cám và 1%
amôn sulphat.
Bảng 5.4. Thành phần hóa học của các thành phần ngọn mía (%)
Chỉ tiêu Lõi thân Vỏ thân Ngọn
Vật chất khô
Protein thô
Mỡ
ðường tổng số

Khoáng tổng số

khi thu hoạch bắp là rất cần thiết. Cây ngô sau khi thu bắp non (ngô bao tử hay
bắp ngô luộc) có thể dùng làm nguồn thức ăn xanh rất tốt cho trâu bò. Thành
phần dinh dưỡng của cây ngô sau thu bắp non rất phù hợp với sinh lý tiêu hoá
của trâu bò.
Loại cây ngô chín sữa-chín sáp và ñã thu hết bắp (trong trường hợp trồng
ngô lấy bắp ñem bán non) có thể ủ chua rất tốt. Tiến hành cắt cây ngô vào
chính ngày thu bắp, phơi héo cho khô bớt nếu có thể. Kỹ thuật ủ chua cũng
tương tự như trường hợp cây ngô làm thức ăn gia súc. Bình thường cây ngô
sau thu bắp non này có thể ủ chua không cần bổ sung chất phụ gia. Tuy nhiên,
ñể ñảm bảo lên men an toàn khi không biết chính xác tỷ lệ vật chất khô, tỷ lệ
ñường, không phơi tái ñược cây ngô nguyên liệu thì nên bổ sung một lượng rỉ
mật ñường khoảng 2-4 lít/m
3
hố ủ. Cách làm như sau: hoà rỉ mật vào nước
223sạch theo tỷ lệ bằng nhau trong ô-doa rồi tưới ñều cho mỗi lớp 15 cm cây ngô
ñã thái nhỏ và ñã chất vào trong hố ủ trước khi nén chặt.
Cây ngô già sau thu bắp có thể xử lý urê ñể kiềm hoá tương tự như ñối
với rơm ñể làm thức ăn vụ ñông cho trâu bò.
1.2.4. Thân lá lạc
Cây lạc khi thu hoạch củ vẫn còn xanh và giàu chất dinh dưỡng. ðặc biệt
chúng có hàm lượng protein thô khá cao (15-16%). Một sào lạc có thể thu ñư-
ợc 300-400kg thân cây lạc. ðây là nguồn thức ăn lớn có giá trị cho vật
nuôi. Thân lá lạc có thể bảo quản và dự trữ cho gia súc bằng phương pháp
phơi khô, trộn với rơm khô và chất thành cây (cây rơm, lá lạc) cho gia súc ăn
vào lúc thiếu thức ăn xanh rất có giá trị. Một số vùng nông thôn bà con nông
dân ñã áp dụng phương pháp phơi thật khô, nghiền nhỏ và trộn với thân cây
chuối, cỏ cho gia súc ăn thêm hoặc ñể làm bánh ña dinh dưỡng. Có thể bảo

Bảng 5.5. Thành phần dinh dưỡng bã bia (g/kg vật chất khô)
Chỉ tiêu
GÍA TRị TRUNG
BÌNH
KHOảNG BIếN
ðộNG
Vật chất khô
Xơ thô
Mỡ thô
Khoáng tống số
Chất hữu cơ tiêu hóa
Năng lượng trao ñổi (MJ)
Protein tiêu hóa
263
234
176
77
41
594
11,2
244-300
184-262
155-204
61-99
36-45
552-643
10,5-12,0
1.3.2. Bã sắn
Cây sắn là cây lương thực ñược xếp thứ 2 ở nước ta về sản lượng. Cả
nước trồng khoảng 424 000 ha, với sản lượng 6,6 triệu tấn củ. Hiện nay, các

pH DM
(%)
CP
(%)
NDF
(%)
HCN
(mg)
OM
(%)
GE
(Kcal)
Bã sắn tươi 4,21 11,2 3,6 31,2 240 97,2 4180
Bã sắn ủ chua 3,75 11,3 3,4 30,1 79 93,1 3900
Nguồn: Nguyễn Xuân Bả và CS (2006)
1.3.3. Hạt bông
Hạt bông có hàm lượng protein và lipid cao nên có thể ñược coi là một
loại thức ăn tinh. Nhưng mặt khác, xơ của nó tương ñương với cỏ nếu xét về
mức ñộ tiêu hoá ở dạ cỏ. Phản ứng của gia súc khi bổ sung hạt bông thay ñổi
rất lớn phụ thuộc vào khẩu phần cơ sở. Tỷ lệ phân giải cao của protein hạt
bông làm cho hàm lượng ammonia trong dạ cỏ tăng cao, ñiều này có lợi cho vi
sinh vật dạ cỏ khi khẩu phần cơ sở nghèo ñạm. Hơn nữa, năng lượng gia nhiệt
của hạt bông thấp nên có lợi khi cho gia súc ăn trong ñiều kiện nhiệt ñộ môi
trường cao.
Tuy nhiên, do hạt bông có hàm lượng lipid cao và có ñộc tố gosypol nên
cho ăn quá nhiều có thể ảnh hưởng xấu ñến hoạt lực của vi sinh vật dạ cỏ.
Hiện nay, người ta ñề nghị mức bổ sung chỉ dưới 150g/kg thức ăn của khẩu
phần. Chế biến, ñặc biệt là xử lý nhiệt, có thể làm tăng tỷ lệ lipit và protein
226


xơ.
227Thành phần dinh dưỡng trong cám gạo như sau: hàm lượng protein thô
11 - 13%, 10 - 15% lipid thô, 8 - 9% xơ thô và 9-10% khoáng tổng số. Dầu
cám chủ yếu là các axit béo không no.
1.3.6. Bã ñậu nành
Bã ñậu nành là phụ phẩm của quá trình chế biến hạt ñậu nành thành ñậu
phụ hoặc thành sữa ñậu nành. Nó có mùi thơm, vị ngọt, gia súc thích ăn. Hàm
lượng chất béo và protein trong bã ñậu nành rất cao. Bã ñậu nành có thể ñược
coi là loại thức ăn cung cấp protein cho bò. Mỗi ngày có thể cho bò ăn 5-
10kg/con/ngày.
1.3.7. Rỉ mật
Rỉ mật là phụ phẩm của sản xuất ñường kết tinh. Tùy theo các giai ñoạn
của quá trình chiết tinh ñường mà có nhiều loại rĩ mật. Rỉ mật là nguồn ñậm
ñặc carbohydrate có khả năng lên men, là chất cao năng lượng, hàm lượng
protein thấp (2-4%), chủ yếu nitơ dưới dạng nitơ phi protein. Rỉ mật ñược sử
dụng vào các mục ñích cho chăn nuôi sau ñây:
- Là loại thức ăn ñể vỗ béo bò trong chăn nuôi thâm canh
- Là chất mang urê, khoáng và các chất dinh dưỡng khác ñể cải thiện
hiệu quả sử dụng khẩu phần nghèo nitơ.
- Là nguồn chất phụ gia quan trọng cho việc dự trữ thức ăn thô cho trâu

Vai trò của rỉ mật trong thức ăn cho gia súc:
- Là chất cung cấp carbohydrates lên men trong khẩu phần cơ sở của
ñộng vật nhai lại
- Chất mang và tạo tính ngon miệng cho các chất dinh dưỡng khác (như
urê, khoáng ) ñể bổ sung vào khẩu phần giàu xơ và cũng là chất keo trong
khối liếm.

. Nồng ñộ ammonia
trong dạ cỏ khi nuôi gia súc bằng thức ăn thô thường thấp, khi bổ sung u rê
liên tục ñã làm tăng lượng thức ăn ăn vào, tăng tỷ lệ tiêu hoá, ổn ñịnh cân bằng
nitơ, tăng tốc ñộ lưu chuyển protein vi sinh vật trong dạ cỏ, tăng nồng ñộ axit
béo bay hơi tổng số trong dịch dạ cỏ, do ñó làm tăng khả năng sản xuất của gia
súc và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. Tuy nhiên, ở những khẩu phần thiếu lưu
huỳnh (S), bổ sung urê không ñạt hiệu quả tốt bởi vì thiếu S là yếu tố hạn chế
ñầu tiên ñến hoạt ñộng của các vi sinh vật dạ cỏ. Bổ sung S vào khẩu phần
cùng với u rê theo tỷ lệ N/ S: từ 10:1 ñến 15:1 sẽ vượt qua hạn chế nêu trên. Ở
những khẩu phần nghèo nitơ và nghèo carbohydrate hòa tan khi sử dụng urê
mang lại hiệu quả thấp do vi sinh vật thiếu năng lượng (ATP) cho quá trình
229sinh tổng hợp protein của chúng. Vì vậy, khi sử dụng urê cần bổ sung thêm
nguồn thức ăn giàu carbohydrate hòa tan (cám, rỉ mật ).
Vấn ñề sử dụng urê cho gia súc nhai lại như là “con dao hai lưỡi”, vì vậy
liều lượng và phương pháp bổ sung là hai vấn ñề ñược quan tâm hàng ñầu.
Liều lượng urê bổ sung cho gia súc nhai lại thường trong khoảng 1% trong
chất khô khẩu phần, hoặc 2% trong thức ăn tinh hoặc khoảng 20-25 g urê/100
kg thể trọng. Không nên vượt quá mức 30% nhu cầu nitơ của gia súc.
Phương pháp bổ sung urê có thể ña dạng song phải ñảm bảo nguyên tắc
“TỪ TỪ”. Các phương pháp phổ biến hiện nay là sử dụng urê ñể xử lý các
loại phụ phẩm giàu xơ (rơm rạ, thân cây ngô già), hoặc tưới dung dịch urê vào
các loại thức ăn này theo tỷ lệ thích hợp, hoặc có thể trộn vào thức ăn tinh cho
gia súc ăn, hoặc chế biến dạng bánh liếm urê, rỉ mật
II. CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT THỨC ĂN
2.1. Cân ñối thức ăn quanh năm
Ở nước ta việc giải quyết thức ăn quanh năm cho gia súc nhai lại trở
thành mối quan tâm lớn cho các nhà chăn nuôi do tính chất mùa vụ. Tùy thuộc

Tính chất mùa vụ trong việc giải quyết thức ăn cho ñàn bò

230

ðể giải quyết thức ăn quanh năm cho gia súc nhai lại một số giải pháp
sau ñây có thể áp dụng. Tùy thuộc vào ñiều kiện cụ thể của từng ñịa phương
mà lựa chon một hoặc nhiều giải pháp có tính khả thi và hiệu quả.
2.2. Chế biến và dự trữ thức ăn

2.2.1. Sản xuất và dự trữ cỏ khô
Cỏ khô loại là một trong những nguồn thức ăn tốt cho gia súc nhai lại,
ñặc biệt là vào vụ ðông-Xuân. Hàm lượng và thành phần các chất dinh dưỡng
trong cỏ khô có sự khác nhau rất rõ rệt và tùy thuộc vào thành phần thực vật
của cây cỏ, ñiều kiện ñất ñai và khí hậu, loại và liều lượng phân bón sử dụng,
thời gian thu hoạch cỏ, tình trạng thời tiết lúc cắt cỏ và kỹ thuật làm khô. Giai
ñoạn phát triển thực vật lúc thu hoạch cỏ ñể phơi khô cũng ảnh hưởng rất
nhiều ñến thành phần hoá học của nó. Cây càng thành thục và già ñi thì hàm
lượng cellulose trong cỏ tăng lên, còn hàm lượng protein, vitamin và chất
khoáng giảm xuống.
ðối với các loại cỏ bộ ñậu (cỏ Stylo, cỏ Medicago và cỏ ba lá ) tốt nhất
là thu hoạch vào giai ñoạn có nụ hoa vì khi ñó hàm lượng protein trong cỏ cao
nhất. Cỏ thu hoạch từ những nơi ñất màu mỡ chứa nhiều caroten hơn ñất cằn
cỗi. Trong thành phần cỏ khô có chứa nhiều loại cây bộ ñậu thì lượng caroten
càng phong phú.
ðiều ñáng chú ý nữa là hàm lượng vitamin D trong cỏ khô. Trong cây
xanh không có vitamin D nhưng lại có ergosterin. Khi phơi nắng, dưới ảnh
hưởng của tia cực tím, ergosterin ñược chuyển thành vitamin D

Bảo quản cỏ khô bằng cách ñánh thành ñống như ñống rơm, nén chặt và
có mái che mưa. Nếu có ñiều kiện thì xây dựng nhà kho dự trữ cỏ khô. Muốn
tăng sức chứa của nhà kho thì bó cỏ thành bó (tốt nhất là dùng máy ñóng bánh
cỏ khô) ñể xếp ñược nhiều và khi cần lấy ra cho gia súc nhai lại ăn cũng thuận
tiện.
2.2.2. Sản xuất thức ăn ủ chua
2.2.2.1. Nguyên lý ủ chua
Ủ chua là kỹ thuật bảo quản và dự trữ thức ăn nhờ quá trình lên men yếm
khí, tạo ra trong khối thức ăn một lượng axít hữu cơ cấp thấp (axít lactic) cần
thiết ñể hạ ñộ pH xuống tới mức (khoảng 4,2) có tác dụng ức chế hoạt ñộng
của các loại vi khuẩn, nhờ ñó mà thức ăn ñược bảo quản lâu dài.
Thực chất của ủ chua là quá trình lên men yếm khí khi trong khối nguyên
liệu (thường là thức ăn thô xanh) có ñủ cơ chất (ñường), ñược nén chặt, có
nhiệt ñộ và ñộ ẩm thích hợp. Ngược lại, khi trong khối thức ăn và trong hố ủ
có nhiều không khí, quá trình lên men háo khí xuất hiện và tăng cường, làm
hỏng khối thức ăn.
232Nhờ quá trình bảo quản thức ăn bằng ủ chua, những phần cứng của thân
cây bị mềm ra và làm cho nó trở nên dễ ăn và dễ tiêu hoá hơn. Tuy nhiên, về
bản chất ủ chua không làm tăng thành phần dinh dưỡng của thức ăn mà chỉ là
bảo quản thức ăn với sự tổn thất dinh dưỡng ở mức thấp. ðây là cách dự trữ
thức ăn xanh tốt nhất từ mùa hè (nhiều cỏ) sang mùa ñông (thiếu cỏ) ñể ñảm
bảo ñủ thức ăn thô quanh năm cho bò.
2.2.2.2. ðiều kiện cần thiết ñể ủ chua thành công
ðể ủ chua thành công cần có những ñiều kiện tiên quyết sau ñây:
- Hố ủ bảo ñảm yêu cầu kín nước và kín khí. Hố ủ phải giữ ñược không
cho nước và không khí bên ngoài ngấm vào, ñồng thời phải sạch, không gồ
ghề ñể nén thức ăn ñược chặt và dễ dàng. Sau khi chất nén ñầy thức ăn, hố ủ

a. Chuẩn bị hố ủ
ðịa ñiểm ñặt hoặc xây hố ủ phải chọn nơi cao ráo, cạnh chuồng nuôi ñể
tiện sử dụng. Tốt nhất là xây hố ủ bằng gạch có trát xi măng. Tuỳ theo vùng và
mức nước bề mặt, có thể xây hố chìm, chìm một nửa hoặc nổi hoàn toàn trên
mặt ñất. Số lượng hố và kích thước các chiều tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng,
khối lượng thức ăn có sẵn, quy mô ñàn gia súc trên cơ sở tính toán mỗi khối
hố ủ dự trữ ñược khoảng 0,5 tấn thức ăn ủ xanh.
Trong ñiều kiện chăn nuôi nông hộ nên xây một hoặc nhiều hố ủ với thể
tích khoảng 1,5m³ (1m × 1m × 1,5m) bởi vì lượng thức ăn cần thiết ñể chất
ñầy hố ủ 1,5 m³ tương ứng với một ngày công lao ñộng. Một hố ủ thể tích 1,5
m³ có thể tiếp nhận toàn bộ sản lượng của một sào ngô cây làm thức ăn gia
súc hoặc cỏ voi cắt ở 35 ngày tuổi và sẽ cho ra khoảng 700-800 kg thức ăn ủ
chua. Trong trường hợp trồng ngô rau (ngô bao tử), hoặc ngô sau khi thu hạt
khô thì cần phải có hai sào ñể chất ñầy vào hố ủ này. ðể tránh tổn thất thức ăn
khi ủ nên rải các tấm chất dẻo ở các thành hố và phía trên sau khi ủ xong.
Không nhất thiết phải xây hố ủ bằng gạch và xi măng mà cũng có thể ủ
chua thức ăn trong các loại hố ủ khác:
+ ðào một hố sâu trong lòng ñất, ñắp bờ xung quanh miệng hố ñể tránh
nước mưa tràn vào. Cần chọn chỗ cao ráo, dễ thoát nước, ñào ở chỗ ñất quánh,
mịn, không nên ñào hố chỗ ñất cát pha, chỗ trũng ñể tránh nước bên ngoài
ngấm vào hố. Dùng các tấm chất dẻo rải quanh thành hố và cao lên trên miệng
hố ñể có thể gấp ñóng kín lại sau khi ñã chất ñầy và nén chặt thức ăn.
+ Dùng túi chất dẻo ñể chất thức ăn xanh sau khi ñã băm thái vào. Nên
chọn loại túi mầu sẫm, có ñộ dầy trên 0,2 mm. Ưu ñiểm của túi chất dẻo là có
thể buộc kín dễ dàng. Tuy nhiên, túi chất dẻo có nhược ñiểm là khó nén chặt
thức ăn và chi phí cao. Túi có thể bị chọc thủng, ñặc biệt là khi tiến hành ủ
234chua thân cây ngô, cỏ voi Tốt nhất là cho túi chất dẻo vào trong bao bì vừa

235Tuỳ trường hợp và tuỳ những ñiều kiện cụ thể, có thể nên hoặc phải sử
dụng một số chất bổ sung sau ñây cho các mục ñích khác nhau:
+ Rỉ mật ñường, ñể tăng hàm lượng ñường, tạo thuận lợi cho quá trình
lên men, ñặc biệt là ñối với những loại thức ăn nghèo ñường. Tỷ lệ rỉ mật
ñường thay ñổi, có thể từ 1- 5% tuỳ theo lượng ñường có sẵn trong nguyên
liệu.
+ Muối ăn hoặc CaCO
3
ñể trung hoà bớt lượng axít lactic sản sinh ra khi
thức ăn nguyên liệu có nhiều ñường, làm cho thức ăn bớt chua. Tỷ lệ muối
khoảng 0,5%. Muối ăn còn có tác dụng làm tăng tính ngon miệng của thức ăn
nên kích thích bò ăn ñược nhiều hơn. Hơn nữa, khi trộn thêm muối sẽ làm tăng
áp suất thẩm thấu, không có lợi cho vi khuẩn lên men butyric (chịu áp suất
thẩm thấu cao kém hơn vi khuẩn lactic) nên làm cho thức ăn có chất lượng tốt
hơn. Tuy nhiên không nên bổ sung muối cho nguyên liệu có ít ñường vì nó ức
chế vi khuẩn lên men nói chung nên quá trình hạ pH sẽ chậm lại.
+ Urê ñể tăng hàm lượng protein trong thức ăn và giữ cho thức ăn ổn
ñịnh, không bị chua quá. Urê ñược chỉ ñịnh trong trường hợp các loại thức ăn
ñem ủ có hàm lượng ñường cao. Tỷ lệ sử dụng khoảng 0,5%.
+ Rơm khô hay bã mía dùng ñể hấp thụ bớt lượng dịch sinh ra trong quá
trình lên men hoặc dùng ñể xử lý trường hợp thức ăn ñem ủ bị ướt (mưa không
phơi ñược).
+ Một số hoá chất bảo quản (axít phosphoric, axít acetic, axit formic, ),
một số dạng enzyme, dạng vi sinh vật lên men lactic cũng có thể ñược sử
dụng trong kỹ thuật ủ chua. Tuy nhiên, các chất này thường ñắt, khó kiếm và
ñôi khi còn gây nguy hiểm cho người và gia súc.
2.2.2.4. Sử dụng thức ăn ủ chua

do ñó ñó mà làm tăng tỷ lệ tiêu hoá và lượng thu nhận.
Như ñã trình bày trong chương 2, hiệu quả sử dụng thức ăn giàu xơ chất
lượng thấp có thể ñược cải thiện bằng việc bổ sung dinh dưỡng hợp lý. Tuy
nhiên, khi hiệu quả của việc bổ sung ñã ñạt ñến cận trên thì việc nâng cao hơn
nữa khả năng lợi dụng các nguồn phụ phẩm giàu xơ chỉ có thể thực hiện ñược
bằng việc tăng tỷ lệ tiêu hoá của khẩu phần cơ sở và tăng tốc ñộ giải phóng
thức ăn ra khỏi dạ cỏ. Các biện pháp xử lý thích hợp có thể làm thay ñổi một
số tính chất lý hoá của vách tế bào thực vật, từ ñó làm tăng khả năng phân giải
của VSV với thành phần xơ, làm tăng tính ngon miệng và nâng cao tỷ lệ tiêu
hoá.
Có thể chia các phương pháp xử lý chính thành các nhóm: xử lý vật lý,
xử lý sinh học và xử lý hoá học, trong ñó xử lý hoá học là phổ biến nhất. Xử lý
hoá học ñể cải thiện giá trị dinh dưỡng của rơm ñược bắt ñầu từ cuối thế kỷ
thứ 19 và hiện nay ñang ñược áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.

Trích đoạn Phát triển cây thức ăn vào mùa thiếu cỏ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status