145
•
Nói tóm lại đối với yếu tố truyền lây chúng ta phải
thường xuyên thực hiện các biện pháp vệ sinh thức
ăn, nước uống, vệ sinh thân thể, chuồng trại, khu
vực chăn nuôi, tiêu độc ngoại cảnh xung quanh
động vật nuôi.
•
Đồng thời phải tiến hành tiêu diệt dã thú, chuột,
côn trùng, tiết túc và xử lý xác chết.
2.1. Tiêu độc
•
Tiêu độc là biện pháp nhằm loại trừ và tiêu diệt
mầm bệnh ở ngoại cảnh bên ngoài cơ thể động
vật như:
Vệ sinh tiêu độc chuồng trại, phương tiện dụng cụ
chăn nuôi và các dụng cụ khác có thể trực tiếp
hoặc gián tiếp làm lây lan bệnh cho động vật hoặc
gián tiếp gây ô nhiễm cho sản phẩm động vật.
•
Thông thường có các phương pháp tiêu độc sau:
Tiêu độc cơ giới: gồm quét dọn, lau chùi, cọ rửa hoặc
cạo lớp ngoài của dụng cụ, nền chuồng…
Mục đích giảm bớt số mầm bệnh, giảm bớt những
chất thích hợp cho sự tồn tại của mầm bệnh và giúp
phát huy tác dụng của phương pháp tiêu độc khác.
Vì vậy tiêu độc cơ giới phải đi trước các phương pháp
•
Côn trùng tiết túc đóng vai trò là yếu tố tryền lây,
một số còn là nguồn bệnh. Chính vì vậy tiêu diệt
chúng hoặc ngăn cản chúng phơi nhiễm với động
vật nuôi có tác dụng lớn đề phòng và chống bệnh
truyền nhiễm.
2.3. Tiêu diệt chuột
•
Chuột vừa yếu tố truyền lây vừa là nguồn bệnh, do
vậy cần có biện pháp tiêu diệt và ngăn cản chúng
phơi nhiễm với động vật nuôi, thức ăn và các dụng
cụ chăn nuôi.
147
2.4. Xử lý xác chết
•
Một trong những yếu tố truyền lây quan trọng của ổ
dịch là xác chết của động vật mắc bệnh truyền
nhiễm. Do vậy, phải có những biện pháp xử lý thích
đáng thì mới ngăn chăn dịch lây lan.
•
Xác động vật chết do bệnh truyền nhiễm phải đem
chôn, đốt ở những nơi xa khu dân cư, xa nguồn
nước, bãi chăn…
3. Biện pháp bảo vệ động vật thụ cảm
3.1. Tăng cường sức đề kháng không đặc hiệu
•
Bằng cách giải quyết tốt khâu vệ sinh, thức ăn,
nước uống, chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng hợp
lý…
3.2. Chọn lọc và tạo giống có sức đề kháng
3.4. Tạo miễn dịch bằng kháng huyết thanh
•
Tiêm kháng huyết thanh để tạo miễn dịch bị động
cho động vật bởi ngay sau khi tiêm cơ thể gia súc
có khả năng chống được bệnh.
•
Vì vậy kháng huyết thanh thường được sử dụng
trong trường hợp phòng bệnh một cách khẩn cấp
cho gia súc chưa phát bệnh ở trong ổ dịch, gia súc
ở vùng trực tiếp bị dịch uy hiếp.
•
Tuy nhiên do thời gian miễn dịch sau khi tiêm kháng
huyết thanh ngắn (1 - 3 tuần), nên sau khoảng 10
ngày cần tiêm vacxin để tạo miễn dịch chủ động,
lâu dài.
•
Tiêm kháng huyết thanh thường áp dụng cho
những giống gia súc quý, phòng bệnh gấp, hay
trước khi vận chuyển sang vùng khác…
•
Khi sử dụng cần tiêm đúng cách, đúng liều lượng
149
3.5. Tổ chức tiêm phòng
•
Công tác tiêm phòng phải được tiến hành theo một
kế hoạch dài hạn, nhằm hạn chế và tiến tới thanh
toán một số bệnh truyền nhiễm.
•
Khi lập kế hoạch tiêm phòng cần dựa vào tình hình
dịch đã điều tra được qua nhiều năm và khả năng
•
Bất cứ một biểu hiện dịch nào trên thực địa dù quy
mô to hay nhỏ cũng cần điều tra để chứng minh:
Nguồn của tác nhân gây dịch và hoàn cảnh xảy ra
dịch, Phương thức lây truyền dịch, Sự phân bố dịch
theo thời gian, không gian, quần thể động vật
•
Để đi đến xây dựng được biện pháp phòng chống dịch
thích hợp.
150
•
Vậy, điều tra dịch tức là khảo sát sự phân bố của
bệnh theo thời gian, không gian (địa điểm), động
vật với các đặc tính: giống, loài, tuổi, tính biệt để
từ đó quy ra mối tương quan có thể có giữa các yếu
tố trên và sự phát sinh của vụ dịch.
•
Trước kia thuật ngữ “Dịch” chỉ để mô tả sự bùng nổ
cấp của các bệnh nhiễm khuẩn, các định nghĩa gần
đây đã nhấn mạnh vào khái niệm gia tăng tần số
mắc.
•
Vậy một vụ dịch của bệnh truyền nhiễm hay ký sinh
trùng là sự xuất hiện nhiều trường hợp đột ngột và
bất thường đối với một không gian và thời gian cụ
thể. Các trường hợp này có nguy cơ lan truyền,
chúng có một quan hệ logic đặc biệt.
•
Các bệnh dịch có khả năng xảy ra là: Bệnh dịch hay
gây tình trạng khẩn cấp như đã xảy ra trước kia,
hành của bệnh đó trong cùng một thời điểm ở khu
vực đó trong những năm trước (Cúm gia cầm, Lở
mồm long móng, Dịch tả lợn…).
•
Một vụ dịch không nhất thiết phải có số lượng lớn
các trường hợp bệnh, có những bệnh đã vắng mặt
nhiều năm thì chỉ một trường hợp bệnh xuất hiện
cũng được coi là có dịch (Cúm gia cầm, Nhiệt thán,
Ung khí thán…).
2.2. Xác đ
ị
nh ch
ẩ
n đoán
•
Nhiệm vụ đầu tiên của việc điều tra một vụ dịch là
phát hiện được nguồn truyền nhiễm, nghĩa là phải
chẩn đoán chính xác căn nguyên của bệnh và các yếu
tố lan truyền bệnh trong quần thể động vật, từ đó
mới có biện pháp phòng chống hữu hiệu.
•
Chẩn đoán trong một vụ dịch thường dựa vào:
Thăm khám lâm sàng: với các triệu chứng điển hình
hoặc không điển hình; các triệu chứng đặc biệt
Dịch tễ học: phát hiện nguồn lây từ đâu? Phương thức
lây lan, các yếu tố truyền bệnh (chú ý côn trùng, tiết
túc…), cường độ lan truyền bệnh. Đặc điểm của động
vật bệnh: loài, giống, tuổi, tính biệt…
khi xuất hiện các trường hợp có triệu chứng không
điển hình.
•
Phải nắm vững định nghĩa trường hợp bệnh và
những tiêu chuẩn ổ dịch để kết luận các ca bệnh
trong vụ dịch đó.
2.4. Xét các trư
ờ
ng h
ợ
p có s
ự
ti
ế
p xúc chung
•
Đây là phần cực kỳ quan trọng trong quá trình phân
tích vụ dịch. Phải tập hợp các ca bệnh lại theo thời
gian - địa điểm - đặc điểm của động vật giống nhau.
Giới hạn: Biết về thời gian khởi điểm của mỗi ca
bệnh có thể giúp ích cho xác định thời kỳ ủ bệnh. Ở
đây, điều rất quan trọng là việc thu thập các triệu
chứng phải thật cẩn thận, nhất là các triệu chứng
xảy ra trước khi xuất hiện triệu chứng điển hình.
Địa điểm: Nên cố gắng tìm sự liên hệ giữa những
trường hợp bệnh với thức ăn, nước uống, đồng cỏ,
khu vực chăn thả, phương thức chăn nuôi… trong
những vùng nhất định.
ch và ch
ỉ
đ
ạ
o đi
ề
u tra d
ị
ch t
ễ
h
ọ
c
•
Một điều quan trọng nữa là sử dụng những mẫu điều
tra chuẩn mực để điều tra ở những vùng có dịch.
Phương thức điều tra toàn bộ vụ dịch trên thực địa có
thể được tiến hành theo thể thức sau:
•
Bản chất bệnh: Tìm kiếm, thăm khám lâm sàng, Chẩn
đoán trong phòng thí nghiệm (phân lập mầm bệnh,
làm huyết thanh học…),Tập hợp các cá thể bị bệnh
Độ lớn vụ dịch và các nhóm động vật bị tấn công:
Thành lập các biểu đồ dịch, Thành lập các bản đồ
dịch tễ, Xác định các chỉ số mắc bệnh trong các
nhóm động vật, Điều tra hồi cứu, Điều tra huyết
thanh học, Theo dõi tiếp
Nguồn lây và phương thức lây: Tìm kiếm động vật
bệnh đó
2.9. Th
ự
c hi
ệ
n nh
ữ
ng bi
ệ
n pháp ki
ể
m soát
•
Nhiều biện pháp kiểm soát được sử dụng trong điều
tra dịch.
•
Trong trường hợp dịch xảy ra ở khu vực đã được
tiêm phòng bằng vacxin phải tiến hành đánh giá tình
trạng vacxin.
•
Nếu có nghi ngờ về chất lượng vacxin, phải tiến
hành tiêm chủng lại càng sớm càng tốt.
2.10. Vi
ế
t báo cáo
•
Soạn thảo báo cáo kết quả điều tra và đề xuất
những biện pháp phòng chống dịch
•
Đây là bước quan trọng cung cấp tư liệu điều tra,
Để có thể chẩn đoán chính xác và xác định được
phạm vi của ổ dịch ta cần lấy mẫu, chẩn đoán, xét
nghiệm bệnh.
Từ đó ra quyết định công bố dịch (tên bệnh, phạm vi
có dịch, các biện pháp cần thi hành)
3. Thi hành quyết định công bố dịch
Thành lập ban chống dịch
4. Bãi bỏ quyết định công bố dịch
VII. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CÓ THỂ DÙNG ĐỂ KHỐNG
CHẾ VÀ THANH TOÁN DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM
1. Để tự nhiên
•
Có thể để bệnh phát triển tự nhiên, thì sự lưu hành
của bệnh cũng sẽ tự giảm mà không cần tác động
gì bởi tỷ lệ bệnh có thể giảm do sự thay đổi của
tổng đàn giảm vì những con mắc bệnh đã bị chết
hoặc bị diệt hoặc do môi trường ngoại cảnh thay
đổi mà không cần sự can thiệp của con người.
•
Nhưng đây không phải là biện pháp hoàn chỉnh.
156
2. Cách ly
•
Đối với động vật nhiễm bệnh hoặc nghi ngờ nhiễm
bệnh hoặc chưa nhiễm bệnh, khi nhập đàn cần có
thời gian cách ly.
•
Điều trị những động vật mang trùng bằng các loại
thuốc để hạn chế sự lây lan của bệnh. Dùng kháng
sinh diệt mầm bệnh hoặc trộn vào thức ăn để tăng
khả năng chống bệnh và tăng khả năng sản xuất
của động vật nuôi.
•
Điều trị các vết thương, các vết cắn có thể là
nguyên nhân gây nên nhiễm trùng, dùng thuốc diệt
ký sinh trùng trên cơ thể động vật và chuồng trại.
•
Nhược điểm là nếu sử dụng không đúng liều lượng
kháng sinh và thuốc diệt ký sinh sinh trùng có thể
gây nên tính nhờn thuốc của vi sinh vật và ký sinh
trùng gây bệnh.
•
Dùng kháng huyết thanh để tạo miễn dịch nhanh và
tăng khả năng miễn dịch của cơ thể, nhất là đối với
những bệnh nguy hiểm.
6. Vận chuyển động vật
•
Trong thời gian có dịch, tuyệt đối không được vận
chuyển động vật ra vào vùng dịch.
•
Nếu bắt buộc phải vận chuyển cần chú ý tránh xa
những vùng đang có dịch bệnh, tránh không cho
phơi nhiễm với những nơi nghi có ô nhiễm mầm
bệnh.
158
7. Bãi chăn thả
•
Lựa chọn đàn giống tốt, vừa có tính sản xuất cao lại
vừa có khả năng đề kháng với ngoại cảnh và có
tính chống bệnh tốt.
•
Hiện nay, do áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến
vào sản xuất, con người đã chọn lọc, lai tạo được
nhiều giống gia súc, gia cầm mới có khả năng
chống đỡ, không mẫn cảm đối với một số bệnh.