Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Chương III.
THUỐC VÀ CÁC HÓA DƯỢC THƯỜNG DÙNG TRONG THÚ
Y
Nội dung chính của chương:
Thuốc và các hóa dược sử dụng trong thú y là một trong những nội dung quan trọng trong
thú y. Trong chương này bao gồm các nội dung chính sau:
- Những hiểu biết về thuốc
-Tác dụng của thuốc
-Phân loại nhóm thuốc
-Cách sử dụng của thuốc
-Các con đường đưa thuốc vào cơ thể
-Những mặt tồn tại khi sử dụng thuốc
-Tìm kiếm một số bài thuốc nam trong nhân gian để sử dụng, nâng cao hiệu quả kinh
tế, tránh những tồn dư hóa chất trong sản phẩm, thịt trứng sữa có hại cho sức khỏe cộng
đồng.
1. Đại cương chung về thuốc- Khoa học dược lý- thuốc
Pharmakon- từ tiếng Hy lạp cổ đại có nghĩa là thuốc- là một khoa học nghiên cứu bào chế,
tác dụng, cách sử dụng của thuốc.
Thực tế các thuốc được dùng trong thú y đã mang lại không ít hiệu quả chăn nuôi, góp phần
hạn chế bệnh tật nâng cao sức khỏe, góp phần cải tạo môi trường.
Nói chung tất cả các thuốc và hóa dược dùng trong thú y đều là những chất độc, một khi cá
tác dụng là sử dụng đúng liều lượng đúng thời gian và đúng mục đích.Nếu sử dụng không
đúng sẻ mang lại những kết quả xấu khôn lường.
Do tính chất đọc hại của thuốc mà người ta chia thuốc ra làm 2 bảng:
Độc bảng A: Những thuốc nằm trong bảng này có tính độc lực cao, bảo quản cẩn
thận, liều lượng khi dùng nhóm thuốc này phải hết sức chú ý.
Độc bảng B: Là những thuốc tác dụng mạnh, bảo quản cẩn thận tránh trộn lẫn với
nhau sinh ra các tác dụng phụ mất tác dụng của thuốc.
2.1. Thuốc tác dụng lên hệ thần kinh trung ương
Là tất cả những thuốc và hóa chất khi vào cơ thể tác dụng trực tiếp hay gián tiếp lên hệ thần
kinh trung ương.
Trong nhóm thuốc này người ta chia ra hai nhóm : - thuốc ức chế và hưng phấn thần kinh.
Những thuốc gây ức chế thần kinh là những thuốc nằm trong nhóm thuốc gây mê(narcose)-
hay thuốc gây giấc ngủ nhân tạo. Trong thú y được sử dụng để gây mê trong phẩu thuật,
trong vận chuyển gia súc tránh các tác nhânkích thích stress.
Những thuốc gây hưng phấn thần kinh-là những thuốc gây những kích thích hưng phần nhiều
hay ít đến hệ thần kinh trung ương. Làm cho khả năng hồi phục lại sau khi bị mệt mỏi như
Strichin, caffein, Camphora, Korazol
Tất cả những thuốc tác dụng lên hệ thần kinh, hưng phấn hay ức chế đều là những thuốc gây
nghiện cho cơ thể.
Một số thuốc trong nhóm này: Axit barbitura, Thiopental, Hecxenalum, Phenobarbitalum,
Chuoralum hydratum Chloroformium, Ethel, Phthorothanum
Thuốc gây tê: -là những thuốc ức chế quá trình dẫn truyền xung động thần kinh. Trong thú y
và y học thuốc được sử dụng như những chất gây tê trong phẩu thuất , phong bế thần kinh,
giảm đau Ví dụ: Aminazin,Triftazinum, Kalibromat
Thuốc chóng co dật: Dipheninum, hecxamidium, Morphini hyđrochlỏium
Thuốc hạ nhiệt: cơ chế tác dụng hạ nhiệt của nhóm thuốc này được giải thích khác nhau
nhưng chung qui là là những thuốc tác dụng lên trung khu điều hòa thân nhiệt. Tất cả các
thuốc này đều nằm trong nhóm thuốc Axit Salicilic, ngoài tác dụng hạ nhiệt thuốc này còn có
tác dụng kìm khuẩn nên nó được dùng như là những thuốc chống viêm diệt khuẩn. Như:
Paracetamol, pirazol, Antipirin, analgin
2.2. Thuốc kháng sinh:
Thuốc kháng sinh-Antibiotic- là những chất được bào chế từ những vsv, động vật thực vật có
khả năng diệt khuẩn hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn trong cơ thể động vật. Ngày nay,
kháng sinh như một cứu cánh để chống lại sự nhiễm trùng, hay nói cách khác là những thuốc
dùng để phòng và điều trị các bệnh truyền lây, kích thích sinh trưởng vật nuôi.
Thuốc kháng sinh có những mặt lợi sau đây:
-Cơ chế tác dụng đặc biệt
-Kháng sinh bán tổng hợp
Các loại vi sinh vật khác nhau đều sản sinh ra các loại kháng sinh khác nhau
Theo tính chất chữa bệnh:
-Nhóm kháng sinh thông dụng, như penicillin, streptomycin,Ampicilin
-Nhóm kháng sinh không thông dụng
Theo cơ chế tác động:
Theo cách này kháng sinh được chia ra làm bốn nhóm chính
-Kháng sinh kìm hảm tổng hợp vách tế bào vi khuẩn
-Kháng sinh làm tăng thẩm thấu màng tế bào
-Kháng sinh kìm hảm tổng hợp protein
-Kháng sinh tác động lên di truyền, Là những chất có tính chất ái lực cao đối với
ADN, ngăn cách quá trình chia đôi của hai sợi xoắn kép, phong tỏa hệ thống enzym của vi
khuẩn.
Phân loại theo họ:
Tùy theo bản chất hóa học của các chất kháng sinh mà được chia ra các họ. Hiện nay, quan
điểm này được coi như hoàn chỉnh nhất.
-Họ aminosid (streptomycin, kanamycin,gentamycin )
-Họ Tetracyclin (Teracyclin, oxyteracylin, domycilin )
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
27
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Nhóm Chloraphenicol- Đây là nhóm thuốc cầm dùng trong thú y, thủy sản nhưng
vẫn được dùng trong nhâny.
-Các Sunfamid
-CácNitrofuran
-Họ beta-lactam (penicillin,ampicilin )
-Các dẫn xuất của axid Izonicotic
Những nguy cơ của việc tồn dư kháng sinh tới sức khỏe cộng đồng
Do việc sử dụng kháng sính rộng rãi, để điều trị bệnh và làm phụ gia cho thức ăn gia súc,
không thể không tìm thấy tồn dư kháng sinh ở thực phẩm có nguồn gốc động vật. Những
Colistin. Khả năng diệt khuẩn ở nồng độ thấp dễ dung nạp thuốc, tránh được hiện tượng
kháng thuốc.
Lincoseptin: Được coi là kháng sinh tốt thay thế cho penicilin, có tác dụng tiêu diệt trên
nhiều chủng tụ cầu, liên cầu, các trực khuẩn Gram+ và Mycoplasma, nó hấp thu tốt vào các
tổ chức mô nhất là mô xương, sự đề kháng của vi khuẩn xuất hiện chậm.
Thuốc đặc trị hội chứng tiêu chảy, viêm ruột phân trắng lợn con, phó thương hàn, viêm phổi
viêm phế quản phổi
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
28
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Supermotic: Là một kháng sinh tổng hợp bao gồm 3 loại kháng sinh: Doxycyclin,
Dexamethazol, Tylosin, tiamulin. Là một kháng sinh có phổ tác dụng mạnh bao trùm tiêu
diệt nhiều loại vi khuẩn. Kháng sinh này có khả năng thấm sâu và đạt nồng độ cao trong máu
cũng như trong các tổ chức, thời gian tác dụng kéo dài do đó thích hợp với điều trị bệnh
nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa tiết niệu sinh dục
Kânmulin: Thành phần gồm có: Tiamulin hydrosulphat, kânmycin sulphat. Sự kết hợp hai
kháng sinh tạo cho chế phẩm Kânmulin có khả năng tiêu diệt được nhiều mầm bệnh gây ra ở
gia súc, gia cầm, đặc trị là bệnh viêm ruột gây xuất huyết, bệnh nhiễm trùng máu.
Tylosin: Là một kháng sinh nhóm macrolid, có tác dụng trên nhiều trực khuẩn Gram+ vibrio
coli, trực khuẩn gây thối loét da thịt. Nhờ có sự kết hợp hai loại kháng sinh Tylosin và
Doxycyclin đặc hiệu mà hợp đồng tác dụng, cộng với kỷ thuật bào chế khác biệt giúp cho các
thành phần hợp chất hấp thu nhanh, tác dụng tốt hiệu quả điều trị cao.
Kháng sinh được dùng với các liều lượng tiêu chuẩn như : UI, đơn vị quốc tế, mg miligram,
ml/kg thể trọng cơ thể.
2.3.Nhóm thuốc đông dược -hay còn gọi là thuốc nam
Nước ta có rất nhiều cây thuốc, ông cha ta đã biết dùng để chữa bệnh không những cho con
người mà còn cho các loại vật nuôi. Thuốc nam vô cùng tiện lợi, giái thành rẻ dễ kiếm, mà
không gây đọc hại cho cơ thể.
Thuốc nam có nguồn gốc thực vật như: rễ, thân lá, hoa củ quả, hạt.
Thuốc có nguồn gốc động vật như: rắn, rết, tắc kè ve sầu
chất, tiện lợi cho người tiêu dùng hiệu quả cao trong điều trị. Đây cũng là một hướng đi cúa
ngành Đông dược thú y, nhằm tạo ra những sản phẩm thuốc có chất lượng cao, hiệu quả điều
trị tốt.
Một số bài thuốc nam thông dụng:
- Thuốc giải cảm: Lá tía tô chữa cảm , chống nôn. Lá sả chữa chướng hơi, tăng cường
tiêu hóa.
-Thuốc chống nôn: Cây bán hạ (họ củ ráy) thân rể phình to thành củ, chống nôn, chữa
ho. Gầng chữa chứng đau bụng khó tiêu.
-Thuốc nhuận tràng: Hạt cây ba đậu họthầu dầu. Chữa táo bón, khó thở: 10-20 gam
cho bò, 1-2 gam cho lợn, sao đen cháy sắc lấy nước cho uống. Chú ý gia súc có chữa không
được dùng, nếu bị ngộ độc thì cho con vật uống nước đậu xanh. Cây võ đại: Họ trúc đào làm
cảnh ở các đình chùa, cây cao. Dùng võ cây chữa táo bón.
-Chữa tiêu chảy: Các cây thuốc có vị đắng chứa hàm lượng chất tanin cao, làm se
niêm mạc ruột, ngăn trở quá trình tiết nước của tế bào ruột. Như: lá, búp ổi non, lá sim non,
lá cây mui.
Chống nhiễm trùng: Thuốc rữa vết thương, sát trùng vết thương:Lá trầu 100g + phèn
chua 20g + nước 1l. Lá trầu dã nhỏ, đun sôi trong nước, sau đó cho phèn chua vào, lọc lấy
nước để rữa vết thương do xây xát, trợt ngã trâu bò do húc nhau có vết thương.
-Cầm máu: Cỏ nhọ nồi 100g + lá trắc bá diệp 100g + lá thân cây ngãi cứu 100g. Tất
cả đem sao cháy giả thành than, đắp lên vết thương cầm máu. Nếu vết thương chảy máu liên
tục có thể dùng: hạt cau khô 100g + lá trầu 100g + mốc cây cau100g tất cả đem giả nhỏ trộn
với bồ hóng bếp. Rắc lên vết thương cầm máu.
-Bong gân hay chạm xương: Con vật do lao tác mạnh hay bị sập ngã, bong gân (loại
trừ gảy xương, trật khớp). Lá si + lá ngải cứu + lá cúc tần tỷ lệ như nhau dả nhỏ rồi cho thêm
một ít dấm ăn, đun nóng lên rồi để nguội đắp vào chổ bong gân.
-Trị rắn độc cắn: Khi gia súc bị rắn độc cắn, buộc trên vết thương 3-5 cm để hạn chế
nộc rắn độc la tỏa. Lấy một sợi long đuôi bò kéo qua lại chổ vết thương do rằn cắn, để lấy
răng phụ của rắn và mỡ rộng vết thương, nặn máu. Sau đó dùng: Hạt đậu lào cắt đốt dán chặt
vào vết thương. Tiếp theo dùng một trong cây thuốc sau: Cây xương cá, lá bong vang, lá sòi,
lá sắn dây tất cả trộn với nhau cho con vật bị rắn cắn ăn và đập nát đắp lên vết thương. (Bài