• Sinh sản: Trong tự nhiên cá cá sinh sản từ tháng 5-6. Nuôi ao có thể cho
đẻ nhân tạo sớm từ tháng 3 và đẻ nhiều lần trong năm. Cá cái 3 tuổi, cá
đực 2 tuổi bắt đầu thành thục sinh dục.
2. Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)
• Phân bố: Tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Hiện
nay có hơn 100 loài, trong đó có 3 loài lớn nhất và có giá trị kinh tế nhất là
M. americanum phân bố các lưu vực phía tây châu Mỹ, M. carcinus gặp
các ở các vùng tiếp giáp Đại Tây Dương và M. rosenbergii hiện diện khắp
vùng Nam và Đông Nam Á châu, Bắc châu Đại Dương và các quần đảo
phía tây Thái Bình Dương. Tôm sống ở nước ngọt và nước lợ. Phạm vi
phân bố tự nhiên phụ thuộc vào độ mặn và độ
phèn. Ở Việt nam, tôm
sống tập trung tại đồng bằng sông Cửu Long. Trên thế giới tôm tập trung
ở khu hệ Ấn Độ Dương, Tây nam Thái Bình Dương. Hiện nay tại đồng
bằng sông Cửu Long, tôm càng xanh được nuôi phổ biến trong ruộng lúa,
ao, mương vườn.
• Khả năng thích ứng: Khả năng chịu đựng nhiệt độ của tôm từ 26 -31oC.
Nhiệt độ dưới 14oC hoặc trên 35oC thường gây nguy hại cho tôm. Tôm
trưởng thành có khả năng sống ở độ mặn 5-28%o. Ấu trùng sống ở độ
mặn 8-18%o. pH thích hợp cho tôm từ 7-8.5. Hàm lượng Oxy hòa tan
thích hợp phải lớn hơn 3mg/l, nếu thấp hơn tôm sẽ yếu dần và chết.
• Dinh dưỡng: ở giai đoạn ấu trùng tôm ăn liên tục. Thức ăn chủ yếu là giáp
xác nhỏ, đặc biệt là Artemia. Ngoài ra tôm còn ăn các loại thức ăn khác
như cá, tép, trứng, bột đậu nành Đến giai đoạn hậu ấu trùng và tôm
lớn, tôm thường ăn thức ăn có nguồn gốc động vật, giáp xác, ấu trùng
côn trùng, các loài thực vật Tôm có thể ăn lẫn nhau khi trong môi
trường thiếu thức ăn và tôm lột xác dễ
bị tôm khỏe mạnh ăn thịt. Tôm có
tập tính ăn về đêm.
• Sinh trưởng : Tôm càng xanh sống trong môi trường nước ngọt trong các
sông, ao, hồ đến mùa sinh sản tôm bơi xuôi dòng nước ra ngoài cửa
sang một số nước châu Âu, châu Á, đặc biệt là các nước vùng
Đông Nam Á như Ấn Độ, Thái Lan, Bangladet, Myanmar,
Indonesia, Malaysia…
o Ở Việt Nam: Từ những năm của thập kỷ 1960, Việt Nam đã tổ
chức nghiên cứu, nuôi và thực hiện cấy ngọc ở các vùng đảo Cô
Tô, Minh Châu, Thanh Lân, Quan Lan đã thu được kết quả tốt. Trai
ngọc nước ngọt cũng được viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy sản
I nghiên cứu từ năm 1967 và thu được một số kết quả.
• Phân bố: Trong các loài trai nước ngọt, ta thường gặp 3 loài có giá trị kinh
tế là trai cánh đen Sinohyriopsis cumingii (Lea), trai cánh xanh Cristaria
bialata (Lea) và trai đồng Sinanodonta elliptica. Trong đó hai loài trai cánh
đen và cánh xanh được sử dụng làm làm nguyên liệu cấy ngọc.
o Trai cánh đen phân bố ở cá sông Cầu, sông Thương, sông Châu
Giang, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích Giang. Sông Lam (Nghệ
An). Đây là đối tương cấy ngọc tốt. Mùa vụ khai thác từ tháng 4-9.
Thịt làm thực phẩm, vỏ làm nguyên liệu khảm xa cừ.
o Trai cánh xanh phân bố nhiều ở sông Đáy, đầm Vạc (Vĩnh Phú).
Nhân dân nuôi cá vùng Phú Xuyên (Hà Tây), Thanh Trì (Hà Nội),
đầm Vạc (Vĩnh Phú) nuôi loài trai nầy kết hợp trong ao, đầm nuôi
cá để lấy vỏ và thịt. Đây cũng là đối tượng cấy ngọc nhưng vỏ
mỏng, mép màng áo dầy mỏng không đều.
o Trai đồng phân bố rộng khắp ở các thủy vực nước tỉnh, được khai
thác quanh năm để làm thực phẩm. Đây cũng là đối tượng nuôi cấy
ngọc, nhưng hiệu quả cho ngọc thấp.
• Dinh dưỡng: Trai ăn chủ yếu là thực vật phù du bao gồm các loài:
Crucigenra, Scenedesmus, Pedasstrum…Trai ăn thụ động, thức ăn được
hút theo nước qua ống si-phông đưa vào cơ thể. Vì thức ăn được lọc qua
mang vào dạ dày, nên được gọi là loài biện mang.
• Sinh trưởng: Trai nước ngọt là loài nhuyễn thể sống vùi mình trong bùn
đáy. Tốc độ sinh trưởng chịu ảnh hưởng do chất đáy và lượng thức ăn có
mặt nước. Ếch rất sợ rắn và chuột. Có thể xem chúng là địch hại của ếch.
• Dinh dưỡng : Ếch ăn cá, tép, cua, sâu bọ bắt mồi thụ động, thường ngồi
một chỗ để quan sát những con mồi di động, rình mồi và nuốt chửng con
mồi. Nó có thể nuốt được một con cua khá to. Nuốt mồi xong, ếch lại tiếp
tục ngồi rình con mồi mới.
• Sinh trưởng: Ếch sinh trưởng tương đối chậm. Con cái 1 tuổi nặng
khoảng 60gr. Con đực khoảng 50gr.
• Sinh sản: Phân biệt giới tính đực cái của ếch không khó. Ếch đực được
nhận ra nhờ túi âm thanh nằm ở hai bên hầu, hình thành nếp da nhăn
màu vàng đen. Ngoài ra ếch đực còn có “chai tay” tại gốc ngón tay thứ
nhất ở chi trước, hình thành một mấu lồi đã hoá sừng màu xanh đen., còn
được gọi là “chai sinh dục”.
Ếch đẻ trứng và thụ tinh ngoài. Trứng ếch được kết thành bè bằng một lớp
màng nhày nổi trên mặt nước. Tr
ứng nở ra nòng nọc sống hoàn toàn trong
nước. Khi nòng nọc biến thái thành ếch thì sống cuộc đời vừa ở cạn vừa ở
nước, nên còn được gọi là động vật lưỡng cư hay lưỡng thế.
1.2. Ba ba (Thuộc họ Trionychidae)
• Phân bố: Ba ba sống được cả mực nước dưới đáy sông, hồ sâu 4-5m.
Chúng thường tập trung nhiều ở những đoạn sông tiếp giáp với cửa các
dong keenhdaaxn vào đồng ruộng.
• Khả năng thích ứng: Nhiệt độ là yếu tố quyết định đến sự hoạt động, khả
năng ăn mồi, tốc độ sinh trưởng và thời gian sinh sảnh của ba ba. Ba ba
có tập tính trú đông. Vào mùa nầy ba ba ăn rất ít. Khi nhiệt độ xuống thấp
dưới 12oC ba ba ngừng ăn và ẩn mình dưới bùn Nhịn ăn 1 tháng không
chết, trong thời gian nầy tốc độ sinh trưởng của ba ba dừng lại.
• Dinh dưỡng: Thức ăn của Ba ba chủ yếu là cá, tép, cua, ốc, giun đất và
thịt các loài động vật khác. Chúng thích ăn thịt các con vật bắt đầu ươn.
Khi ăn chúng tranh mồi và mang ra chỗ khác ăn riêng. Chúng sẳn sàng ăn
đồng loại khi đói, con lớn ăn con nhỏ.
sau 6-8 tháng đạt trọng lượng 500gr đến 1kg.
• Sinh sản: Hầu hết các loài cá mú đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào
những tháng lạnh, nhiệt độ nước xuống thấp. Dođó tùy theo địa phương
mà mùa vụ xuất hiện cá gióng khác nhau. Ở vùng biển miền Trung Việt
Nam, loài cá mú nầy thường gặp ở vùng biển Bình Thuận, Khánh Hòa và
Qui Nhơn.
b. Cá mú vạch (E. brunneus)
• Phân bố: Đây cũng là loài cá mú có kích thước lớn. Cá sống ở vùng nước
ven bờ. Cơ thể có màu nâu, trên thân có đôi vạch ngang thân màu đen,
có 4 vạch phóng xạ chạy từ mắt đến mõm và phần sau của đầu. Những
vạch trên thân có thể biến mất khi cá có kích thước lớn hơn 60cm.
• Dinh dưỡng: Trong tự nhiên, cá giống ăn các loài giáp xác và các loài cá
nhỏ. Cá lớn bắt mồi có kích thước lớn hơn. Cá là loài hoạt động bắt mồi
về đêm, ban ngày cá ít hạt động, thường ẩn nấp trong các hang đá, các
rạn san hô, thỉnh thoảng mới đi kiếm mồi. Khi nuôi lâu, cá thích nghi với
điều kiện nhốt, cá ăn cả vào ban ngày.
• Sinh trưởng : Cá đánh bắt ở biển có chiều dài từ 40 - 90cm, cực đại
50cm.
• Sinh sản: Cá giống (có chiều dài 10 -15cm) thường sống ở vùng đầm phá
nước lợ. Cá lớn chỉ gặp ở biển, từ vùng biển Thừa Thiên cho đến Khánh
Hỏa. Cá xuất hiện quanh năm, nhưng tập trung từ tháng 2 - 6. Đây là loài
cá có số lượng giống nhiều hơn so với các loài cá mú khác.
c. Cá Mú chấm tổ ong - Honeycomb cod (E.merra)
• Phân bố: Cá phân bố ở vùng cửa sông và cửa biển. Cá giống xuất hiện ở
vùng biển miền Trung từ tháng 2 đến tháng 7.
• Dinh dưỡng: trong tự nhiên, chúng ăn giáp xác và các loài cá nhỏ.
• Sinh trưởng: Cá có kích thước trung bình, chiều dài cá khai thác dao động
từ 20 -30cm, cực đại là 50cm. Thân có nhiều đốm màu nâu vàng hình
nhiều cạnh. Ở vây cá các đốm nầy thường có màu đỏ.
rêu và mùn bã hữu cơ.
• Sinh trưởng: Cá nuôi 1 năm ở đầm đạt 300-400gr/con.
• Sinh sản: Cá măng đẻ trứng ngoài khơi, sau khi trứng nở cá con trôi dạt
vào bờ theo dòng triều vào đìa, đầm … nước lợ để sống. Khi trưởng
thành lại ra biển sinh sản. Cá sống trong đầm nước lợ vẫn phát dục. Cá
thành thục lúc 6 tuổi, con đực dài 94cm. con cái dài 100cm. lượng trứng
đẻ khoảng 3-4 triệu. Bãi đẻ ở độ sâu 30 - 40m.
1.4. Cá Cam - Yellow tail (Seriola spp)
• Phân bố: Ở Việt Nam thường gặp các loài cá cam Seriola dumerilii (cá bò
biển), S. nigrofasciata (cá cam sọc đen), S. aureovitatus (cá cam vàng,
trác đuôi vàng). Cá sống ở ven bờ, thường tập trung thành đàn ở tầng
mặt và tầng giữa.Cơ thể dẹp bên, thân dài có màu xám ở lưng, bụng
trắng bạc, có 2 gai ở trước vi hậu môn.
• Dinh dưỡng: Cá nhỏ ăn động vật phù du như Branchiomus, ấu trùng
nhuyễn thể, giáp xác. Cá trưởng thành ăn các loài cá nhỏ, một số động
vật thân mềm. Ngoài tự nhiên cá ăn giáp xác và cá nhỏ.
• Sinh trưởng: Kích thước cá khai thác cá khai thác dao động từ 30-50cm,
cực đại 70cm. Có tốc độ tăng trưởng khá nhanh. Cá nuôi 2 năm tuổi đạt
trọng lượng 2-3 kg/con.
• Sinh sản: Cá sinh sản ngoài biển khơi ở độ mặn 33-35%o, pH: 7-8, Oxy
hòa tan trên 4mg/l. Sau khi đẻ trứng nở thành con bám vào các vật trôi
nổi như rong rêu.
1.5. Cá ngựa -Seahorse (Hippocampus)
• Phân bố: Cá ngựa là loài phân bố rộng ở vùng biển nhiệt đứi và cận nhiệt
đới. Hiện nay trên thế giới có khoảng 28 loài. Ở Việt Nam cá ngựa phân
bố ở vùng vịnh Bắc bộ, ven biển miền Trung và vịnh Thái Lan. Các tỉnh
Bình Thuận, Khánh Hòa là nơi khai thác cá ngựa với sản lượng cao hơn
các tỉnh khác. Hiện nay đã phát hiện 4 loài cá ngựa sống ở vùng biển Việt
Nam: cá ngựa gai (Hippocampus histrix), cá ngựa ba chấm
• Dinh dưỡng: Tôm sặpn tạp thiên về ăn các loại động vật nhỏ như giun,
nhuyễn thể, cá, côn trùng, trong ruột tôm còn tìm thấy các mảnh thực vật,
bùn, cát. Tính ăn thay đổi theo từng giai đoạn. Ấu trùng Zoea (Z) ăn thực
vật phù du, ấu trùng Mysis (M) chủ yếu ăn động vật phù du. Hậu ấu trùng
Post larvae (Pl) ăn tạp, thiên về ăn động vật.
• Sinh trưởng: Ương Post larvae trong ao sau 25-30 ngày, tôm sú đạt cỡ 2-
3cm dài. Nuôi trong ao sau 4 tháng, tôm có thể đạt cỡ trung bình 25-
40gr/con. Tôm tăng trưởng qua nhiều lần lột xác và có tính chu kỳ.
• Sinh sản: Ngoài tự nhiên ở vùng biển miền Trung - Việt Nam, mùa sinh
sản của tôm sú từ tháng 2-5 và từ tháng 7-9. Ở các thủy vực miền Nam,
mùa sinh sản của tôm sú có thay đổi chút ít, tùy thuộc vào điều kiện thời
tiết thay đổi hằng năm. Sức sinh sản từ 300.000 - 1.000.000 trứng/con.
2.2. Cua biển (cua xanh, cua bể - Scylla serrata)
• Phân bố: Cua thường gặp ở các nước xung quanh Việt Nam như Trung
quốc, các nước ASEAN, châu Úc, Ấn Độ. Cua ưa sống vùng biển nông,
các cửa sông, eo vịnh nơi có nhiều mùn bã hữu cơ.
• Dinh dưỡng: Cua ăn tạp thiên về động vật. Thức ăn chủ yếu là nhuyễn
thể như trai, ốc, tôm con, cá con, mùn bã hữu cơ, xác động vật thối rữa.
Khi thiếu thức ăn chúng có thể ăn thịt lẫn nhau. Trước và sau khi lột xác,
biến thái, cua ngừng ăn.
• Khả năng thích ứng: Cua thịt thích sống ở những nơi có độ muối: 8 -
30%o. Nhiệt độ thích hợp 18-25oC. Ở 39oC hoặc dưới 12oC cua bỏ ăn.
• Sinh trưởng: Ấu trùng trãi qua nhiều lần lột xác để biế thành cua con 2-
3cm, sống ở các bãi trong rừng ngập mặn thuộc hạ triều. Nếu môi trường
đảm bảo, thức ăn thích hợp sau 20 -28 ngày cua lột xác một lần. Khi thiếu
một bộ phận của cơ thể cua có khuynh hướng lột xác sớm hơn.
• Sinh sản: Cua trưởng thành phát dục, giao vĩ và đẻ trứng trong vùng
nước lợ. Phôi phát triển và nở ra ấu trùng ở vùng biển sâu.
3. Nhuyễn thể (Mollusca)
Điệp có khoảng 300 loài là sản phẩm quí. Ở Việt Nam có 7 loài điệp, trong đó co
• Sinh trưởng: Vẹm tăng trưởng bình thường 3- 4cm/con/năm. Cá biệt có
con đạt 6-7cm. Vẹm tăng trưởng nhanh từ tháng 10 - tháng 3 năm sau.
Nuôi 1 năm thì thu hoạch.
• Sinh sản: Mùa sinh sản của vẹm từ tháng 10-11, mùa phụ từ 3-4.Vẹm
giống xuất hiện vào tháng 4-5. Ấu trùng vẹm sống trôi nổi, khi tìm được
vật bám, chúng bám vào và phát triển thành vẹm lớn. Có khi bám 50-
60con/cọc.
3.3. Ốc hương (Babylonia areolata)
• Phân bố: Ốc sống ở các vùng bãi triều thềm lục địa, xa bờ 8-15km, độ sâu
8-25m. Sống nơi đáy cát bùn, khi gặp mồi thích hợp ốc hợp thành đàn để
rúc, rỉa. Ở Việt Nam ốc phân bố dọc ven biển Thanh Hóa, Nghệ An Hả
Tĩnh, Quảng Bình và một số tỉnh thuộc phía Nam Trung bộ.
Mùa vụ khai thác chính vào tháng 1- 4 âm lịch, mùa phụ tháng 10-12 âm lịch.
3.4. Trùng trục (Sinonovacula constricta)
• Phân bố: Ở Việt Nam trùng trục phân bố ở bãi triều Quảng Ninh, từ Hải
Phòng đến Thanh Hóa.
• Khả năng thích ứng: Trùng trục chịu được nhiệt độ từ 0-39oC, độ muối 7-
30%o, tốt nhất là 10-24%o. Sống nơi chất đáy bùn cát, bùn mềm.
• Dinh dưỡng : Trùng trục ăn lọc, thức ăn là tảo đơn bào, tảo khuê sống ở
đáy.
• Sinh trưởng: Trùng trục cỡ 1 tuổi chiều dài thân đạt 4-5cm, lớn nhất
khoảng 6cm, nặng 10grs, đến năm thứ tư dài 8cm, hơn 5 năm dìa 12cm.
• Sinh sản: Trùng trục 1 năm tuổi thì thành thục, chiều dài vỏ 2,5cm thì có
thể đẻ được
3.5. Bào ngư (Haliotis spp)
• Phân bố: Trên thế giới có 75 loài bào ngư, trong đó có 20 loài có giá trị
kinh tế được nuôi và phát triển rộng. Ở Việt Nam bào ngư được tìm thấy
tại Quảng Ninh, hải Phòng, Khánh Hòa, Côn Đảo, Phú Quốc, đảo Thổ
Chu.
ển
thường xuyên của nước. Nước tù đọng hoặc di chuyển kém sẽ làm rong chậm
phát triển. Nước có nhiều chất bẩnkết hợp với nhiệt độ cao và hàm lượng chất
dinh dưỡng thấp, rong sẽ dần dần tàn lụi.
Gió tạo dòng chảy thích hợp, rong phát triển tốt. Gió mạnh làm hỏng công trình
trồng rong.
• Dinh dưỡng: Rong sụn hấp thu các hợp chất muối nitơ và phospho,
nhưng yêu cầu hàm lượng các muối nầy không cao. Phân chuồng, phân
hữu cơ, phân đạm, phân lân được bón để nuôi rong.
• Sinh trưởng: Rong có tốc độ tăng trưởng 10%/ngày, tốc độ tăng trọng
hằng tháng nhanh 8-10 lần.
Đặc tính môi trường ao nuôi cá
1. Tổng quan về môi trường nước
Môi trường nước (aquatic environment) là môi trường sống chủ yếu của các đối
tượng thủy sản. Tùy theo đặc điểm sinh học của từng đối tượng nuôi mà đì hỏi
môi trường nước khác nhau. Đối với thủy sản, môi trường nước thường được
chia thành 3 loại dựa theo nồng độ muối:
Môi trường nước mặn: S%o từ 30 - 40 %o và cũng là nồng độ muối của nước
biển. Thích hợp cho nuôi các loại cá, tôm biển và rong biển.
Môi trường nước lợ: S%o từ 0,5 - 30 %o, chủ yếu là vùng cửa sông ven biển
và có nguồn nước lợ từ trong nội đồng đổ ra và chịu ảnh hưởng của thủy triều và
nước mưa, nồng độ muối thay đổi theo mùa. Thích hợp cho các loài cá, tôm có
tính rộng muối.
Môi trường nước ngọt: S%o < 0.5%o, chủ yếu là vùng nội địa.
2. Bản chất vật lý của nước
2.1. Nhiệt độ
Ao trong thì độ đục dưới 25 mg/l; ao vừa độ đục từ 25 - 100 mg/l và ao đục độ
đục trên 100 mg/l
2.3. Màu sắc
Nói chung nước thiên nhiên sạch thì không có màu, nhưng trên thực tế nước
thiên nhiên trong các thủy vực luôn có màu do sự hiện diện của các chất hữu cơ
hòa tan và không hòa tan, của tảo… Trong các ao nuôi cá, màu sắc của nước
chủ yếu do tảo t
ạo ra như màu nâu, màu xanh,…
3 Bản chất hóa học của nước
3.1. Oxy hòa tan
Oxy là yếu tố cần cho hô hấp của cá và được tính bằng mg/l hay ppm. Nhu cầu
oxy của các loài khác nhau cũng khác nhau. Ví dụ cá đen (cá lóc, trê,…) thì nhu
cầu oxy thấp hơn cá trắng ( mè vinh, trắm cỏ,…). Ngoài ra, trong môi trường
oxy còn cần cho quá trình phân hủy các vật chất hữu cơ có trong thủy vực (chất
thải của cá, thức ăn dư thừa,…)
Trong môi trường oxy có được nhờ khuyếch tán trực tiếp từ không khí; quang
hợp của thủy sinh vật và tác động cơ học (gió, sục khí,…) và mất đi qua hô hấp
của thủy sinh vật và phân hủy của chất hữu cơ. Trong ao nuôi vào ban ngày thì
quá trình quang hợp xảy ra nhanh hơn quá trình hô hấp nên hàm lượng oxy
tăng, cò ban đêm thì ngược lại.
Oxy từ:
• 0 - 0.3 mg/l à Cá con có thể sống nếu nhiệt độ thấp
• 0.3 - 1 mg/l à Tôm, cá có thể chết nếu nhiệt độ cao
• 1 - 5 mg/l à Tôm, cá sống nhưng phát triển chậm
• > 5 mg/l à Nồng độ lý tưởng đối với tôm, cá
3.2. Nồng độ muối
Nồng độ muối có nghĩa là tổng hợp các ion trong nước (Boyd 1990). Nồng độ
muối được tính là g/l. Nước biển có nồng muối là 34%o và nước ngọt là nhỏ
hơn 2%o. Dựa vào độ mặn có thể phân thành nhiều loại thủy vực khác nhau