VẤN ĐỀ GIAO TIẾP TRONG TÂM LÝ Y HỌC Mục tiêu học tập
1. Trình bày được những khái niệm, nội dung và đối tượng về giao tiếp.
2. Phân biệt hoạt động giao lưu , giao tiếp. .
3. Trình bày được tâm lý học giao tiếp là cơ sở để xác định mối quan hệ nghĩa vụ và đạo
đức của thầy thuốc nhân viên y tế với bệnh nhân và cộng đồng.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP
1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân với nhau xuất phát từ
nhu cầu phối hợp hành động và hoạt động.
- Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt
động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác.
- Giao tiếp có ba khía cạnh chính : giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác.
Mặt giao lưu của giao tiếp gắn liền với việc tìm hiểu những nét đặc thù của quá trình trao
đổi thông tin giữa người với người trong danh nghĩa là chủ thể tích cực, có nghĩa là khảo
sát thái độ của cá nhân, tâm thế, mục đích, ý định của họ nhằm thiết lập không chỉ vận
động đơn thuần của thông tin mà còn bổ sung, làm giàu thêm những tri thức, vốn sống
cần thiết cho các thành viên trong quá trình giao tiếp. Ngôn ngữ là phương tiện giao lưu
chủ yếu. Cùng với ngôn ngữ là hệ thống quang học vận động ( nét mặt, điệu bộ cử chỉ, lời
ăn tiếng nói ) các yếu tố ngôn ngữ và siêu ngôn ngữ ( giọng nói , sự ngắt đoạn ), cấu
trúc không gian và thời gian của hoàn cảnh giao tiếp, hệ thống tiếp xúc “ bằng mắt “.
- Một khía cạnh quan trọng khác của quá trình giao tiếp là sự ảnh hưởng, tác động lẫn
nhau giữa các thành viên, xây dựng hình ảnh tinh thần của mỗi người trong quan niệm
của những người khác ( nhân cách hóa ). Trong trường hợp này ngôn ngữ thống nhất và
sự hiểu biết về hoàn cảnh xảy ra là điều kiện cần thiết đảm bảo hiệu quả tác động lẫn
nhau.
- Hai xu hướng giao tiếp thường thấy nhất là sự hợp tác và cạnh tranh, tương ứng với
chúng ta là các hiện tượng quen thuộc như đồng tình hay xung đột.
quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội thành bản chất người, tâm lý con người.
2.2.Hoạt động và tâm lý
2.2.1.Khái niệm chung về hoạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người .Hoạt động bao gồm các quá trình bên
ngoài ( chủ thể tác động vào đối tượng bên ngoài) và quá trình bên trong ( tác động vào
quá trình tinh thần, trí tuệ). Trong đó con người tác động qua lại với nhau với tự nhiên, xã
hội và với chính mình, biến các phẩm chất tâm lý thành hiện thực nhằm cải tạo tự nhiên
xã hội và hoàn thiện cá nhân mình. Ngược lại chủ thể có thể bóc tách chiếm lĩnh các
thuộc tính của sự vật và hiện tượng khách quan biến thành tâm lý riêng, thành vốn liếng
và kinh nghiệm để hình thành nhân cách cá nhân mình.
2.2.2 Những nét đặc trưng của hoạt động
- Hoạt động có đối tượng
- Hoạt động do chủ thể con người tiến hành .
- Hoạt độ
ng vận hành theo nguyên tắc gián tiếp thông qua công cụ ( công cụ kỹ thuật, ký
hiệu tâm lý )
- Hoạt động bao giờ cũng có mục đích nhất định .
2.2.3 Phân loại hoạt động
- Phân theo quan hệ chủ thể và đối tượng hoạt động :
Có hoạt động lao động ( người với vật ), hoạt động giao tiếp ( người với người ).
- Phân theo sự phát triển của cá thể : là những hoạt động phát triển kế ti
ếp gồm hoạt động
vui chơi, hoạt động học tập và lao động.
-Theo một số cách chia khác:
+ Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn
+ Hoạt động biến đổi
+ Hoạt động nhận thức
+ Hoạt động định hướng giá trị
+ Hoạt động giao lưu
2.2.4 Cấu trúc của hoạt động
- Các loại giao tiếp :
+ Theo phương tiện giao tiếp có :
* Giao tiếp vật chất
Thông qua hành động vật chất cụ thể. Khi giao tiếp con người có thể sự dụng
những công cụ, sản phẩm vật chất của lao động, những kỷ vật, tặng phẩm. Trong từng v
ật
thể có sự hội nhập văn hóa, xã hội, trí tuệ, cảm xúc…của loài người. Khi giao tiếp bằng
vật chất cụ thể, con người chỉ cho nhau biết những tinh túy mà lời người gởi gắm ở trong
đó, trao đổi cho nhau những thông tin, rung cảm, kinh nghiệm…về vật thể đó, từ đó chủ
thể và khách thể thực hiện mục đích, nội dung giao tiếp.
* Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ ( thông qua cử chỉ, điệu bộ )
Khi giao tiếp, con người sử dụng những cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt…để thể
hiện sự đồng tình hay phản đối, thân thiện hay khó chịu, hiểu biết sâu sức hay nông
cạn…Ngoài ra con người còn sử dụng những ký hiệu quy định chung cho từng nhóm xã
hội, như biển báo giao thông, ký hiệu thông tin bằng tay cho những người câm điếc,
những ký hiệu dành riêng cho hai người.
* Giao tiếp bằng ngôn ngữ
Một trong những ưu thế của con người so với con vật là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là
sản phẩm tiến hóa của xã hội loài người và trở thành công cụ giao tiếp cơ bản của con
người. Bằng ngôn ngữ trong giao tiếp, con người có thể trao đổi với nhau tất cả những
hiểu biết, tình cảm thái độ…mà mình thấy cần thiết
+ Theo khoảng cách
* Giao tiếp trực tiếp
Chủ thể và đối tượng giao tiếp mặt đối mặt với nhau, trục tiếp phát và nhận thông
tin của nhau. Khoảng cách giữa chủ thể và đối tượng rất gần nhau.
* Giao tiếp gián tiếp
Khi chủ thể và khách thể ở xa nhau, họ phải dùng những phương tiện cụ thể để
giao tiếp với nhau, như qua thư từ, báo chí, qua người khác, bằng tình cảm.
* Giao tiếp trung gian
Đây là loại giao tiếp vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, như nói chuyện, trao đổi với
Sơ đồ tổng quát về sự hình thành và phát triển tâm lý người : II. MỐI QUAN HỆ GIỮA THẦY THUỐC, NHÂN VIÊN Y TẾ VỚI BỆNH
NHÂN VÀ CỘNG ĐỒNG
1. Quá trình giao tiếp
1.1. Đặc điểm quá trình giao tiếp
Giao tiếp là quá trình và điều kiện tất yếu để hình thành và phát triển tâm lý. Là hoạt
động xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người và người ( bệnh nhân và thầy
thuốc), giữa con người với xã hội nhằm thực hiện tốt các mối quan hệ đó vì mục đích
phục vụ con người và sự tiến bộ của xã hội.
- Đặc đ
iểm của giao tiếp :
+ Đối tượng giao tiếp là người này với người khác.
+ Những người tham gia vào quá trình giao tiếp thường tác động lẫn nhau và chịu ảnh
hưởng của nhau về mặt tâm lý và ý thức.
1.2.Các hình thức giao tiếp
+ Căn cứ vào nội dung .
* Thông báo thông tin
* Thay đổi hệ thống động cơ niềm tin.
công tác của thầy thuốc cộng đồng.
4. Mối quan hệ giữa thầy thuốc, nhân viên y tế với bệnh nhân
4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giao tiếp
4.1.1.Những yếu tố thuộc về nét đặc trưng chung của giao tiếp
- Loại hình giao tiếp chủ yếu giữa thầy thuốc và bệnh nhân và giao tiếp chính thức. Về cơ
bản, mục đích, chức năng, phương hướng, nhiệm vụ…của hoạt động giao tiếp được xác
định trước và đáp ứng với yêu cầu của hoạt động khám, chữa bệnh. Cũng thể nói đây là
loại giao tiếp công việc.
- Chủ thể và khách thể giao tiếp là những cá nhân hoặc nhóm xã hội nhất định. Họ có
những “ vai diễ
n “ khác nhau trong quá trình giao tiếp, song phần lớn là quan hệ giữa một
bên là nhân viên y tế và một bên là bệnh nhân.
- Các phương tiện giao tiếp được sử dụng một cách tổng hợp, song phương tiện chủ yếu
vẫn là ngôn ngữ. Uy tín, phong cách công tác của thầy thuốc đôi khi đóng vai trò quyết
định đến kết quả giao tiếp.
4.1.2. Những yếu tố thuộc về bản thân chủ thể và đối tượng giao tiếp
- Vốn hiểu biết chung, trình độ hoạt động chuyên môn, năng lực chung của chủ thể và
đối tượng giao tiếp sẽ làm nền cho quá trình giao tiếp.
- Sự thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ…giao tiếp của chủ thể và đối tượng nhằm đạt đến
một kết quả tối ưu trong phòng và chữa bệnh thường làm cho sự giao tiếp không chệch
hướng, không bị các rối nhiễu chi phối.
- Nhân cách của cá nhân hoặc nh
ững đặc trưng về uy tín, về không khí tâm lý trong nhóm
…sẽ là những điều kiện thiết yếu tạo nên hiệu quả của giao tiếp.
- Kỷ năng, kỷ xảo, kinh nghiệm sử dụng các phương tiện, hình thức giao tiếp cũng như
khả năng duy trì sự liên tục quá trình giao tiếp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cuối
cùng của giao tiếp.
- Sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật giao tiếp của cả chủ thể và đối tượng sẽ làm cho
quá trình giao tiếp đạt kết quả tối ưu.
- Những đặc điểm, thể chất của cá nhân ( khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười…), những hình
4.3. Thái độ của bệnh nhân
Bệnh nhân (người bệnh) là người bị thương tổn thực thể hay cơ năng ở một bộ phận hay
nhiều bộ phận ở cơ thể, làm ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường do đau đớn, khó chịu.
Có những bệnh tự qua khỏi nhưng cũng có nhiều bệnh nếu không chạy chữa đúng mức sẽ
dẫn đến tử vong hoạt tàn phế.
Nghiên cứu thái độ bệnh nhân thầy thuốc cần chú ý quan sát :
- Bệnh nhân muốn gì:
Khi bị bệnh, bệnh nhân rất lo âu cho mình và cho gia đình mong muốn được chữa
khỏi bệnh một cách nhanh chóng để trở lại cuộc sống bình thường. Họ sợ nhất là phải
nằm viện, sợ mắc bệnh nặng không cứu chữa được hoạt để lại di chứng, hoặc tàn phế.
Thầy thuốc cần giải tỏa tâm lý bệnh nhân, tạo cho họ niềm tin sẽ được chữa khỏi bệnh.
- Bệnh nhân sẵn sàng trình bày bệnh của mình cho thầy thuốc biết vì lo sợ, vì bệnh hành
hạ đau đớn và vì không phải lúc nào cũng được tiếp xúc, gần gũi với thầy thuốc.
Thầy thuốc cần kiên nhẫn lắng nghe, nghe một cách chu đáo.
- Bệnh nhân rụt rè, e thẹn :
Trước thầy thuốc, bệnh nhân thường có tâm lý phức tạp, vừa muốn trình bày mọi điều
với thầy thuốc nhưng cũng có khi lại e thẹn, rụt rè nhất là những người mắt các bệnh
truyền nhiễm do lối sống .
Thầy thuốc cần thông cảm và tế nhị giữ những điều kín đáo cho họ nếu họ có ý yêu cầu.
- Bệnh nhân quan sát và nhận xét :
Khi vào viện , bệnh nhân bị tách khỏi đời sống bình thường tiếp xúc với môi trường mới
, họ bắt đầu quan sát , theo dõi các hoạt động của thầy thuốc và nhân viên y tế, quan sát
hoạt động của bệnh viện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua giao tiếp những ấn tượng tốt
xấu của người bệnh ảnh hưởng rất lớn tới quá trình chữa bệnh, có thể lạc quan tin tưởng,
cũng có thể định kiến mất niềm tin.
Thầy thuốc phải để lại cho người bệnh những ấn tượng tốt bằng chính thái độ ân cần và
hết lòng vì người bệnh, quan tâm thực sự tới hạnh phúc của người bệnh.
- Lòng tin của người bệnh :
Thông thường bệnh nhân nằm bệnh viện , hoặc tìm đến thầy thuốc họ đều có niềm tin sẽ
được
niềm tin tưởng lạc quan.
Thái độ đúng đắn và tự tin của thầy thuốc tăng sự kính trọng và yên tâm của bệnh nhân.
Thầy thuốc phải có thái độ thật thà khiêm tốn, thương yêu và thông cảm với những bất
hạnh của người bệnh quan tâm tới hạnh phúc của họ, gần gũi và lắng nghe ý kiến của họ.
Tránh thái độ ban ơn, xa lánh khó chịu gay gắt với họ.
4.4. Tranh thủ tình cảm và lòng tin của bệnh nhân
Bệnh nhân sẵn có niềm tin, tình cảm và sự kính trọng đối với thầy thuốc. Cần tranh thủ
tình cảm và lòng tin của họ.
Thực sự quan tâm tới hạnh phúc người bệnh, chú ý các đặc điểm tâm lý người bệnh, lắng
nghe ý kiến của người bệnh, yêu nghề và có tâm hồn, khắc phục mọi khó khăn gần gũi và
cuốn hút họ đến với mình sẽ tranh thủ được tình cảm và niềm tin của bệnh nhân.
3.4.4. Biết tiếp xúc với bệnh nhân
Tiếp xúc tốt với bệnh nhân là điều kiện quan trọng để biết được tình trạng và diễn biến
của bệnh. Muốn tiếp xúc dễ dàng thầy thuốc phải nghiên cứu và biết được tâm lý người
bệnh ( tính cách, khí chất ), biết các biểu hiện rối loạn tâm lý do tình trạng bệnh gây ra,
biết được mối quan hệ của họ, nắm được tâm tư nguyện vọng của họ để có thái độ cư xử,
giao tiếp khơi dậy niềm tin và cuốn hút họ.
4.5 Biết tác động vào tâm lý bệnh nhân
-Tác động có mục đích vào tâm lý bệnh nhân tạo những điều kiện thuận lợi cho quá
trình chữa bệnh là việc rất quan trọng cho mọi thầy thuốc. Phải biết tác độ
ng tích cực
vào từng đối tượng, đó là công việc đòi hỏi thầy thuốc phải có kiến thức tâm lý xã hội
đầy đủ và toàn diện.
- Các phương pháp tác động vào tâm lý mà người thầy thuốc cần quan tâm :
+ Phương pháp trực tiếp:
* Lời nói
*Aïm thị bằng lời nói.
*Thôi miên (Aïm thị trong giấc ngủ )
* Điều trị nhóm.
*Tâm kịch (điều trị bằng đóng kịch)