Phong cách nghệ thuật
"Liêu Trai chí dị" 1. Phong cách (tiếng Hy lạp cổ - stylos), là một cái que vót nhọn để viết trên các tấm
bảng có phủ nến) được các nhà văn La mã sử dụng theo lối hoán dụ để chỉ các đặc điểm về
lời văn của một tác giả nào đó. Từ đó cho đến trước thế kỷ XVIII người ta vẫn sử dụng thuật
ngữ phong cách trong ý nghĩa đó. Nhưng từ thế kỷ XVIII trở về sau thuật ngữ này có sự mở
rộng về nội hàm ý nghĩa khi dùng để chỉ đặc điểm hình thức của tác phẩm thuộc các loại hình
nghệ thuật (hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc ). Trong văn học, một hình thái ý thức thuộc kiến
trúc thượng tầng cũng vậy. Ý nghĩa nội hàm của thuật ngữ phong cáchđã được mở rộng
không còn bó hẹp trong hệ thống ngôn từ, bởi tác phẩm văn học không chỉ có hệ thống ngôn
ngữ biểu hiện mà còn có nhiều yếu tố khác như hệ thống khách thể hình tượng, kết cấu, thủ
pháp cũng như các yếu tố tư tưởng, tình cảm, thái độ, thị hiếu thẩm mĩ tạo nên sự thống
nhất giữa nội dung và hình thức. Dĩ nhiên, các chi tiết, hình tượng, kết cấu, thủ pháp, ngôn từ
ấy phải mang trong mình tính biểu cảm tư tưởng nào đó thì mới có thể gọi là phong cách. Tất
cả các phương diện đó tạo nên sự thống nhất nội tại làm thành một kiểu "hình thái biểu hiện"
độc đáo không lẫn vào đâu được giữa nhà văn này với nhà văn khác.
Như vậy, xem xét phong cách nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể và rộng ra của một
tác giả không thể bỏ qua cái "lý" của hình thức nghệ thuật trong mối quan hệ với nhân sinh
quan, tư tưởng của tác giả, của thời đại, qua đó chỉ ra được tiến bộ nghệ thuật và đóng góp
của tác giả cho lịch sử văn học dân tộc.
Liêu Trai chí dị (từ đây gọi tắt là Liêu Trai) là thành tựu đỉnh cao của tiểu thuyết đoản
thiên Trung Quốc sau hơn một nghìn năm phát triển. Nó đã tích hợp, hỗn dung trong đó
nhiều thể tài văn học, mà chính vì đặc điểm này nhà nghiên cứu đời Thanh Phùng Trấn Loan
đã đề xuất cách đọc Liêu Trai trong sự phức hợp thể loại đó. Do đó, có thể nói Liêu
Trai mang đặc trưng đa phong cách. Tựu trung, có thể chỉ ra một số biểu hiện đặc điểm
phong cách nghệ thuật Liêu Trai như sau:
cách lập ý, cấu tứ lại khác nhau. Hoặc đề tài tình yêu giữa ma, hồ và người trong Liêu Trai rất
nhiều song cũng không miêu tả theo một công thức sáo mòn. Ở mỗi truyện đều có cái tinh tế,
xảo diệu của ngòi bút "Vô diệu bất trăn" (Không gì tuyệt diệu mà không đạt đến). Cho nên,
cũng viết về hoa mẫu đơn yêu người nhưng truyện Cát Cân cho thấy yêu mà nghi ngờ khiến
tình yêu khô héo, ít bền lâu, trong khi truyện Hương Ngọc lại cho thấy sự chung thuỷ với tình
yêu đến chết không thay đổi của Hoàng Sinh dù biết Hương Ngọc không phải là người. Như
vậy, có thể thấy dù chỉ bằng những truyện ngắn vài trăm chữ thôi (cá biệt như Lang tam
tắc tổng cộng có 477 chữ; truyện thứ nhất 151 chữ, truyện thứ hai 201 chữ, truyện thứ ba 125
chữ) song đã cho thấy khả năng biểu hiện phong phú, ngôn từ tinh luyện, nội dung tư tưởng
sâu sắc thông qua cấu tứ, lập ý vi diệu của Bồ Tùng Linh.
Để dung hợp nội dung tư tưởng sâu rộng trong một thiên truyện ngắn vài trăm chữ là
điều không hề đơn giản. Nó đòi hỏi nhà nghệ sĩ phải am hiểu bút pháp nghệ thuật truyền
thống và khả năng chọn lựa, tinh luyện ngôn từ. Vì thế, mặc dù tác phẩm được viết bằng thứ
ngôn ngữ bác học kinh viện (văn ngôn), nhưng do hấp thu hơi thở cuộc sống nên không
những không khó hiểu mà còn đạt đến vẻ đẹp cô đọng hiếm thấy. Am hiểu vẻ đẹp tinh tế của
"văn ngôn" mà những câu văn miêu tả đủ sức vẽ lên cái thần của cảnh vật và con người.
Những câu "sa nguyệt dao ảnh, li tư oanh hoài" (bóng trăng lay động, nhớ chồng da diết -
Phượng Dương sĩ nhân)
(1)
đã miêu tả được nỗi oán hờn sâu kín trong đêm thanh vắng của
người cô phụ. Một chữ "dao" (lay động) hư tả ánh trăng chiếu người "cô phụ", nhưng thực tả
nỗi sầu li biệt của nhân vật, không nói tình mà tình chí thiết. Học giả Tôn Nhất Trân trong bài
viết Giản luận về phong cách nghệ thuật Liêu Trai chí dị
(2)
đã phân tích một cách thuyết phục
khả năng làm mới, làm sâu sắc thêm nội dung câu chuyện qua việc chắt lọc ngôn từ của tác
giả. Khi xưa Đỗ Phủ từng thốt lên "Nhị cú tam niên đắc / Ngâm thành song lệ lưu" (Ba năm
được hai câu / Ngâm, đôi dòng lệ chảy) và tuyên bố "chữ chưa làm cho người ta kinh sợ thì
chết vẫn không thôi", thì quá trình trau dồi khổ luyện của Bồ Tùng Linh nào có kém gì. Đoạn
mở đầu truyện Tân thập tứ nương giới thiệu Phùng sinh, vốn nguyên uỷ bản chép tay là