ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ
BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN II
Câu 1: Trình bày điều kiện ra đời, tồn tại, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa ?
1. Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa.
Một là, phải có sự phân công lao động xã hội. Đó là sự phân chia lao động xã hội thành
các ngành nghề khác nhau trong nền sản xuất xã hội. Nó tạo ra sự chuyên môn hóa sản xuất,
tức là mỗi người chỉ sản xuất ra một hay một số sản phẩm nhất định. Điều này mâu thuẫn
với nhu cầu của chính người sản xuất đó là cần có nhiều sản phẩm. Để giải quyết mâu thuẫn
này, người sản xuất phải trao đổi sản phẩm, do đó sản phẩm trở thành hàng hóa.
Hai là, phải có sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất do mối quan
hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định. Người sở hữu về tư liệu sản xuất là người sở hữu
sản phẩm lao động. Quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất làm cho những người sản
xuất độc lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên phụ
thuộc vào nhau. Do vậy, người này phải đem sản phẩm của mình trao đổi với người khác
dưới hình thái hàng hóa.
Ở đây, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc lẫn nhau, còn
tính độc lập tương đối về kinh tế lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau. Đây là một mâu
thuẫn. Nó chỉ được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán dưới hình thái hàng hóa. Để có
hàng hóa trao đổi, phải sản xuất và lưu thông sản phẩm. Vì vậy, sản xuất hàng hóa, theo đó
là kinh tế hàng hóa ra đời và tồn tại.
2. Đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hóa.
- Sản xuất hàng hóa có mục đích là để trao đổi hoặc mua bán. Sản xuất hàng hóa là kiểu
tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người
khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.
1
- Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân vừa mang tính xã hội. Nó
mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác
trong xã hội. Còn mang tính tư nhân bởi vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc
riêng, mang tính độc lập của mỗi người. Tính chất tư nhân của sản xuất hàng hóa có thể phù
hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội. Chính điều này đã tạo nên mâu thuẫn cơ bản
không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội,
thông qua trao đổi mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm
đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi.
b) Giá trị hàng hóa
Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi trước hết là
một quan hệ về số lượng, là tỉ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Ví dụ: 1m vải =
5kg thóc.
Tuy hai hàng hóa khác nhau, có giá trụ sử dụng khác nhau: của vải là để may quần áo,
của thóc là để làm thức ăn. Thế nhưng chúng lại có thể trao đổi được với nhau vì giữa chúng
tồn tại điểm chung: đều là sản phẩm của lao động, đều được kết tinh bởi lao động. Nhờ đó
mà chúng có thể trao đổi với nhau.
Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng
hóa. Chất của giá trị là lao động. Lượng của giá trị là số lượng lao động của người sản xuất
kết tinh trong hàng hóa. Giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức
biểu hiện của giá trị.
Vì giá trị là lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, nên nếu không kể đến
tính chất có ích của sản phẩm, thì mọi hàng hóa đều giống nhau, đều không có sự phân biệt.
Nhờ giá trị của hàng hóa mà diễn ra mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng
hóa.
c) Hai thuộc tính của hàng hóa vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn nhau.
- Thống nhất vì chúng tồn tại đồng thời trong một hàng hóa. Tức là một vật phẩm phải có
đầy đủ hai thuộc tính này mới trở thành hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính trên thì
vật phẩm không là hàng hóa.
3
- Mâu thuẫn thể hiện ở chỗ khi là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về
chất; nhưng khi là giá trị thì chúng lại đồng nhất về chất (đều là kết tinh của lao động). Việc
thực hiện hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị thường không đồng thời về không gian và
thời gian. Đứng về phía người sản xuất thì cái mà anh ta cần là giá trị, nhưng họ phải tạo ra
giá trị sử dụng; ngược lại, người tiêu dùng lại cần giá trị sử dụng, nhưng anh ta phải có giá
các yếu tố trên.
- Thứ hai, đó là cường độ lao động. Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao
động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng
thẳng của lao động. Cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản
xuất ra tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng. Do đó, giá trị của một đơn
vị hàng hóa là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian
lao động. Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất
của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động. Chính vì vậy mà
tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng
năng suất lao động.
- Thứ ba, là mức độ phức tạp của lao động. Theo đó, ta có thể chia lao động thành hai
loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ
một người lao động bình thường nào không cần phải trải qua đào tạo mà cũng có thể thực
hiện được. Còn lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành
lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể thực hiện được. Trong cùng một thời
gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn bởi vì thực
chất lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trình trao đổi mua
bán, lao động phức tạp được quy đổi thành lao động giản đơn.
Câu 4: Phân tích nội dung và tác dụng của quy luật giá trị? Ý nghĩa của việc nghiên
cứu quy luật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay?
a) Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ở đâu có
sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động.
5
Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở thời gian
lao động xã hội cần thiết. Thời gian hao phí lao động cá biệt để sản xuất hàng hóa phải phù
hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết.
Nhìn bề ngoài, sản xuất và trao đổi hàng hóa như là việc riêng của từng chủ thể, họ độc
lập và hình như không chịu sự chi phối nào. Nhưng thực tế, những hoạt động đó đều chịu sự
chi phối của quy luật giá trị. Nếu ai có chi phí thấp hơn so với chi phí mà xã hội thừa nhận
Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa là một chủ thể kinh tế độc lập,
tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng do điều kiện sản xuất khác
nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có hao phí
lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa ở thế có lợi, sẽ thu được lãi
cao. Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi thế cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ
phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí xã hội cần thiết. Muốn
vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật , cải tiến tổ chức quản lý, thực hiên tiết kiệm
chặt chẽ, tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn
ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy và
phát triển mạnh mẽ hơn.
Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành
người giàu, người nghèo.
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều
kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao
động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh
chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại, những
người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị
thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó.
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn hết sức to lớn: một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu
7
kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu
người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
c)Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị
trường của nước ta hiện nay.
Việc nghiên cứu cho thấy quy luật giá trị có tác động hai mặt:
Mặt tích cực của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó buộc các chủ thể kinh tế phải nhạy
bén, năng động trong sản xuất, kinh doanh, phải tìm cách tăng năng suất lao động, giảm chi
phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm; phải tìm đến ngành hoặc lĩnh vực mà mình có lợi thế,
cho người sở hữu và sử dụng nó.
Công thức: T – H – T’; trong đó T’=T + ∆T (∆T là số tiền trội hơn số tiền ứng ra, C. Mác
gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu là m). Số tiền (T) ứng ra ban đầu chuyển hóa thành tư bản
(ký hiệu K).
Được gọi là công thức chung của tư bản vì mọi tư bản đều vận động như vậy nhằm mục
đích mang lại giá trị thặng dư. Tư bản là tiền tự lớn lên hay giá trị sinh ra giá trị thặng dư.
b) Mâu thuẫn công thức chung của tư bản.
Nhìn vào công thức chung của tư bản ta có cảm giác giá trị thặng dư được sinh ra trong
lưu thông hàng hóa. Nhưng thực chất không phải vậy.
Trong quá trình trao đổi, nếu được thực hiện theo nguyên tắc ngang giá thì hàng đổi lấy
tiền và tiền đổi lấy hàng. Tức là thông qua trao đổi, tổng giá trị trong tay mỗi người là không
hề thay đổi mà chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác.
Nếu trao đổi thực hiện không ngang giá thì có thể người mua hoặc người bán được lợi.
Khi đó, tổng giá trị trong tay của mỗi người là khác nhau. Tuy nhiên, lượng giá trị chỉ là
chuyển từ tay người này sang tay người khác chứ không hề được sinh ra thêm. Hơn nữa,
trong nền kinh tế hàng hóa, người mua cũng đồng thời là người bán. Cho nên, nếu lúc mua
mà được lợi thì lúc bán có thể sẽ bị thiệt.
Như vậy, theo công thức chung của tư bản thì lưu thông tạo ra giá trị thặng dư; nhưng về
bản chất, lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông lại không hề tạo ta giá trị thặng dư.
Đây là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.
9
c) Chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.
Để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản, C. Mác đã tìm thấy một loại
hàng hóa có khả năng tạo ra giá trị thặng dư trong quá trình lưu thông-đó là hàng hóa sức lao
động.
- Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể chất và trí lực) tồn tại trong một con người
và được người đó sử dụng vào sản xuất.
Sức lao động là một yếu tố của sản xuất. Nó chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:
+ Một là, người lao động được tự do về thân thể, có quyền sở hữu và sử dụng sức lao
động của mình kể cả việc bán nó như là một hàng hóa.
công ty cổ phần).
Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt và quy mô tư bản xã hội, nó phản ánh mối
quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Tập trung tư bản chỉ làm tăng
quy mô tư bản cá biệt, mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội, nó phản ánh mối quan hệ
trực tiếp giữa các nhà tư bản với nhau.
Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ tác động và thúc đẩy lẫn nhau. Tích tụ là điều kiện
để tập trung tư bản; tập trung tư bản là động lực để tích tụ tư bản, tạo điều kiện thúc đẩy các
nhà tư bản đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy tích lũy tư bản.
b) Vai trò của tích tụ và tập trung tư bản trong sự phát triển của CNTB:
-Tích tụ tư bản một mặt thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, mặt khác làm tăng khối lượng GTTD trong quá trình phát triển của sản xuất TBCN.
Tích tụ tư bản làm tăng quy mô và sức mạnh của tư bản cá biệt do đó cạnh tranh sẽ gay gắt
hơn dẫn đến tập trung nhanh hơn. Ngược lại, tập trung tư bản tạo điều kiện thuận lợi để tăng
cường bóc lột GTTD, nên đẩy nhanh tích tụ tư bản. Ảnh hưởng qua lại của tích tụ và tập
trung tư bản làm cho tích lũy tư bản ngày càng mạnh.
-Tập trung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nhờ tập
trung tư bản mà có được những tập đoàn tư bản lớn trong một thời gian ngắn, đồng thời tập
hợp được sức mạnh của các nhà tư bản, sử dụng được kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
-Quá trình tích lũy tư bản gắn với quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng, do
đó nền sản xuất TBCN trở thành nền sản xuất lớn, mang tính chất xã hội hóa cao độ, từ đó
11
làm cho mâu thuẫn kinh tế cơ bản của CNTB, mâu thuẫn giữa sự phát triển cao của LLSX
mang tính chất xã hội hóa với quan hệ sản xuất mang tính chất tư nhân ngày càng sâu sắc.
Câu 7 : Thế nào là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối? Giá trị thặng dư tương đối? Cho
ví dụ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?
a) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Đây là phương pháp nhà tư bản dùng để kéo dài ngày lao động một cách tuyệt đối, qua đó
làm tăng thời gian lao động thặng dư, trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi. Tăng
cường độ lao động hiểu theo nghĩa hao phí calo cũng có nghĩa là kéo dài thời gian lao động.
Giá trị thặng dư có được do kéo dài thời gian lao động được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối.
gian lao động thặng dư.
Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:
m’ = 5/3 x 100% = 166%
Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%.
c) Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư.
Qua nghiên cứu, nếu gạt bỏ mục đích và tính chất tư bản chủ nghĩa thì các phương pháp,
nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch, có thể
vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ
chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội.
Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư gợi mở phương thức làm tăng
của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp,
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động, vào
sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, về cơ bản và lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất
lao động xã hội bằng con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc
dân; tạo động lực kinh tế cho doanh nghiệp và người lao động.
Câu 8 : Trình bày nội dung và vai trò của quy luật giá trị thặng dư? Vì sao nói sản xuất
giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB?
a) Nội dung và vai trò của quy luật giá trị thặng dư.
- Nội dung của quy luật giá trị thặng dư:
13
Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công
nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
Nội dung của quy luật giá trị thặng dư là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà
tư bản bằng cách tăng cường bóc lột lao động làm thuê.
- Vai trò của quy luật giá trị thặng dư:
Quyết định mục đích, bản chất, nguyên tăc phân phối cơ bản và phương hướng phát triển
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Chi phối các quy luật kinh tế khác, hướng sự hoạt động của các quy luật kinh tế này phục
vụ quy luật giá trị thặng dư.
Quy luật giá trị thặng dư tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội tư bản. Một mặt, nó thúc
học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội.
+ Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư bản với
sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa.
+ Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê.
Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên nổ ra vào năm 1825 ở nước Anh. Ngày nay, khủng
hoảng kinh tế có biểu hiện đa dạng như khủng hoàng tài chính, tiền tệ, khủng hoảng cơ cấu,
khủng hoảng thiếu…
b) Biểu hiện tính chu kì của khủng hoảng kinh tế trong CNTB.
Chu kỳ kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vận
động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau. Chu kỳ kinh tế gồm bốn
giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh.
- Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới. Ở giai đoạn này, hàng hóa
ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất
nghiệp hàng loạt, tiền công hạ xuống. Tư bản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá
sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng. Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu
hiện dưới hình thức xung đột dữ dội.
- Tiêu điều: đặc điểm ở giai đoạn này là sản xuất ở trạng thái trì trệ, không còn tiếp tục đi
xuống nhưng cũng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đem bán hạ
giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơi đầu tư. Trong giai đoạn này, để thoát khỏi tình trạng
15
bế tắc, các nhà tư bản còn trụ lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thấp tiền công,
tăng cường độ lao động và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm cho
sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá. Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu
về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế.
- Phục hồi: là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở rộng sản xuất. Công
nhân lại được thu hút vào làm việc; mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi
nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên.
- Hưng thịnh: là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá điểm cao nhất mà chu kì trước đã
đạt được. Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, xí nghiệp được mở rộng và xây dựng
thêm. Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của chủ
nghĩa tư bản. Nó là bước phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, làm cho quy luật giá trị thặng
dư chuyển hóa thành quy luật lợi nhuận độc quyền.
c) Đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền có 5 đặc điểm kinh tế cơ bản:
- Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền.
Tổ chức độc quyền là liên minh giữa những nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay một
phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh
hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó. Các hình thức cơ bản
của độc quyền bao gồm: cácten, xanhđica, tơrớt và côngxoocxiom.
- Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính. Tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng dẫn
đến sự hình thành các tổ chức độc quyền trong ngân hàng.
Quá trình hình thành các tổ chức độc quyền trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, trong
ngành ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ và tập trung tư bản, làm hình thành các tổ
chức độc quyền trong ngân hàng. Ngân hàng có vai trò mới. Từ đó xuất hiện sự thâm nhập
lẫn nhau về tư bản giữa các tổ chức độc quyền sản xuất và tiêu thụ với các tổ chức độc
quyền ngân hàng làm ra đời tư bản tài chính. Tư bản tài chính là liên minh giữa độc quyền
ngân hàng và độc quyền công nghiệp nhằm thống trị ngồn vốn và sản xuất của xã hội để thu
được lợi nhuận độc quyền cao.
17
Tư bản tài chính thống trị đời sống kinh tế xã hội thông qua chế độ tham dự, chế độ ủy
nhiệm. Ngoài ra, nó còn áp dụng các thủ đoạn lập công ty mới, phát hành trái khoán, kinh
doanh công trái, đầu cơ chứng khoán có giá ở sở giao dịch, đầu cơ đất, lập ra công ty bảo
hiểm. Theo V.I.Lênin, nói chủ nghĩa tư bản độc quyền thực chất là nói chủ nghĩa tư bản tài
chính.
- Xuất khẩu tư bản. Đưa tư bản ra nước ngoài nhằm chiếm đoạt các giá trị thặng dư và
các nguồn lợi khác ở nước nhập khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản là kết quả tất yếu của quá
trình giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về tư bản trên thị trường quốc tế, là hiện tượng
có tính quy luật.
Có hai hình thức xuất khẩu tư bản: trực tiếp và gián tiếp. Xuất khẩu tư bản trực tiếp là