CHƯƠNG III
KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY TRƯỚC MÁC
C. TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI PHỤC HƯNG
VÀ CẬN ĐẠI
I. Triết học Tây Âu thời Phục hưng
1. Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm
- Thời kỳ Phục hưng (Renaissance) vào thế kỷ XV-XVI,
là thời kỳ khôi phục và phát triển những giá trị văn hóa cổ
đại sau “đêm dài Trung cổ”. Nguyên nhân và đặc điểm của
thời kỳ Phục hưng:
+ Phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời, phương thức
sản xuất TBCN đang từng bước hình thành. Sự ra đời của
công trường thủ công làm cho năng suất lao động tăng.
Thương nghiệp, hàng hải phát triển mạnh
+ Tìm ra châu Mỹ năm 1492
+ Tầng lớp tư sản xuất hiện. Vai trò kinh tế-xã
hội của nó ngày càng nâng cao. Mâu thuẫn giữa
tầng lớp tư sản và giai cấp địa chủ quý tộc ngày
càng phát triển.
+ Khoa học, đặc biệt là thiên văn học phát triển
mạnh.
+ Nghệ thuật cũng phát triển phong phú đa dạng,
đi vào ca ngợi cái đẹp trong cuộc sống hiện thực
của con người. - Đặc điểm của triết học thời kỳ Phục hưng:
+ Các nhà triết học và khoa học từng bước đấu
tranh tách triết học và khoa học ra khỏi sự kiểm soát
mạng ở trên trời” báo trước một cuộc cách mạng
trong các quan hệ xã hội. b) Brunô (Giordano Bruno 1548-
1600).
Nhà triết học, khoa học, theo quan điểm
Phiếm thần luận (Pantheism: thuyết cho rằng
Thượng đế cũng chính là giới tự nhiên).
Brunô phát triển CNDV lên đỉnh cao thời
kỳ Phục hưng.
Brunô ủng hộ và phát triển thuyết nhật tâm
của Côpecnich. Theo ông vũ trụ là vô tận.
Ngoài hệ mặt trời còn có vô số những hệ
thống khác.
Năm 1592, Brunô
bị Tòa án dị giáo
xét xử bỏ tù 8
năm và bị đưa ra
thiêu sống trên
giàn hỏa ngày 17
- 2 - 1600.
Đến thế kỷ XIX,
một tượng đài
được dựng lên
nơi Bruno hy sinh
để ghi nhận và
tưởng nhớ sự hy
sinh của ông.
giác, lý tính và năng lực trí tuệ của con người,
chống lại sự đòi hỏi của tôn giáo rằng con
người phải từ bỏ lý trí để chấp nhận niềm tin
một cách vô điều kiện.
Ông nói: “Tôi không phải bắt buộc phải tin
rằng cùng một Thượng đế lại vừa ban cho
chúng ta cảm giác, lý trí và năng lực trí tuệ, lại
có khuynh hướng cấm chúng ta không được sử
dụng những cái đó”.
Galilê luận chứng cho việc giải phóng
khoa học ra khỏi sự can thiệp của tôn giáo.
G. nói rằng khoa học và Kinh thánh là hai
cuốn sách không có liên quan với nhau.
Khoa học giúp con người khám phá quy luật
tự nhiên, còn Kinh thánh giúp dạy con
người điều phải trái trong cuộc sống. Trong
lĩnh vực khoa học, Kinh thánh không có tác
dụng gì cả.
II. Triết học Tây Âu cận đại (Thế kỷ XVII-XVIII)
1. Điều kiện lịch sử
- Xã hội Tây Âu thế kỷ XVII-XVIII là thời kỳ
phương thức sản xuất TBCN phát triển mạnh
mẽ, mâu thuẫn gay gắt với chế độ phong kiến
dẫn đến các cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng
Anh (1642-1648), Cách mạng pháp (1789-
1794).
- Khoa học tự nhiên có bước tiến nhảy vọt.
Quá trình phân ngành. Cơ học Niutơn là phát
quá trình hoạt động”.
(Human knowledge and human power meet in one; for
where the cause is not known the effect cannot be
produced. Nature to be commanded must be obeyed; and
that which in contemplation is as the cause is in operation
as the rule).
Bêcơn đề xuất lôgic quy nạp; từ những sự
kiện quan sát được trong thực tế bằng phương
pháp quy nạp chúng ta mới có thể rút ra được
những nguyên lý, quy luật.
Bêcơn đề cao vai trò của tri thức kinh
nghiệm, vì thế được coi là ông tổ của chủ
nghĩa kinh nghiệm Anh. Theo ông, cảm giác
là nguồn gốc của nhận thức; mọi tri thức đều
bắt nguồn từ quan sát và thực nghiệm.
Để sử dụng tốt lôgic quy nạp, theo Bêcơn,
trước tiên cần phải khắc phục bốn loại “ảo
tưởng” (Latin: idola, Anh: Idols).
- Ảo tưởng chủng tộc (Idols of the Tribe)
là những sai lầm của nhận thức xuất phát từ
bản tính của loài người. Con người thường lấy
mình làm thước đo cho vạn vật, quy cho vạn
vật những đặc tính vốn có của chỉ bản thân con
người. Ngoài ra, giác quan và cảm giác con
người cũng có những hạn chế nhất định. - Ảo tưởng hang động (Idols of the Cave)
năm 1608.
Trong quan điểm duy vật của mình,
Hôpbơ cho rằng đối tượng nghiên cứu của
triết học là vật chất và vận động, nhưng chủ
nghĩa duy vật của ông mang tính siêu hình,
máy móc.
Hôpbơ coi con người như một cái máy,
cho rằng bản tính tự nhiên của con người là
ích kỷ và độc ác; con người chỉ tìm cách thực
hiện những lợi ích riêng của cá nhân mình.
Hôpbơ mô tả cuộc sống con người là “cô
độc, tồi tệ, bẩn thỉu, độc ác và thiển cận”
(“solitary, poor, nasty, brutish, and short”); xã
hội con người là “cuộc chiến tranh của tất cả
chống lại tất cả” (“war of all against all”) và
trong cuộc chiến này thì “không có chỗ tồn tại
cho khái niệm về đúng và sai, công bằng và
bất công”.
Giải pháp duy nhất cho tình trạng này theo
Hôpbơ là mọi người phải thỏa thuận tuân theo
một chính quyền duy nhất, có toàn quyền, đủ
mạnh để bắt buộc mọi người chấp hành luật lệ
và sống trong hoà bình.
Trên cơ sở lập luận như thế, Hôpbơ tưởng
tượng ra một “khế ước xã hội” (“a social
contract”) giữa công dân với nhau, trong đó
mọi công dân thỏa thuận từ bỏ trạng thái tự
nhiên và tự nguyện phục tùng một quyền lực