Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Pdf 19

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phụ nữ
Đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang
về thǎm miền xuôi sung sướng được gặp
Bác Hồ
Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho dân tộc, giải phóng phụ nữ
luôn là khát vọng cháy bỏng trong tâm nguyện của Người.
Nhưng muốn được giải phóng, chị em cũng phải đấu tranh,
không ngừng học hỏi, đoàn kết, làm trọn nghĩa vụ, trách nhiệm
của mình – đó là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ
nữ.
Tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật Hôn nhân và gia đình,
Người nói:“…Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không
giải phóng phụ nữ là không giải phóng một nửa loài người.
Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội
chỉ một nửa
.…Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra Chỉ thị giải
phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.”

Trong bài nói chuyện tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III, Người nhấn mạnh: “…Ngay
từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác
định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ
nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận thức rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm
chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ
mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng CNXH…”.

Nói chuyện với chị em tại Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi, Người chỉ rõ: “Phụ nữ cũng là
người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất,
thực hành tiết kiệm…”. “Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở
miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay,
cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh…còn kém. Đó là

tu học, chiêm bái đức Phật, chúng tôi luôn một mực kính trọng, cảm phục và ngưỡng mộ Bác Hồ
như một vị thánh vì những cống hiến, hy sinh quên mình lo cho đồng bào, cho dân tộc của Người”.
Hưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tịnh xá Ngọc
Phương đã phối hợp cùng Ban tuyên giáo Quận ủy tổ chức lớp học cho toàn bộ 145 sư cô. Ông
Nguyễn Kim Hiếu, Trưởng ban Tuyên giáo Quận ủy Gò Vấp cho biết: “Qua các buổi nói chuyện về
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh tại tịnh xá Ngọc Phương, chúng tôi nhận thấy các sư bà, sư cô ở
đây thấm nhuần đạo đức của Bác Hồ một cách rất tự nhiên. Có lẽ là vì tư tưởng của Bác rất gần
gũi với những giá trị đạo đức trong kinh Phật mà các ni sư hằng hướng tới mỗi ngày”.
Ni sư trưởng Ngoạt Liên kể lại: Năm 1969, khi Bác Hồ mới mất, các tăng ni Phật tử đã tổ chức lễ
cầu siêu cho Bác, mặc cho quân địch bao vây, bố ráp bốn bề. Chính cuộc đời hoạt động, cống hiến
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lay động trái tim của mọi tầng lớp, giai cấp, tôn giáo hòa quyện trong
tình yêu nước, không gì có thể ngăn cách nổi.
Các sư cô luôn tâm niệm một điều, tu hành là một lẽ, là công dân của nước Việt phải có lòng yêu
nước và có trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng, nếu không như thế thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Ở Gò Vấp, tịnh xá Ngọc Phương là một điểm sáng trong các hoạt động từ thiện, khuyến học. Hàng
năm, tịnh xá nhiều lần tổ chức các chuyến xe trực tiếp chở hàng đi cứu trợ đồng bào bị thiên tai,
bão lụt; các chuyến đi giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh trong viện dưỡng lão, trẻ mồ côi, trại
2
phong…
Trong bài viết đạt giải nhất cuộc thi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cấp
quận, sư cô Liên Minh thuộc tịnh xá Ngọc Phương bày tỏ: “Là một tu sĩ Phật giáo và cũng là một
công dân của đất nước, tôi nhận thức được những quan điểm đúng đắn, chuẩn xác về tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh. Chúng tôi học tập trước nhất ở Bác Hồ là tấm gương đạo đức, vì đạo đức là
nền tảng của mỗi con người. Chúng tôi quy ngưỡng Đức Phật, cũng như vô cùng quý kính Chủ tịch
Hồ Chí Minh”.
Theo SGGP Ngày 25/2/2008
Má Bảy Lánh 100 tuổi đời, 70 tuổi đảng
Trong số 46 đảng viên được trao Huy hiệu Đảng đợt 3-2-2008 của
huyện Củ Chi (TPHCM), duy nhất có đảng viên Nguyễn Thị Lánh
(sinh năm 1909) ở ấp Tân Định, xã Tân Thông Hội được trao huy hiệu

Lánh đã xung phong mang thuốc và tiền tiếp tế cho bộ đội. Như sống lại khoảnh khắc ấy,
má Bảy nói chân chất: “Bây biết hôn, tiếp tế cho chiến khu chỉ có một con đường duy nhất
là băng qua đồng ruộng, má vừa đi mấy bước thì trên đầu máy bay quần điếc cả con rái,
má liền lấy cái nón trên đầu úp lên đống rơm và chui vào đó trốn đạn. Mèn ơi nó bắn nát
bấy xung quanh, có viên đạn chui ngay vào chỗ má trốn, nằm sát đỉnh đầu, may mà nó
không chui vào sọ má…”. Rồi lần lượt ba tờ giấy báo tử của ba người con trai được
chuyển về Củ Chi. Lòng má Bảy Lánh đau đớn tưởng như không còn gì đau hơn nữa!
Mùa xuân này, về Củ Chi được gặp và nghe kể chuyện về Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn
Thị Lánh, càng cảm phục tấm lòng trung kiên của người đảng viên cộng sản 100 tuổi đời,
70 tuổi đảng.
Theo SGGP Ngày 25/2/2008.
Phụ nữ phải được tôn vinh
Kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ (8-3), chúng ta không thể không nhớ đến một phong trào
đấu tranh cách mạng sôi nổi, quyết liệt của phụ nữ ở nhiều nước trong những năm đầu thế
kỷ 20 gắn liền với tên tuổi của một người đã hy sinh cả cuộc đời vì sự nghiệp giải phóng
phụ nữ, đó là bà Clara Zetkin(*).
Bà từng đi đầu, cất cao tiếng thét đòi giảm giờ làm việc của phụ nữ từ 16 giờ xuống còn 11
giờ một ngày. Bà là người nêu ra ý tưởng cho rằng, chỉ khi nào phụ nữ tự lập về kinh tế,
họ mới thực sự bình đẳng với nam giới.
4
Bà là người có sáng kiến tổ chức Hội nghị Phụ nữ quốc tế dân chủ ở Kopenhagen (Đan
Mạch) ngày 8 tháng 3 năm 1910, để thông qua quyết định tổ chức “Ngày Phụ nữ Quốc tế”.
Bà là người đứng đầu Ban Thư ký về các vấn đề phụ nữ của Quốc tế Cộng sản. Vì cuộc
đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, bà đã từng bị bắt, bị tù.
Năm 75 tuổi, bà bị mù lòa. Một tuần trước khi mất, bà đã cố gắng viết, để lại mấy câu trên
một mảnh giấy nhỏ: “Mục tiêu vĩ đại soi sáng thế giới. Thời khắc lịch sử đòi hỏi cuộc chiến
đấu quyết định. Thời khắc đó nói với những người phụ nữ cần lao: hãy giác ngộ, hãy hành
động, hãy chiến đấu”.
Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 đã trở thành ngày tôn vinh giới nữ và thúc đẩy cuộc đấu tranh
giải phóng phụ nữ.

Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi
làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, dòng dõi
thần tiên, đẻ một lần được 100 con trai, Âu Cơ đem 50 con lên núi, Lạc Long Quân đem 50
con xuống biển.
Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng
Vương. Như vậy, người mẹ đầu tiên của dân ta là một bà tiên, một người rất đẹp, đầy tài
hoa, bình đẳng trong trách nhiệm cùng chồng dựng nước.
Phải chăng từ truyền thuyết này mà phụ nữ Việt Nam ta có lòng tự tin, tự hào rất mạnh,
nên đã xuất hiện rất nhiều tên tuổi phụ nữ, nổi bật về đạo đức và tài năng trên nhiều mặt
trong quá trình dựng nước và giữ nước, thời sau nhiều hơn thời trước.
Nối tiếp Hai Bà Trưng, có Bà Triệu, bà Thái hậu Dương Vân Nga, bà Công chúa Huyền
Trân, bà Bùi Thị Xuân, bà Phi Yến, bà Ngọc Hân, bà Hồ Xuân Hương, bà Đoàn Thị Điểm,
bà Huyện Thanh Quan... Cho đến thời nay, lại càng có rất nhiều phụ nữ nổi danh, hầu như
trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao...
Đặc biệt thời kháng chiến có đội quân tóc dài, vô cùng gan dạ và đầy mưu trí trong các
cuộc đấu tranh trực diện với địch. Lại có biết bao bà mẹ thương chồng con da diết mà vẫn
động viên đi đánh giặc. Biết bao bà mẹ nhớ chồng con đến cháy ruột cháy gan mà vẫn
không tìm cách gọi về.
Biết bao bà mẹ được tin chồng con hy sinh ở mặt trận, nén chờ đêm khuya mới thầm khóc,
tránh không làm xao xuyến tinh thần người khác, mất con như mất từng núm ruột, nhưng
được nước vẫn thấy vui... Những phụ nữ anh hùng như vậy không thể nào kể hết.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có Bác Hồ giáo dục, luôn có ý thức rằng, phụ nữ chiếm
hơn một nửa dân số, không có phụ nữ tham gia đấu tranh cách mạng thì cách mạng không
thể thành công. Trong đường lối chủ trương của Đảng, vấn đề giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng con người, luôn gắn liền với vấn đề giải phóng phụ nữ.
Đảng, Bác Hồ cũng biết rằng, phụ nữ còn có thiên chức phải mang nặng đẻ đau, phải nuôi
dạy con nhỏ nên người, nỗi khổ đó không thể giải phóng bằng đấu tranh cách mạng, mà
chỉ được bù đắp bằng ý thức tôn trọng phụ nữ của mọi người trong xã hội, bằng sự chăm
6
sóc đặc biệt của Nhà nước ta đối với phụ nữ.

cuộc sống cao đẹp, gieo trong lòng bà tình thương sâu sắc đối với tầng lớp nghèo trong xã
hội và căm ghét những cảnh bất công. Cứ mỗi ngày đem cơm, nước cho anh Ba trong tù,
tận mắt chứng kiến cảnh lính Pháp tra tấn, đánh đập dã man, thân hình bầm tím, máu chảy
loang trên nền xi măng thì lòng bà lại quặn đau như thắt. Lúc này bà mới hiểu các anh bị
bắt, bị đánh đập là vì làm việc cứu nước, cứu dân, chống lại Pháp, chống lại chủ điền. Từ
đó bà hiểu nhiều về nỗi nhục mất nước, người giàu ức hiếp người nghèo và cần phải
chống lại chúng.
Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được
đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng
gia đình với ông Nguyễn Văn Bích – Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì
chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng
căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly
tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.
Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh
Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm họat động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà
tù. Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng
của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8-1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý
chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm
thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình
chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện. Từ đó tên tuổi của bà đỏ thắm “đường Hồ Chí
Minh trên biển”.
Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch
8
cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã
không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn,
lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của
những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch. Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi
Bến Tre (17-1-1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường bất khuất, tiêu biểu
cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang
thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương

sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ với đức tính khiêm tốn, vị tha, nhân hậu,
giản dị, dịu hiền và luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, bà Ba Định đã là người phụ nữ tiêu
biểu nhất, xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã tặng cho phụ nữ Việt Nam
“Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Ngày 30-8-1995, bà được
Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân. GS Trần Văn Giàu nói “Những người như chị sống làm tướng, chết
thành thần”. Đúng vậy, đền thờ bà đã được xây dựng và khánh thành vào ngày 20-12-
2003 để nhân dân đến viếng và thắp hương tưởng niệm. Tiếp đến, ngày 8-4-2007, Bộ
Quốc phòng đã tặng tượng đồng chân dung nữ tướng trong trang phục áo bà ba, khăn rằn
quấn cổ đặt tại đền thờ (tượng cao 1m75, nặng 1.025 kg, tác giả là trung tá Nguyễn Phước
Tùng – Bảo tàng Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam).
Bảo tàng Bến Tre
Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập.
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Nguyễn Thị Thập,
Trang web Hội LHPN Việt Nam xin trân trọng giới thiệu đôi nét về
cuộc đời hoạt động không ngừng nghỉ của mẹ.
Đồng chí Nguyễn Thị Thập (tên thật Là Nguyễn Thị Ngọc Tốt), sinh
năm 1908 trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Long Hưng, huyện
Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Tham gia cách mạng năm 1929 và đến
năm 1931, đồng chí được vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sau đó, thoát ly hoạt động phong trào, xây dựng
cơ sở ở Mỹ Tho, Tân An, Bến Tre, Sài Gòn.
Tháng 4/1935, đồng chí được bầu vào xứ uỷ Nam Kỳ. Tháng 5 năm ấy, đồng chí bị địch
bắt kết án tù. Ngay sau khi hết hạn tù, đồng chí lại bí mật về quê, tiếp tục tham gia hoạt
động cách mạng. Tháng 12/1938, sau cuộc lãnh đạo nông dân biểu tình chống thuế ở xã
Long Hưng, đồng chí Nguyễn Thị Thập lại bị bắt giam nhưng lần này đã được hàng nghìn
đồng bào Long Hưng, Long Định kéo tới giải thoát.
Năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, dù đã gần đến ngày sinh nở, đồng chí vẫn thắt
khăn nịt bụng, chỉ huy dân quân, đồng bào trương cờ, biểu ngữ, xông vào cướp đồn Tam

Đồng chí còn được Đảng và Nhà nước giao nhiều chức vụ quan trọng như: Bí thư Đảng
đoàn phụ nữ kiêm Trưởng ban phụ vận Trung ương Đảng; Ủy viên Ban chấp hành Trung
ương Đảng từ khóa II đến khóa IV, được bầu vào Quốc hội từ khóa I đến khóa VI, giữ
chức vụ Phó chủ tịch Quốc hội từ khóa II đến khóa VI. Đồng chí Nguyễn Thị Thập - người
phụ nữ kiên cường của mảnh đất thành đồng Tổ quốc - đã được tặng thưởng Huân
chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam - Huân chương Sao Vàng, và được phong
tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước - Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sau đại thắng mùa Xuân
1975, đồng chí lại bắt tay vào công việc tổng kết Lịch sử phong trào Phụ nữ Việt Nam
trước khi được trở về miền Nam nghỉ hưu.
Gần 60 năm tham gia cách mạng, được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách, nhưng
đồng chí luôn khắc phục và vượt mọi khó khăn, nguy hiểm, cả những bi kịch riêng tư để
hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Cuộc đời hoạt động và những
đóng góp của đồng chí đã tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Hội Liên hiệp phụ nữ
Việt Nam nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Sau khi đã cống hiến
trọncuộc đời mình cho Tổ quốc, đồng chí mất ngày 19-3-1996 tại TP Hồ Chí Minh và được
an táng tại Nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Tiền Giang, cạnh mộ chồng./.
11
GIA ĐÌNH – XÃ HỘI
5 giá trị đừng quên khi dạy trẻ
Là những điều tưởng chừng rất bình thường, bình thường đến mức nhiều bậc phụ huynh
quên dạy cho con. Thế nhưng, đó cũng chính là những giá trị căn bản của cuộc sống, là
chìa khóa để nếu bất cứ đứa trẻ nào hiểu rõ, được trải nghiệm và biết ứng dụng sẽ dễ
dàng tìm được cảm giác hạnh phúc cho mình lúc còn thơ cũng như khi đã trưởng thành.
1. Dạy trẻ yêu lao động
Trẻ chỉ có thể đạt được cảm giác hạnh phúc thật sự khi chúng được “động tay động chân”
làm những việc vừa sức mình và được tận mắt nhìn thấy “thành quả” lao động mình tạo ra.
Nhiều bậc phụ huynh lo lắng con mệt, đổ mồ hôi, lấm bẩn, trầy xước khi con tập quét nhà,
làm vườn, xới đất, tưới cây hay thậm chí là thử sơn một cái hàng rào. Thế nhưng, kết quả
hoàn toàn ngược lại.
Những đứa trẻ được “ủ ấm” sẽ dễ trở nên lười biếng, thụ động, nhút nhát, kém tự tin.

tới 5 tuổi thì sẽ không ai nhận ra”. Và người mẹ mỉm cười: “Vâng, nhưng con tôi thì sẽ
nhận ra và sẽ hiểu rằng tôi nói dối!”.
Câu chuyện rất ngắn gọn nhưng đủ sức để nhắc nhở mọi phụ huynh về tầm quan trọng
của tính trung thực. Chỉ có sự trung thực mới khiến trẻ luôn tự tin và tự hào về bản thân
mình.
Đứa trẻ được dạy bảo về tính trung thực từ nhỏ sẽ luôn dũng cảm để nhận ra những lỗi
lầm và sửa đổi. Không chỉ thế, tính trung thực còn giúp trẻ luôn thấy yêu cuộc sống, luôn
tin tưởng vào những điều tốt đẹp và không phải nơm nớp trong những cảm giác mặc cảm.
Đó là nền tảng vô giá để trẻ trở thành người tốt sau này.
5. Dạy trẻ biết hướng về nguồn cội
Biết hướng về nguồn cội, trẻ sẽ được trang bị đầy đủ những kiến thức về văn hóa, xã hội;
sẽ hiểu và tự hào về ông bà, tổ tiên, về chính bản thân mình. Đừng nghĩ hướng về nguồn
cội là điều gì “khó làm” lắm.
Thật ra trẻ có thể được dạy cách hướng về nguồn cội thông qua những việc rất giản đơn.
Ví dụ như bạn có thể kể cho trẻ nghe những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết. Có thể
khuyến khích trẻ tham gia các ngày hội, với các trò chơi tái hiện lại những phong tục tập
quán, những câu chuyện cổ tích hay truyền thuyết này.
Đặc biệt, Tết Nguyên đán luôn là dịp để trẻ có thể thu thập được thật nhiều kiến thức về
ông cha, về những phong tục tập quán thú vị từ đời xưa. Khi hiểu rõ được điều đó qua
những trải nghiệm của riêng mình, trẻ mới có thể thật sự tiếp thu những kiến thức mới mẻ,
hiện đại mà vẫn không mất đi “nguồn gốc”.
Phụ nữ Việt nam - Số báo: 005 (2958) - Ngày phát hành: 11/1/2008
NHỮNG LÝ DO KẾT HÔN SAI LẦM CỦA BẠN GÁI TRẺ
1. Nhằm thoát khỏi sự quản lý chặt chẽ của gia đình:
Đây là sai lầm mà nhiều cô gái trẻ thường mắc phải. Để thoát
khỏi sự quản lý nghiêm ngặt của gia đình, nhiều bạn gái đã lựa
chọn cách kết hôn nhanh chóng để được tự do mà chưa tìm hiểu
kỹ về hoàn cảnh cũng như con người, nhân cách của chàng trai
mà mình định lấy. Nhưng tiếc là làm như thế chỉ rơi vào giả tạo
viển vông, lấy chồng mù quáng khác gì nhảy từ vũng bùn này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status