225
thể chất yếu. Do đó thích hợp với chăn nuôi gà thương phẩm trứng,
thương phẩm thịt, nuôi chim cút.
- Nuôi trên nền (trên sàn). Gia cầm được nuôi trực tiếp trên nền
gạch, nền đất nện, nền xi măng có lớp độn chuồng hoặc trên sàn kim
loại, sàn bằng tre, nứa cao hơn mặt đất. Nuôi trên nền thích hợp với
chăn nuôi gà con, gà hậu bị, đàn gia cầm giống (gà, vịt, ngan, ngỗng,
gà tây). Gia cầm nuôi nền thể chất khỏe mạnh, sức sản xuất cao nếu
nuôi với mật độ thích hợp và chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý. Khi áp
dụng hình thức nuôi gia cầm trên nền cần lưu ý một số điểm dưới
đây.
Nuôi trên lớp độn chuồng dày không thay đổi. Cho vào
nền chuồng lớp độn chuồng dày 8-10cm vào mùa hè, 15-20 cm vào
mùa đông trước khi cho gia cầm vào nuôi. Trong quá trình nuôi, độn
chuồng không thay đổi cho đến khi xuất chuồng toàn bộ đàn gia
cầm. Trong quá trình nuôi nếu độn chuồng bị ẩm, ướt có thể bổ sung
thêm cho đến khi lớp độn chuồng đạt 25-30 cm. Khi đó thay toàn bộ
lớp độn chuồng, tổng tấy uế, khử trùng chuồng nuôi rồi đưa lớp độn
chuồng mới vào nuôi đợt tiếp theo. Hình thức này có ưu điểm tiết
kiệm được chi phí độn chuồng, chuồng nuôi giữ ấm tốt, đàn gia cầm
không bị xáo trộn trong quá trình nuôi. Theo các nghiên cứu gần đây
cho rằng cách này có lợi cho gia cầm vì các yếu tố hiếm (vi lượng,
đặc biệt vitamin nhất là vitamin B12) có trong lớp độn chuồng
không thay đổi được gia cầm sử dụng rất hiệu quả. Theo A Pôpôv,
trong 100g chất độn chuồng chứa trung bình 42mg vitamin B12,
trong cả màu xuân số lượng có thể đạt đến 100mg. Tuy vậy có
nhược điểm là không khí dễ nhiễm bẩn, ẩm độ chuồng nuôi có thể
lên cao gây ảnh hưởng sức khỏa đàn gia cầm. Hình thức này áp dụng
cho chăn nuôi gà giống, gia cầm hướng thịt và các nhóm gia cầm
nuôi thời gian ngắn (gà con, gia cầm nuôi thịt).
đến 8 tuần tuổi (gà hướng trứng) hoặc 10 tuần tuổi (gà hướng thịt).
Gà broiler là gà nuôi sản xuất thịt theo quy trình công nghiệp kết
thúc, bán thịt luc 8-10 tuần tuổi.
- Gà dò (còn gọi là gà choai, gà đang lớn) là gà từ 8
hoặc 10 tuần tuổi cho đến 20 hoặc 22 tuần tuổi, tương ứng với
227
hướng chuyên dụng trứng hoặc chuyên dụng thịt. Đối với đàn gà
giống thì độ tuổi này thuộc giai đoạn gà hậu bị.
- Gà đẻ (hay gà sinh sản) là gà tiếp theo giai đoạn gà
dò, đẻ qủa trứng đầu tiên cho đến khi kết thúc chu kỳ sinh sản
(thường 12 tháng đẻ trứng) hoặc ở 500 ngày tuổi. Ở đàn gà giống
giai đoạn này gọi là gà sinh sản. Gà sinh sản khác với gà đẻ ở chỗ
trong đàn bắt buộc phải thả trống, đảm bảo cho trứng có phôi, ấp nở
để nhân đàn tiếp tục.
7.2.1. Kỹ thuật nuôi dƣỡng gia cầm con
7.2.1.1. Đặc điểm của gia cầm con.
Gia cầm con có tốc độ sinh trưởng nhanh, cường độ trao đổi
chất mạnh nhưng dung tích đường tiêu hoá nhỏ; khả năng tiêu hoá
còn thấp nên cần có chế độ nuôi dưỡng hợp lý. Khối lượng gia cầm
con nở ra khoảng 68-70% khối lượng trứng đưa vào ấp. Khối lượng
gia cầm tăng gấp 2-3 hoặc 5 lần trước 6 tuần tuổi và tăng trưởng kéo
dài đến khoảng 10 tuần tuổi, sau đó tốc độ sinh trưởng giảm đi rõ
rệt. Cùng với sự tăng trọng là sự hoàn thiện của bộ lông. Ở 4-5 tuần
tuổi bộ lông tơ của gia cầm con được thay bằng bộ lông vũ có khả
năng giữ ấm, còn trước 5 tuần tuổi bộ lông chưa hoàn thiện, khả
năng điều tiết thân nhiệt kém nên gia cầm con dễ bị nhiễm lạnh, đòi
hỏi nhiệt độ chuồng nuôi phải cao (35
0
C). Giai đoạn 13-14 tuần tuổi
đóng vào. Rèm che treo cách trần 30-40cm đảm bảo thông thoáng và
phủ sát nền chuồng để tránh gió lùa.
Chuẩn bị nguồn sưởi: nguồn sưởi có thể là lò sưởi điện, bếp
than, củi, trấu, bóng đèn điện… đảm bảo cung cấp nhiệt trong quây
gà lên được 36-37
0
C. Phải được vận hành thử để kiểm tra trước khi
đưa gà vào chuồng.
Quây gà: quây gà được làm băng cót, bìa cứng, hộp gỗ…
quây có đường kính 2,5m, chiều cao 0,5m dùng cho 300 gà 1 ngày
tuổi. Quây có thể nới rộng, để có thể mở ra khi tuổi gà lớn lên.
Máng ăn, máng uống. Máng ăn, máng uống cho gia cầm
con có thể hình trụ, hình ống. Cần tính toán đủ cho đàn gà và phân
bố đều trong quây gà. Khay làm máng ăn, máng uống cỡ 70x70cm
cho 75-100 gà. Một số loại máng ăn, máng uống hiên đang sử dụng
trong chăn nuôi gia cầm con (hình 7.2, 7.3).
229 Hình 7. 2: Các dạng máng uống cho gia cầm con 230 Hình 7. 3: Các dạng máng ăn cho gia cầm
Nguyên liệu làm độn chuồng: nguyên liệu làm lớp độn
chuồng cho chăn nuôi gia cầm con có nhiều loại. Khi chọn nguyên
232
Hình 7. 4: Gà con mới nở ấp theo máy ấp tự chế tạo
Hộp được chia làm 4 ô nhỏ, mỗi ô 20-25 gà con 1 ngày tuổi,
xung quanh hộp có những lỗ thông hơi tránh ngạt. Nếu vận chuyển
đi xa, khi gà về cần mở hộp cho thông thoáng, cho uống nước có pha
vitamin C, B, glucose trước khi thả gà vào quây.
7.2.1.5- Kỹ thuật nuôi dưỡng gà con
Các yêu cầu đối với gà con
+Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố đầu tiên và cũng là yêu tố quan trọng nhất
trong chăn nuôi gia cầm con. Tuần đầu nhiệt độ trong quây gà là 33-
35
0
C, cứ mỗi tuần sau đó giảm đi 2-3
0
C và giữ ổn định ở 20-22
0
C
lúc 8 tuần tuổi. Thực tế tuỳ thuộc vào sức khoẻ đàn gà và nhiệt độ
môi trường mà sử dụng nguồn sưởi, mùa hè có thể chỉ sử dụng 3-4
tuần đầu. Thường xuyên theo dõi quan sát đàn gà trong quây để điều
chỉnh nhiệt độ. Gà con phân tán xa nguôn sưởi, ép sát vào mép quây
là nhiệt độ cao. Gà tập trung thành cụm sát nguồn sưởi, chen lấn
nhau là nhiệt độ quá thấp. Gà phân bố đều trong quây, ăn uống tốt,
233
Che kín bên có gió ban ngày,
ban đêm che kín hoàn toàn
tuần2
tuần 3
Cả ngày đêm che kín bên có
gió thổi
tuần 3
tuần 4
Tuỳ thời tiết có thể che hoặc
không che
Từ tuần 4; 5 trở đi
+Ánh sáng, thông thoáng
Tuần đầu gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ. Sử dụng bóng đèn
công suất 75-100W, định mức 3-4W/m
2
nền chuồng (5-10lux). Thời
gian chiếu sáng các tuần tiếp theo giảm 2-4h/tuần, và giữ ở 18h/tuần
ở tuần thứ 8. Màu sắc ánh sáng tốt nhất ở gà con là màu đỏ hoặc ánh
sáng trắng(đèn neon), ánh sáng yêu cầu toả đều trong chuồng nuôi.
234
Cần thông thoáng tốt chuồng nuôi để đủ không khí sạch cho gà. Gà
con cần không khí sạch: 0,9-1,0 m3 vào mùa đông và 5-8m3 vào
mùa hè, có thể cao hơn nữa ở chuồng nuôi gà giống.
+Thức ăn và nuôi dưỡng gà con
Gà con 1-8 tuần tuổi có cường độ sinh trưởng nhanh, nhưng
không đồng đều. Giai đoạn 5-6 ngày tuổi đầu sinh trưởng châm, sau
đó nhanh dần và đạt đến 3% so với khối lượng cơ thể. Khối lượng
lúc 8-10 tuần tuổi cần đạt 600-800g/con gà hướng trứng và 800-
tỉ lệ 75/25, 50/50, 25/75 và 100. Nước uống sạch và đủ cho gà uống
tự do. Máng ăn cần 8-11cm/con, máng uống cần 2cm/con, ở gà
broiler tương ứng là 4 và 1,5cm/con.
+Chủng ngừa vaccine
Trong giai đoạn gà con cần cho uống hoặc tiêm phòng các
loại vaccine phòng bệnh đậu gà, Gumboro, Niucatxon, tụ huyết
trùng, viêm rốn…theo hướng dẫn của thú y (quy trình phòng bệnh
cho từng đối tượng gia cầm nuôi).
Ở vịt, ngan, ngỗng, gà tây con có quá trình nuôi tương tự như
chăn nuôi gà con. Các yếu tố kĩ thuật có điều chỉnh chút ít. Nuôi vịt
chăn thả thời vụ có quy trình nuôi vịt riêng.
Ở vịt: yêu cầu nhiệt độ 26-28
0
C ở tuần đầu, 22-25
0
C tuần thứ
2, 20-22
0
C tuần thứ 3 và 16-19
0
C ở tuần cuối. Cần cung cấp không
khí sạch/1kg khối lượng sống trong 1 giờ là 0,7-1m
3
trong mùa đông
và 4-5m
3
trong mùa hè. Kiểm tra điều chỉnh lượng khí độc trong
chuồng CO
2
không quá 0,25% thể tích không khí, NH
gà được xuất chuồng 8-10 tuần tuổi, nếu nuôi thả hoặc nuôi sinh sản
gà được chuyển nuôi theo quy trình nuôi gà dò. Nếu nuôi gà giống
thì chuyển qua giai đoạn nuôi gà hậu bị cho đến 20-22 tuần tuổi. Gà
dò cơ thể đã phát triển hoàn thiện nên ít chịu ảnh hưởng của điều
kiện ngoại cảnh. Trong chuồng nuôi không cần nguồn sưởi, quây,
rèm che và có thể nuôi chăn thả ngoài sân vườn…
7.2.3. Kỹ thuật nuôi dƣỡng gà đẻ (gà sinh sản)
Gà hướng thịt sau 22 tuần tuổi, gà hướng trứng sau 20 tuần
tuổi chuyển qua giai đoạn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm. Cũng ở độ
tuổi này nhưng là gà sinh sản lấy trứng giống đem ấp được gọi là gà
giống và chăn nuôi theo quy trình nuôi gà giống. Yêu cầu gà giống
khác gà thương phẩm là phải đảm bảo tỉ lệ trống/ mái thích hợp để
có tỉ lệ phôi, tỉ lệ ấp nở cao. Gà đẻ trứng thương phẩm thường loại
thải sau 1 năm đẻ (500-550 ngày tuổi), gà giống sinh sản có thể kéo
dài hơn.
7.2.3.1. Đặc điểm gia cầm sinh sản
Gia cầm từ khi đẻ quả trứng đầu tiên được xem là gia cầm
sinh sản hoặc là gia cầm giống. Gia cầm giống khác gia cầm sinh sản
ở chỗ có sự nuôi chung trống mái với tỉ lệ thích hợp để sản xuất ra
các quả trứng có phôi, ấp nở ra gà con. Ở gia cầm sinh sản có các
đặc điểm sau:
- Quy luật của sự đẻ trứng
Từ khi đẻ quả trứng đầu tiên gia cầm mái trải qua các biến đổi
về sinh lý, sinh hoá có liên quan đến sức đẻ trứng, khối lượng trứng,
khối lượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn. Ở gia cầm tơ hay gà
mái đẻ trứng năm đầu quy luật đẻ trứng diễn ra theo ba pha:
237
+Pha 1: Thường là từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến hết ba
tháng đẻ trứng. Trong pha này sản lượng trứng đẻ tăng từ ngày đẻ
Năm đẻ thứ nhất Năm đẻ thứ hai Năm đẻ thứ ba Hình 7.6. Đồ thị về quy luật đẻ trứng ở gà qua các năm
Bảng 7.2: Sản lƣợng trứng qua các năm đẻ trứng ở gia cầm (%)
Năm đẻ
Gà
Vịt
Ngỗng
Gà tây
I
100
100
100
100
II
75
115
110
110
III
45
95
125
120
IV
-
Bảng 7.5. Thành phần hoá học và nhiệt năng (Q-kcalo)
có trong 100g thịt gia cầm
Loại gia
cầm
Tuần
tuổi
Nƣớc
Lipid
Protêin
khoáng
Q(kcal)
Gà trưởng
thành
52
65,5
13,7
19,0
1,0
200
Gà thịt
Broiler
46
67,5
11,5
19,8
1,2
180
Vịt trưởng
thành
19,1
19,9
1,0
250
Thành phần thịt gia cầm thay đổi phụ thuộc vào tuổi, loài,
phương thức chăn nuôi và thời gian nuôi.
7.2.3.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà sinh sản
- Chọn gà mái đẻ
Gà mái đẻ, đặc biệt gà giống cần được chọn lọc kỹ trước
khi lên đẻ và trong quá trình cho sinh sản. Ngoài việc chọn lọc theo
nguồn gốc, trong quá trình nuôi thường chọn theo ngoại hình để loại
thải kịp thời những gà mái đẻ kém ra khỏi đàn, tăng hiệu quả chăn
nuôi. Căn cứ vào độ lớn, độ mềm và độ đậm của mào, độ rộng của
bụng và vkhoảng cách của hai mỏm xương háng, độ mềm và bóng
của niêm mạc hậu môn của gà mái đẻ để chọn lọc. Những gà mái có
mào phát triển, mềm, đỏ tượ, độ rộng bụng đặt lọt 3 ngón tay trở lên,
bụng mềm, khoảng cách hai mỏm xương háng đặt lọt 2 ngón tay trở
lên, mỏm xương háng mềm, niêm mạc hậu môn ướt, mềm, độ đàn
hồi cao là những gà mái đẻ tốt. (xem hình 7.7).
- Mật độ nuôi
Mật độ nuôi là số gà /m
2
nên chuồng, phụ thuộc vào loài, lứa
tuổi, hướng sản xuất và phương thức nuôi.
Gà giống hướng trứng nuôi nền: 3,5 con/m
2
Gà giống hướng thịt nuôi nền :3 con/m
2
Protêin thô: 15-18%;
Canxi: 2,1-3,2%; Phốt pho: 0,75-0,80%.
Số lượng thức ăn cần thiết cho 1 con gà mái đẻ/1ngày đêm
phụ thuộc khối lượng cơ thể, sản lượng trứng (bảng 7.6), hoặc xác
định theo tuổi và hướng sản xuất của gà (bảng 7.7). Các yế tố dinh
dưỡng khác theo hướng dẫn trên bảng 7.8, 7.9.
Bảng 7. 6: Thức ăn cho gà mái đẻ (g/ngày đêm) theo
khối lƣợng (P) gà và sản lƣợng trứng (SLT) khác nhau
SLT
(quả/
năm)
P gà
1,75kg/
con
P gà
2,00kg/
con
P gà
2,25kg/
con
P gà
2,50kg/
con
P gà
2,75kg/con
120
102,5
111,5 243
Bảng 7. 7: Lƣợng thức ăn cho gà sinh sản (g/ngày/con)
Tuần tuổi
Gà hƣớng
thịt
Gà hƣớng
trứng
Gà thƣơng phẩm
nuôi lồng
23-24
100-130
107-112
105-110
25-26
120-140
110-120
110-115
27-28
140-155
110-120
110-115
29-42
140-155
110-120
110-115
Hình 7.9: Cầu đậu cho gà đẻ
Bảng 7.8: Nhu cầu về năng lƣợng, protêin và một số axít amin
cho gà
Nhóm gà
Gà
Broiler
Gà hậu bị
hƣớng trứng
Gà đẻ
hƣớng
trứng và
hƣớng thịt
Tuổi (tuần)
0-6 7-10
0-6 7-14 15-20
20- 54
Năng lượng trao
đổi (kcal/kg thức
ăn)
3200 3200
2900 2900 2900
2850
Protêin (%)
23 20
20 16 12
15
Lysine (%)
4000
Vitamin D (UI)
200
200
500
500
Calcium (%)
1,0
0,8
2,75
2,75
Phosphorus(%)
0,7
0,4
0,6
0,6
Sodium (%)
0,15
0,15
0,15
0,15
Các loại gia cầm khác như vịt, ngan, ngỗng, gà tây về
nguyên tắc nuôi dưỡng như là gà, nhưng do có đặc điểm sinh sống
khác nhau nên trong quy trình chăn nuôi cụ thể cho mỗi loại cần có
yêu cầu riêng và điều chỉnh các yếu tố kỹ thuật cho thích hợp. Dưới
đây là những kiến thức cơ bản nhất, cần tham khảo thêm các tài liệu
chuyên sâu cho các đối tượng nuôi này.
7.3. Kỹ thuật nuôi dƣỡng vịt, ngan, ngỗng
có sân chơi, bể nước để vịt tắm. Sau 3 tuần vịt được chuyển ra gần
mặt nước (ao, hồ, đầm, phá, kênh rạch) đề bơi lộ, tìm thêm thức ăn.
Thức ăn tự phối chế hoặc thức ăn công nghiệp do con người cung
cấp là chính.
- Nuôi thâm canh. Vịt được nuôi nhốt hoàn toàn, trong
chuồng, trên nền có độn lót hoặc trên sàn. Tiểu khí hậu chuồng nuôi
được khống chế thích hợp. Thức ăn, nước uống cung cấp chủ động
và đầy đủ, quá trình tự động hóa và cơ khí hóa cao.
248
Hình 7. 10: Ngan pháp dòng R71 và con lai với vịt
Super Meat
- 7.3.1. Kỹ thuật nuôi vịt thâm canh.
Nuôi thâm canh áp dụng cho các cơ sở giống quốc gia, nuôi
giữ giống gốc, sản xuất, cung cấp giống cho các cơ sở sản xuất
thương phẩm. Các yêu cầu kỹ thuật chính cho vịt nuôi nhốt là:
249
+ Nhiệt độ chuồng nuôi 15-20 0C, ẩm độ 70-75%; không khí
sạch chuồng nuôi: 8 m3 không khí/giờ/1kg khối lượng sống. Lượng
H
2
S không quá 0,007mg/lít, NH
3
: 0,034mg/lít, CO
2
: 0,025mg/lít.
+ Chiếu sáng: vịt con 8 giờ/ngày, vịt đẻ 14giờ/ngày, cuối kỳ đẻ
trứng có thể đến 16giờ/ngày. Cường độ chiếu sáng 5W/m2 nền,