197
luỹ và sự phân chia năng lượng tích luỹ đó trong protein và mỡ
(MacLeod, 1990). Khi mức năng lượng ăn vào cao, khoảng 85%
năng lượng tích trong mỡ và 15% năng lượng dự trữ trong protein.
Khi mức năng lượng ăn vào thấp, một lượng mỡ cơ thể được huy
động trong khi protein được tích luỹ. Hệ số dự trữ năng lượng trong
protein và trong mỡ ước tính tương đương 0,66 và 0,86 (Boekholt và
CTV, 1994).
Sự thay đổi về việc tích luỹ năng lượng và việc sinh nhiệt của
cơ thể cho thấy rằng khi năng lượng trong khẩu phần bị thiếu, sự có
mặt của vi sinh vật đường tiêu hoá rất có lợi cho cơ thể do làm giảm
hao tổn năng lượng, ngược lại khi năng lượng khẩu phần được cung
cấp đầy đủ, hiệu quả sử dụng năng lượng giảm xuống do sự có mặt
của các vi sinh vật này. Vì vậy, có thể kết luận rằng chính vi sinh vật
đường tiêu hoá làm thay đổi quá trình trao đổi năng lượng và giảm
hiệu quả sử dụng năng lượng của gia cầm (Muramatsu và CTV,
1994).
* Nhu cầu năng lượng cho sản xuất trứng
Theo Singh (1988), nhu cầu năng lượng để sản xuất 1 quả trứng gà
Leghorn là 86 Kcal ME. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và CTV (1994),
nhu cầu năng lượng để sản xuất 1 quả trứng là:
ME
sxt
=
(P x 1,6)
0,8
Trong đó: P - Khối lượng của trứng (gam); 1,6 - Giá trị năng lượng
của 1 gam trứng;
Trong trường hợp nhiệt độ cao hơn 25oC thì kết quả này sẽ
thay đổi ở độ mọc lông và lượng mỡ tích luỹ dưới da.
* Nhu cầu năng lượng cho gà đẻ trứng
Theo Nguyễn Mạnh Hùng (1994), nhu cầu năng lượng cho gà
có thể tính theo công thức: ME = 5 P + P(170 - 2,2T) + 2LE
Trong đó: ME là số Kcal ME/con/ngày; T là nhiệt độ môi trường (oC);P
là khối lượng gà (kg);
P là tăng trọng bình quân (g/ngày); L là tỷ lệ đẻ (%); E là khối lượng
trứng sản xuất ra (g).
Ví dụ, gà mái nặng 1,59 kg, tăng trọng hàng ngày 3 g, tỷ lệ đẻ 80%,
khối lượng trứng 62 g, nhiệt độ môi trường 26,7 oC, thì nhu cầu
năng lượng sẽ là:
ME = (5 x 3) + 1,59[170 - (2,2 x 26,7)] + (62 x 0,8 x 2) = 292
Kcal ME/con/ngày. 199
Theo Hoàng Văn Tiến (1995), có thể tính nhu cầu năng lượng
cho gà như sau:
Gà Leghorn: ME = (170 - 2,2T)Pm + 5(P) + 2E
Gà Rhode Island: ME = (140 - 2T)Pm + 5(P) + 2E
Trong đó: ME là số Kcal ME/con/ngày
T là nhiệt độ môi trường (oC)
Pm là khối lượng gà (kg)
(P) là tăng trọng bình quân (g/ngày)
E là khối lượng trứng sản xuất ra (g/ngày)
Công thức trên không tính đến sự khác nhau giữa các cá thể
về mức độ mọc lông và các hoạt động cơ bắp khi nuôi trong lồng
hay trên nền.
trưởng và cho tổng hợp lông. Theo Singh (1988), nhu cầu protein
tổng thể cho gà thịt là:
Pr(g) =
0,0016 x KLCT(g) + (0,18 x TT(g) )+ (0,07 x KLCT x 0,82)
0,64
Trong đó: Pr(g) - Nhu cầu protein cần thiết (g/con/ngày);
KLCT - Khối lượng cơ thể (g);
TT - Tăng trọng (g/ngày);
0,0016 - Nhu cầu protein (g) cho duy trì 1 gam KLCT;
0,18 - Tỷ lệ protein trong thịt là 18%;
0,07 - Tỷ lệ lông gà so với KLCT là 7%;
0,82 - Tỷ lệ protein trong lông là 82%;
0,64 - Hiệu quả sử dụng protein của gà thịt.
Trong giai đoạn sinh trưởng, tỷ lệ protein và axit amin trong
khẩu phần của gà thịt cần được tăng lên. Nếu protein khẩu phần
giảm thì sức sinh trưởng và tích luỹ nitơ của gia cầm sẽ bị giảm mặc
dù hiệu quả sử dụng thức ăn có thể tăng (Shafey và McDonald,
1991). Do gà rất nhạy cảm với mức protein khẩu phần nên trong thời
kỳ sinh trưởng gà có thể ăn vào lượng protein tương ứng với nhu cầu
của chúng khi nuôi các khẩu phần tự chọn. (Shariatmadri và Forbes,
1993). 201
6.4.2.2.2. Nhu cầu về axit amin của gà thịt
Khả năng sinh trưởng của gia cầm liên quan mật thiết với
hàm lượng các axit amin không thay thế trong khẩu phần. Nếu các
axit amin không thay thế trong khẩu phần thấp, gà sẽ giảm tốc độ
không bị ảnh hưởng bởi mức protein của khẩu phần (Kassim và
Suwanpradit, 1996).
Do nhu cầu tuyệt đối về axit amin rất biến động, phụ thuộc
vào các yếu tố giống, tính biệt, môi trường, quản lý, nuôi dưỡng, v.v.
nên xác định nhu cầu các axit amin trong khẩu phần của gà thịt dựa
vào tỷ lệ tương đối của các axit amin so với lysine, vì lysine thường
là axit amin giới hạn thứ nhất trong khẩu phần thức ăn của gà.
Cùng với các axit amin không thay thế, gia cầm cũng có nhu
cầu nitơ phi protein để tổng hợp các axit amin thay thế được. Do sự
sinh trưởng của gà đạt mức cao nhất ở những khẩu phần có tỷ lệ
protein thô cao, nên có thể cho rằng đó chỉ là nhu cầu về protein thô
thực chất. Thay vào đó, do hầu hết các khẩu phần đều chứa một
lượng nhất định các axit amin tổng hợp được nên gà thịt có thể có
nhu cầu các axit amin trong mạch peptid mà các axit amin tự do
không thể đảm bảo được (Surisdiarto and Farrell, 1991).
Bảng 6.1: Nhu cầu axit amin không thay thế cho gà thịt
(Larbier và Leelercq, 1992)
Axit amin
Duy trì
(mg/kgP/ngày)
Tăng trƣởng
(g/100g TT)
Lyzin
82
1,49
Methionin
36
0,70
74
82
38
43
6.4.2.3. Nhu cầu về protein và axit amin của gà mái đẻ
6.4.2.3.1. Nhu cầu protein của gà mái đẻ
* Nhu cầu protein cho duy trì
Protein rất cần thiết cho sự sống. Trao đổi protein xảy ra ngay
cả khi cơ thể động vật không nhận được protein từ thức ăn. Nhu cầu
protein cho duy trì sự sống được xác định từ giá trị trao đổi chất của
cơ thể và mối tương quan chặt chẽ với nhu cầu năng lượng cho quá
trình trao đổi cơ bản. Trung bình 1Kcal năng lượng trao đổi cơ bản
tạo ra được 2 mg N nội sinh trong nước tiểu (Bùi Đức Lũng, 1995).
Lượng N trong nước tiểu có liên quan chặt chẽ với khối lượng
cơ thể và nhu cầu protein cho duy trì. Theo Scott (Trích từ Bùi Thị
Oanh, 1996), cách tính protein cho duy trì như sau:
N nước tiểu (mg) = 201 x W
0,75
; Trong đó W là khối lượng cơ
thể (kg).
Lượng N thải qua phân bằng 50% lượng N thải theo nước tiểu
nên tổng lượng N thải ra khỏi cơ thể là 201 + 100 = 301 (mg).
Lượng protein cho duy trì (Prm) sẽ được tính theo công thức:
Pr
m
=
301 x W
0,75
1000 x 0,55
m
=
0,0016 x 18000
0,55
= 5,2 g/ngày
* Nhu cầu protein cho tăng trưởng
Sự phát triển của gà gắn liền với sự tích luỹ protein trong cơ
thể chúng. Sự tích luỹ xảy ra nhanh ở gia cầm non, sau đó giảm dần
theo lứa tuổi. Theo Bùi Đức Lũng (1995), nhu cầu protein cho tăng
trưởng của gà có thể tính theo công thức:
Prtt =
Wc - Wo
0,64
x 0,18
Trong đó: Prtt là nhu cầu protein cho tăng trưởng (gam)
Wo là khối lượng cơ thể lúc ban đầu
Wc là khối lượng cơ thể lúc kết thúc
0,18 là hàm lượng protein trong thịt
0,64 là hệ số sử dụng protein
* Nhu cầu protein cho sản xuất trứng
Bằng kết quả nghiên cứu, Ivy và Gleaves (1976) cho rằng nhu
cầu protein cho sản xuất trứng là 8,9 g/mái/ngày nếu gà đẻ 10% và
7,1 g/mái/ngày nếu gà đẻ 80%.
205
Protein chiếm 12% thành phần của trứng và hiệu quả sử dụng
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và CTV (1994), có thể tính nhu
cầu protein hàng ngày cho gà mái đẻ trong các giai đoạn khác nhau
(bảng 6.2).
Bảng 6.2: Nhu cầu protein hàng ngày của gà mái Leghorn trong
3 giai đoạn đẻ
Nhu cầu protein để
Lƣợng protein
Giai
đoạn I
(g/ngày)
Giai
đoạn II
(g/ngày)
Giai
đoạn III
(g/ngày)
Đẻ 1 quả trứng
5,6
6,0
5,3**
Protein duy trì/ngày
3,0
3,0
3,0
Protein sinh trưởng/ngày
1,2
0
0
SX trứng
(mg/1g trứng)
Lyzin
73
10,00
Methionin
31
4,77
Cystin
55
8,48
Isolơxin
67
7,97
Tryptophan
11
2.62
Threonin
32
6,9
Theo Thomas và Zuckerman (1986), nhu cầu lysine và
methionine cho gà mái đẻ được xác định bằng công thức:
Lysine (mg/mái/ngày) = 0,04P + 8(p) + 12,6E
Methionine (mg/mái/ngày) = 0,037P + 4,5(p) + 5,39E
Trong đó: P - Khối lượng cơ thể (g);
(p) - Tăng trọng bình quân (g/ngày);
E - Sản lượng trứng bình quân (g/ngày)
6.4.3. Nhu cầu các vitamin
Vitamin
ĐVT
Gà con
Gà sinh
trưởng
Gà đẻ
thương
phẩm
Gà đẻ
giống
Vitamin A
IU
11000
6600
8800
11000
Vitamin D3
IU
2200
2200
2200
2200
Vitamin E
IU
11
8,8
-
16,5
208
26,4
33
Piridoxin
mg
4,4
3,3
3,3
4,4
Biotin B8
mg
0,132
0,11
0,11
0,176
Axit folic
B9
mg
0,132
0,396
0,396
0,88
Cholin
mg
1320
990
1100
1100
Vitamin
B12
mg
CTV, 1990). Ảnh hưởng của natri đến sự sinh trưởng của gia cầm
cúng đã được nghiên cứu, nhiều báo cáo cho rằng sự sinh trưởng của
gia cầm bị giảm đáng kể khi khẩu phần nuôi thiếu natri.
Bảng 6. 5: Nhu cầu chất khoáng tính trong 1 kg thức ăn hỗn hợp
của gia cầm
(NRC, 1984)
Loại
gia
cầm
Ca
(%)
P
(%)
NaCl
(%)
Fe
(mg)
Cu
(mg)
I
2
(mg)
Mg
(mg)
Mn
(mg)
Se
(mg)
phẩm
3,25
0,5
0,4
50
3
0,30
500
25
0,1
50
Gà đẻ
trứng
2,75
0,5
0,4
80
4
0,30
500
33
0,1
65
6.5. Các yếu tố ảnh hƣởng đến nhu cầu dinh dƣỡng của gia
cầm
6.5.1. Ảnh hưởng của di truyền
Khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng và năng suất sản phẩm
của gia súc và gia cầm rất khác nhau do khả năng tiêu hoá, hấp thu
cũng như quá trình trao đổi chất của chúng khác nhau (N.R.C, 1984;
trống luôn có hệ số trao đổi chất cao hơn con mái (Singh, 1988). Hệ
số tích luỹ năng lượng so với mức ăn vào của gà Plymouth Rock lúc
1 ngày tuổi của con trống là 46,71% còn của mái là 40,60%. Chỉ số
211
này của gà Broiler Hybrid Hà lan tương ứng là 41,11% và 37,20%
(Cheshmedzhiev, 1984).
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước cho biết, khối
lượng cơ thể của gà trống cao hơn gà mái 15 - 20% (Bùi Đức Lũng,
1991). Gà trống và mái có qui luật sinh trưởng khác nhau rõ rệt khi
cùng nuôi khẩu phần có mức protein 24% và mức năng lượng 3100
Kcal/kg thức ăn (Lê Hồng Mận và CTV, 1993). Khả năng tăng trọng
của các dòng gà V1, V3 và V5 giống Hybro HV85 của con trống cao
hơn con mái (Trần Long, 1994).
Các hoạt động sinh lý như hô hấp, tuần hoàn, thần kinh của
gà trống và mái khác nhau, vì vậy chúng có nhu cầu khác nhau về
mức năng lượng và protein trong khẩu phần.
Theo Summer và Leeson (1984), mức năng lượng trong khẩu
phần ảnh hưởng rất lớn đến tăng trọng của gà mái, trong khi đó ít
ảnh hưởng đến tăng trọng của gà trống. Gà trống giai đoạn 5-8 tuần
tuổi sử dụng năng lượng trong khẩu phần hiệu quả hơn so với gà mái
(Singh, 1988).
Nhu cầu mức protein trong khẩu phần của gà mái luôn thấp
hơn so với gà trống khi khẩu phần đó có cùng mức năng lượng. Hàm
lượng protein trong khẩu phần nuôi gà trống phải trên 20% khi năng
lượng trao đổi là 3220 Kcal/kg, trong khi đó mức protein để nuôi gà
mái chỉ cần 16% (Bùi Đức Lũng, 1991).
Khi tăng đồng thời mức protein và năng lượng trong khẩu
phần, phản ứng của gà trống và gà mái có khác nhau. gà trống có
phản ứng mạnh khi thay đổi khẩu phần về protein tăng từ 22% lên
(Cheshmedzhiev, 1984).
Tỷ lệ protein trong thịt gà và tuổi có mối tương quan tuyến
tính âm (Baker, 1993). Như vậy, khác với năng lượng gà càng lớn
nhu cầu về tỷ lệ protein trong khẩu phần càng giảm.
213
6.5.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi
Gia cầm là động vật đẳng nhiệt, thân nhiệt luôn ổn định mặc
dù nhiệt độ môi trường có thể thay đổi lên xuống. Thân nhiệt bình
quân của gà trưởng thành dao động 41,2 - 42,2
o
C, cao hơn so với
thân nhiệt của loài động vật có vú (36 - 39
o
C). Gà con mới nở có
thân nhiệt thấp hơn 2-3
o
C và đạt được thân nhiệt của gà trưởng thành
sau 6 ngày tuổi do tích luỹ lớp mỡ dưới da và phát triển bộ lông bao
phủ có tác dụng cách nhiệt. Sự ổn định thân nhiệt của cơ thể gà được
điều khiển bởi trung tâm điều hoà thân nhiệt nằm ở vùng dưới đồi
(hypothalamus) bằng hai quá trình sinh nhiệt và toả nhiệt (Lê Văn
Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992).
Khi nhiệt độ môi trường tăng, nhu cầu năng lượng cho duy trì
của gia cầm giảm. Mối liên quan đó được biểu thị theo phương trình:
MEm = 170 - (2,2 x T
o
(Oluyemi, 1979). Khi thở gà thải ra lượng khí CO
2
nên làm giảm
lượng CO
2
trong máu và gây ra hiện tượng kiềm hoá máu. Những
biến đổi đó làm thay đổi nồng độ các chất điện phân, độ pH và áp
suất thẩm thấu của máu (Leeson, 1986; Dale và Fuller, 1980; Robert
và Blaxter, 1994). Trong điều kiện như vậy gà không thể thực hiện
được các chức năng của cơ thể một cách bình thường. Gà giảm tính
thèm ăn, uống nước nhiều, khả năng chuyển hoá thức ăn kém, hiệu
quả sử dụng thức ăn thấp.
Ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của stress nhiệt độ là làm giảm
khả năng tiếp nhận thức ăn và dẫn đến giảm sức tăng trọng của gà
thịt (Hurwitz, 1980; Dale và Fuller, 1980). Nếu nhiệt độ chuồng
nuôi trong khoảng 21-30
o
C, cứ tăng 1
o
C thì lượng ăn vào của gà
giảm 1,5%, tương tự nhiệt độ chuồng nuôi trong khoảng 32-38
o
C, cứ
tăng 1
o
C thì lượng thức ăn giảm 4,6%. Trong giai đoạn 3-8 tuần tuổi,
mức tiêu thụ thức ăn và tăng trọng của gà thịt giảm 0,12% cho mỗi
1
o
C tăng ngoài khoảng 21
là 83% thì ở 31
o
C là 80%; tỷ lệ tiêu hoá của methionine ở 21
o
C là
92%, giảm xuống ở 31
o
C là 87%; tương tự đối với isoleucine là 87
và 80%. Ở nhiệt độ cao, mức độ giảm tỷ lệ tiêu hoá axit amin của gà
mái cao hơn so với gà trống.
điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ tương đối có ảnh hưởng lớn
đến năng suất và hiệu quả sử dụng thức ăn. Ẩm độ tương đối trong
khoảng 48-90% không ảnh hưởng đến năng suất và khả năng chuyển
hoá thức ăn của gà nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 21
o
C. Ngược lại, nếu
nhiệt độ chuồng nuôi là 29
o
C thì khi tăng độ ẩm từ 30% lên 70% đã
ảnh hưởng xấu đến mức độ tăng trọng của gà thịt và năng suất trứng
của gà đẻ.
6.5.5. Ảnh hưởng của chất lượng thức ăn và sự cân bằng các chất
dinh dưỡng
Chất lượng của thức ăn và sự có mặt của các chất dinh dưỡng
trong khẩu phần ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu dinh dưỡng của gà.
Chất lượng của protein rất khác nhau từ các nguồn protein khác
nhau. Protein từ nguồn động vật có tỷ lệ tiêu hoá và hấp thu tốt hơn
so với nguồn protein từ thực vật. Trong các loại thức ăn thực vật,
protein từ hạt nhiều dầu tốt hơn protein từ hạt ngũ cốc (Singh, 1988).
khẩu phần 3080 Kcal/kg TĂ thì chi phí thức ăn là 2,04 kg TĂ/kg
tăng trọng, chỉ số này giảm xuống còn 2,0 khi gà được nuôi khẩu
phần có mức năng lượng 3135 Kcal.kg TĂ. Tuy nhiên, mỗi yếu tố
năng lượng không thể mang lại hiệu quả sử dụng tốt thức ăn cũng
như tốc độ tăng trọng của gà. Protein, axit amin cũng như một số
chất dinh dưỡng khác cần phải được cân đối một cách hợp lý so với
năng lượng. Hiệu quả sử dụng thức ăn của gia cầm tăng lên, nhu cầu
về protein và các axit amin tăng lên khi mức năng lượng trong khẩu
phần tăng (Grigoriev, 1981).
217
Khi protein trong khẩu phần được cung cấp đầy đủ và các axit
amin đạt mức cân bằng chính xác thì tốc độ sinh trưởng và hiệu quả
sử dụng thức ăn đạt mức cực đại. Khi khẩu phần bị thiếu một lượng
nhỏ axit amin thì con vật có xu hướng ăn nhiều hơn để thoả mãn nhu
cầu. Trong trường hợp này, tốc độ sinh trưởng có thể đạt tối đa, song
hiệu quả sử dụng thức ăn lại giảm (Almquist, 1952).
Cân bằng các chất dinh dưỡng, đáp ứng đúng nhu cầu của gia
cầm là biện pháp tốt nhất để tăng năng suất sản phẩm và tăng hiệu
quả sử dụng thức ăn tốt nhất. Trước hết là khẩu phần đó có hàm
lượng và tỷ lệ thích hợp giữa năng lượng và protein. Tuỳ theo giai
đoạn phát triển của gia cầm mà khẩu phần thức ăn cần có hệ số năng
lượng (Kcal)/%protein thô (hệ số C/P) khác nhau.
Hệ số C/P trong khẩu phần gia cầm ở giai đoạn còn non là
một chủ đề được nhiều người quan tâm trong dinh dưỡng gia cầm
qua nhiều năm. So sánh khẩu phần chứa 20% protein thô với khẩu
phần chứa 28% protein thô với cùng mức năng lượng, Leong và
CTV (1955) khẳng định rằng, sự thay đổi này đã làm giảm mức năng
lượng xấp xỉ 11,5%. Hiệu quả chuyển đổi thức ăn của những gà ăn
khẩu phần có mức protein cao tốt hơn so với gà ăn khẩu phần có
của gà ở giai đoạn vỗ béo là 105.6 - 110 Kcal/1% CP, và tỷ lệ C/P là
121 có thể chấp thuận (Combs, 1962). Hệ số C/P có thể giữ ở mức
175 trong khẩu phần chứa 18% protein thô và cân bằng các axit
amin (Uzu, 1982).
Tăng mức protein trong khẩu phần làm giảm đáng kể lượng
mỡ tích ở bụng (Cabel và ctv, 1988). Khối lượng mỡ càng giảm khi
năng lượng ăn vào giảm. Nuôi hạn chế năng lượng không ảnh hưởng
đến tỷ lệ thịt móc hàm nhưng có tác dụng đáng kể giảm lượng thức
ăn so với nhu cầu (Arafa và ctv, 1983).
Qua những phân tích trên đây về nhu cầu dinh dưỡng và các
yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm, chúng ta có
thể thấy các chất dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong chăn
nuôi gia súc. Tuỳ theo hướng sản xuất, giai đoạn phát triển của cơ
219
thể và giống mà nhu cầu về năng lượng, protein và axit amin ,
vitamin và khoáng khác nhau giữa các cá thể.
Rất nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt là năng
lượng, protein và axit amin của gia cầm ở các hướng sản xuất khác
nhau. Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố như di truyền, tính biệt, môi trường, chất lượng của thức ăn và
sự cân đối của các thành phần dinh dưỡng ở trong đó.
Các công trình nghiên cứu về dinh dưỡng gia cầm ở Vệt Nam
những năm gần đây (thống kê chưa đầy đủ, trong bảng 6.6) có thể
tìm thấy trong các tạp chí chuyên ngành: Nông nghiệp và phát triển
nông thôn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tạp chí Chăn
nuôi của Hội chăn nuôi Việt Nam, Website http//ww.vcn.vn/khoahoc
của Viện chăn nuôi quốc gia, Website http// hed.edu.vn của Vụ đại
học và sau đại học, Bộ giáo dục và đào tạo…
Xác định mức protein và năng
lượng thích hợp cho gà broiler
ROSS 208, ROSS 208V35 và HV35
Trần Công Xuân, Phùng Đức
Tiến…, 1999
Thay thế bột cá bằng bột đậu nành
cho gà thịt Hubbard
Lã Văn Kính, 1999
Nhu cầu protein, năng lượng, axit
amin cho gà broiler ISA
Bùi Đức Lũng và cộng sự,
2001
Thay thế hoàn toàn thức ăn đạm
động vật bằng đạm từ đậu đỗ cho gà
thịt giống Kabir
Trần Tố, 2001
Hàm lượng năng lượng, axit amin
thích hợp cho gà Tam Hoàng và
Kabir thịt
Trần Quốc Việt và cộng sự,
2001
Nghiên cứu sản xuất thức ăn cho gà
Kabir thương phẩm
Hồ Lam Sơn, Trịnh Xuân
Cư…, 2001
Xác định tỷ lệ protein thích hợp
trong khẩu phần cho gà Kabir,
F1(Mía x Kabir), F1 (Ri x Kabir)
nuôi ở miền trung
Trần Sáng Tạo, Nguyễn Đức
tượng gia cầm nuôi, phương pháp xác định.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu các chất dinh dưỡng ở
gia cầm.