Hóa chất trong thực phẩm
Hóa chất trong thực phẩm SOS!
Sự lạm dụng hóa chất trong chế biến và bảo quản thực phẩm tiêu dùng của người dân đã đến độ
nghiêm trọng. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có 35% số nạn nhân thế giới mắc bệnh
ung thư liên quan đến yếu tố thực phẩm và cung cách ăn uống thường ngày.
Các hóa chất hay bị lạm dụng
Borax (hàn the)
Đó là tên thương mại của hóa chất sodium tetra borate decahydrate. Borax là một loại bột trắng dễ hòa
tan trong nước. Khi tiếp xúc với nước, ngoài tính hòa tan, chất này còn hút nước hay gọi là ngậm nước
để được bão hòa với 12 phân tử nước. Chính vì tính chất này mà hóa chất trên được ứng dụng nhiều
trong kỹ nghệ thực phẩm. Đây cũng là một hóa chất có tính khử trùng và trừ sâu rầy nhẹ. Borax còn
được dùng để khử nước “cứng” là nước chứa nhiều calcium carbonate (vôi).
Vì đây là một loại thuốc sát trùng nhẹ cho nên tính độc hại của nó cũng ảnh hưởng tới sức khỏe con
người. Borax có thể xâm nhập cơ thể qua đường thực quản, khí quản, da hoặc mắt Tùy theo liều
lượng của borax xâm nhập vào người, phản ứng cấp tính của cơ thể diễn tiến như từ nhẹ đến nặng:
nhức đầu - cơ thể bải hoải - mạch tim đập nhanh - áp suất máu giảm - có thể bị phong giật và đi đến bất
tỉnh. Qua tiếp nhiễm dài hạn, có thể dẫn đến trầm cảm; đối với phụ nữ có thể gây nên tình trạng hiếm
muộn vì hóa chất này sẽ làm giảm thiểu thời kỳ rụng trứng.
Trong bánh tráng, bánh canh có thể chứa chất thuộc nhóm sulfur.
Sulfite
Đây là một loại hóa chất thuộc nhóm sulfur có thể xâm nhập vào thực phẩm tự nhiên trong môi trường
hay được thêm vào thực phẩm để bảo quản hay làm tăng hương vị đặc biệt của thực phẩm. Các sản
phẩm được một số nhà sản xuất áp dụng tính chất này là: bánh tráng, các loại bột dưới dạng sợi như
bánh canh, bún, miến…
Hóa chất trong xì dầu
Hóa chất có tên viết tắt là 3-MCPD, hay tên hóa học đầy đủ là 3-monochloropropane-1,2-diol. Trong
quy trình sản xuất xì dầu, phương pháp thủy phân bằng acid chlorhydric (HCl) trên các loại bánh dầu
thực vật như đậu nành, đậu xanh, hay trong các mô mỡ động vật… cho ra phế phẩm trên và một số
hóa chất tương tự thuộc nhóm chloropropanol.
Tương tự như các hợp chất hữu cơ chứa chlor khác, 3-MCPD khi đi vào cơ thể qua đường thực phẩm
sẽ tích tụ trong các mô mỡ và gan. Qua thời gian, một khi liều lượng của hóa chất trên cao hơn mức an
chảy nước mắt và ngứa. Nếu bị tiếp nhiễm qua đường thực quản có thể bị hôn mê và dẫn đến tử vong.
Kỹ nghệ trái cây sử dụng đến hóa chất này nhiều nhất. Để “thúc” trái cây có lợi điểm là làm bắt mắt
người mua, nhưng phẩm chất của trái cây không còn giữ được như trong tự nhiên nữa như độ ngọt và
mùi vị sẽ kém đi. Hiện nay khí đá đã được thay thế bằng một hóa chất tổng hợp khi pha vào nước sẽ
gây phản ứng cho ra khí đá và làm trái cây chín sau vài giờ ngâm trong dung dịch.
Thận trọng khi sử dụng trái cây nhập khẩu có chất bảo quản không
có lợi cho sức khỏe.
Hóa chất bảo quản sodium benzoate
Trong kỹ nghệ, sodium benzoate là một hóa chất dùng để bảo quản thực phẩm để khỏi bị hư và có tính
chống mốc. Hóa chất này sẽ giúp thực phẩm không bị đổi màu, giữ mùi nguyên thủy và sau cùng bảo
quản các thành phần cấu tạo sản phẩm cũng như không làm biến dạng. Theo Cơ quan Quản lý Thực
phẩm Hoa Kỳ, mức chấp nhận của hóa chất này trong thực phẩm là 0,1%. Và nồng độ có thể gây tử
vong khi xâm nhập vào cơ thể là 2g/kg/trọng lượng cơ thể.
Hóa chất bảo vệ thực vật
Người tiêu dùng thường nói “chớ thấy rau, củ, quả xanh tươi mà ham mua”. Đó là cách tránh không bị
mua phải thực phẩm dùng quá nhiều hóa chất bảo vệ thực vật.
Có hai loại thường dùng nhất là endo sulfan và metamidophos; chất sau này còn có tên thương mại là
monitor. Monitor là một hoá chất bảo vệ thực phẩm gốc phosphor. Đây là một loại thuốc trừ sâu rất độc
đối với hệ thần kinh và nội tạng. Người tiêu dùng thực phẩm có thể bị ngộ độc cấp tình như tức ngực,
khó thở, chảy nước mũi, đau đầu, đau bụng, buồn nôn, rối loạn nhịp tim… Khi chất này tích tụ trong cơ
thể lâu ngày có nguy cơ gây ngộ độc mạn tính, phá hủy các cơ quan nội tạng và dẫn đến các chứng
ung thư.
Các phẩm màu trong thực phẩm
Trong thực phẩm, màu giữ một địa vị rất quan trọng. Nó làm cho sản phẩm bắt mắt hơn, gây chú ý cho
người mua và gây ảnh hưởng tốt về phẩm chất của món hàng. Có hai loại màu: màu tổng hợp và màu
thiên nhiên. Màu thiên nhiên được trích từ các mô của cây cỏ.
Còn màu tổng hợp thường tan trong nước và ổn định hơn. Lợi điểm của màu tổng hợp là màu rất bền
không bị tác dụng do thời gian, nhiệt độ hay ánh sáng. Các nhà sản xuất thực phẩm rất thích dùng loại
màu tổng hợp hơn. Các màu tổng hợp được dùng để nhuộm đỏ như sudan hay rhodamine là một trong
những hóa chất có nguy cơ gây ung thư.
“chảy nước” và nhờ đó có thể thêm vào nhiều vôi và magnesium vào để tăng trọng
lượng của kem mà không có tác dụng gì đến việc làm sạch răng; đôi khi còn làm lở
nướu răng nữa vì hàm lượng vôi cao
Đối với kỹ nghệ thực phẩm hiện tại, nhiều loại bánh tránh, bánh phở, hủ tiếu được cho
thêm borax để được dai, cứng, lâu thiu hơn. Còn các loại chả lụa, chả quế cũng được
tăng thêm độ dòn, chống được mốc meo và lâu thiu cũng nhờ borax. Đối với các loại
thực phẩm tươi như thịt cá để lâu ngày đã biến dạng, nếu có thêm borax, chúng trở
nên nên cứng và có vẻ tươi trở lại. Đại khái trên đây là những ứng dụng không lành
mạnh của borax mà con buôn dùng các thủ thuật nầy trong thực phẩm để làm sai lạc
và đánh lầm thị hiếu của người mua.
Formol
Formol có tên hóa học là formaldehyde, công thức là HCHO. Ở dưới dạng lỏng,
formol có mùi rất khó ngữi và chỉ được tung ra thị trường dưới dạng hòa tan trong
rượu methanol từ 37 đến 50%. Do đó, ngoài độc chất là formol, chúng ta cũng cần để
ý đến độc tính của rượu methanol hay methylic. Trong quá trình chưng cất rượu
ethylic, hay rượu cồn, luôn luôn có thêm một phó phẩm là methanol rất độc. Do đó,
thỉnh thoảng chúng ta vẫn thường thấy trên báo chí Việt Nam nhiều trường hợp bị
nhiễm độc đi đến tử vong do uống rượu methylic kỹ nghệ là do hóa chất nầy.
Trở về formol, con người khi bị tiếp nhiễm qua da, mắt cảm thấy ngứa ngái khó chịu.
Khi bị xâm nhập vào thực quản, cơ thể sẽ phản ứng mạnh mẽ như ói mữa, bị tiêu chảy
và mất nước mau chóng có thể đi đến tử vong. Nếu da bị tiếp xúc lâu ngày sẽ trở
thành nhạy cảm, dị ứng và có những chứng bịnh ngoài da phát sinh như bịnh gảy
ngứa (eczema).
Như mọi người đều biết, công dụng chính thức của formol ngoài việc được xử dụng
trong các phản ứng điều chế hóa chất cơ bản trong kỹ nghệ, formol còn được dùng để
6
H
5
. Theo Cơ
quan Quản lý Thực phẩm HK, mức chấp nhận của hóa chất nầy trong thực phẩm là
0,1%. Và nồng độ có thể gây tử vong khi xâm nhập vào cơ thể là 2g/Kg/trọng lượng
cơ thể.
Qua độc tính kể trên, chúng ta cần phải nói đến quá trình điều chế hóa chất trên. Theo
quy trình sản xúât sodium benzoate, một phế phẩm độc hại là phenol luôn hiện diện
trong thành phẩm nầy. Do đó, sodium benzoate sau khi sản xuất cần phải khử phenol
trước khi tung ra thị trường cho kỹ nghệ thực phẩm. Nếu không, nguy cơ bị nhiễm
độc do phenol rất lớn, và hóa chất nầy ảnh hưởng đến hệ thần kinh, nhất là đối với trẻ
em và thai nhi trong bụng mẹ khi bị tiếp nhiễm qua đường thực phẩm.
Hiện tại hóa chất trên được nhập cảng từ Trung Quốc và dĩ nhiên có chứa rất nhiều
tạp chất như phenol. Vì vậy, cần phải xem xét xuất xứ của hóa chất trước khi đem áp
dụng vào thực phẩm.
Hóa chất tẩy trắng chloride sodium hydrosufite.
Đây là một loại bột trắng, khi bị tiếp nhiễm qua đường khí quản, căn cứ theo Cơ quan
Quyền lực Âu châu về An toàn Thực Phẩm (AESA), cơ thể con người sẽ cảm thấy bị
khó thở và có thể bị nghẹt thở. Đôi khi bị ho rũ rượi. Sự hiện diện của nguyên tố chlor
cũng là nguyên nhân của nguy cơ ung thư nếu bị tiếp nhiễm lâu dài.
Trong kỹ nghệ thực phẩm, hóa chất nầy được dùng để làm trắng các sản phẩm để làm
bắt mắt người tiêu dùng. Các sản phẩm được nhà sản xuất áp dụng tính chất nầy là:
bánh tráng, các loại bột dưới dạng sợi như bánh canh, bún, miếng v.v… Một thí dụ
điển hình là trước kia, bánh tráng sản xuất từ VN có màu ngà, và hay bi bể vì dòn.
tác giả Liêu Tử ở Việt Nam :” Các bạn phải luôn đề cao cảnh giác, và nhớ luật
nầy: các thứ rau, củ, quả, ngó thấy ngon chớ mà ham. Trái khổ qua, ngó như
trái bị đèo thì hãy mua. Củ cải trắng, củ cà rốt cũng vậy. Người trồng trọt xứ
mình chi ham trồng được rau củ quả to bự, cân có ký, bán có giá, mặc sức hóa
chất tống vào trong đó”. Xin thưa hóa chất tống vào đó chính là hóa chất bảo vệ
thực vật tức là hóa chất diệt cỏ, trừ sâu rầy, trừ nấm mốc v.v Các hoá chất diệt trừ
cỏ dại nếu dùng liều lượng thích hợp sẽ biến thành các hóa chất “kích thích tăng
trưởng” . Đó chính là lý do tại sau rau đậu, quả dưa, trái cà, thậm chí đếm cọng giá,
cong rau muống …cũng to lớn, xanh mướt rất bắt mắt.
TS Nguyễn Đức Tuấn, Trưởng phòng thí nghiệm Môi trường thuộc Trung tâm Kỹ
thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng I đã cho biết như sau:”Kết quả nhiều đợt phân
tích cho thấy tất cả các loại hoa quả TQ và cam Việt Nam đều có chứa thuốc diệt cỏ
2,4-D và 2,4,5-T. Các loại hóa chất nay đang được nông dân xử dụng để bảo quản hoa
quả Trung tâm Thông tin và Chuyển giao Hà Giang đã chuyển đến chúng tôi hai gói
boat in chữ TQ với hình ảnh quả hồng tươi rói. Qua phân tích chúng tôi tìm thấy
nhiều hợp chất trong đó có hóa chất 2,4-D có hàm lượng đến 70%. Riêng gói thuốc
diệt cỏ có băng màu xanh đậm còn tìm thấy hóa chất 2,4,5-T”. Các gói hóa chất nay
được bày bàn tự do ngoài thị trường ở Hà Nội và Tp Sài Gòn dưới giá khoảng 2.000
Đồng Việt Nam một gói độ 2g. Liền ngay khi kết quả trên được công bố, ngày
13/5/2004, ông hoàng Thủy Tiến, Phó Cục trưởng Cục An toàn Vệ sinh Thực Phẩm
đã tuyên bố:” Các hóa chất bảo vệ thực vật 2,4-D và 2,3,5-T trong táo, mơ, trứng, sữa
và các loại quả mọng khác có hàm lượng không quá 0,05 mg/kg hoa quả. Như vậy,
lượng hóa chất độc hại tồn dư trong hoa quả vẫn dưới ngưỡng cữa cho phép. Người
tiêu dùng không nên quá lo lắng”. Theo Cơ quan Lương Nông Quốc tế (FAO) và Cơ
quan Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), hai loại hóa chất trên hoàn toàn bị
cấm sử dụng cho thực phẩm.
Yugi
Cựu Moderator
Ảnh chỉ mang tính chất minh họa
Hàn the cũng là một hóa chất có tính khử trùng và
trừ sâu rầy nhẹ. Trong kỹ nghệ bột giặt, borax được
dùng như một chất phụ gia để chống ẩm và không
biến bột giặt đóng cụt theo thời gian vì đỗ ẩm cao
trong không khí. Borax còn được dùng để khử nước
"cứng" vì chứa nhiều calcium carbonate (vôi) và
magnesium carbonate (thạch cao).
Vì đây là một loại thuốc sát trùng cho nên tính độc
hại của nó cũng ảnh hưởng lên con người. Khi tiếp
xúc với borax qua đường thực quản, cơ thể sẽ cảm
thấy khó chịu như bị dị ứng và có thể đưa đến tử
vong khi hấp thụ một liều lượng lớn. Qua đường khí
quản, da hoặc mắt, cơ thể cũng có phản ứng tương
tự nhưng nhẹ hơn.
Tùy theo liều lượng của borax xâm nhập vào người,
phản ứng cấp tính của cơ thể diễn tiến như sau từ
nhẹ đến nặng: nhức đầu - cơ thể bải quải - mạch đập
nhanh - áp suất máu giảm - có thể bị phong giựt
(seizure) và đi đến bất tỉnh.
Qua tiếp nhiễm dài hạn, con người có cảm giác bị
trầm cảm (depression), và đối với phụ nữ có thể bị
sinh ra hiếm muộn vì hóa chất nầy sẽ làm giảm thiểu
thời kỳ rụng trứng.
Ảnh chỉ mang tính chất minh họa
Chính nhờ tính ngậm nước và khử trùng của borax
mà còn người đã lợi dụng trong nhiều dịch vụ không
chính đáng. Trong giai đoạn sau 1975, kỹ nghệ làm
xà bông cây và kem đánh răng đã xử dụng borax để
độ cứng của xà bông tăng và vì hấp thụ thêm nước
nữa là 77%. Mục đích sử dụng hàn the, formol là để
thực phẩm giòn, dai, tạo cảm giác mà người tiêu
dùng thích. Hàn the khi ăn vào sẽ tích lũy trong cơ
thể khoảng 15%, tập trung nhiều nhất là ở gan và
não, kế đó là tim, phổi, dạ dày, thận, ruột Khi ăn
nhiều hàn the sẽ có biểu hiện khó tiêu, chán ăn, mệt
mỏi, gây thoái hóa cơ quan sinh dục, làm suy yếu
khả năng sinh sản và gây tổn thương bào thai.
Formol là loại phụ gia thì có tính sát trùng mạnh,
thường dùng trong y tế để ướp xác người hay xác thú
vật để giữ cho lâu, loại thuốc này có thể gây ra viêm
loét dạ dày và gây ung thư.
Chữ kí cá nhânVợ một cô, bồ một đống
08-24-2006 Mã bài: 3306 #3
hoangcyberchem
Thành viên ChemVNTham gia ngày: Jul 2006
Tuổi: 27
Posts: 33
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Groans: 0
Groaned at 0 Times in 0 Posts
Rep Power: 0
Có 1 ứng dụng rất hay của Borax là : Dung dịch Borax
không màu nhưng khi chiếu đèn cực tím vào thì sẽ phát
quang. Do đó, nó được dùng làm mực của viết tàng hình.
dùng trong y tế để ướp xác người hay xác thú vật để giữ
cho lâu, loại thuốc này có thể gây ra viêm loét dạ dày và
gây ung thư.
Trong các chất tẩy rửa, keo dán cũng có một lượng nhỏ
formaldehyl.
Formaldehyd là chất dễ dàng kết hợp với các protein trong
thực phẩm tạo thành một hợp chất bền khó phân hủy, nhờ
đó thực phẩm giữ được độ tươi lâu hơn. Tuy nhiên, nó đã
ko còn sử dụng nhiều vì những tính chất quá độc hai. Thế
nhưng Hàn the vẫn luôn tồn tại trong một số thực phẩm,
mặc dù trên thị trường đã có nhiều sản phẩm thay thế hàn
the (Hàn the khi vào cơ thể chỉ đào thải được khoảng 70%,
phần còn lại sẽ ở trong người vĩnh viễn, cứ như thế cơ thể
tích tụ ngày càng nhiều và ung thư là tất nhiên)
Chữ kí cá nhânEm có miệng mà lạ lùng cách nói
Nên ý mình chưa đủ thoát làn môi
My poem i n my blog < Welcome
Điểm mặt hóa chất gây hại "giấu mặt" trong
thực phẩm
Các chị em - những bà nội trợ hãy đặc biệt lưu ý nhé vì dù là hóa chất nhân tạo
hay hóa chất tự nhiên đều không tốt cho sức khỏe con người.
Dù là hóa chất nhân tạo hay hóa chất tự nhiên thì đều không tốt cho sức khỏe con
người. Hóa chất được thêm vào thực phẩm bạn ăn từ khi bạn còn là một bào thai. trong
bụng mẹ. Vì thế, bạn cần hiểu và tránh về các loại phụ gia thực phẩm, hóa chất nhân
tạo để lựa chọn thực phẩm tự nhiên hơn dễ dàng hơn.
Hóa chất thường được thêm vào thực phẩm nhằm giữ cho thực phẩm tươi lâu hoặc tạo
màu sắc cho thực phẩm.
Đường hóa học
Các chất đường hóa học có chứa một chất gọi là PKU, hoặc phenylketonuria – một
chất có tính độc hại có thể dẫn đến chậm phát triển về thần kinh. Một số nhà khoa học
Có thể nói với hơn 14.000 hóa chất được “bổ sung” một cách vô tình hay cố ý vào
thực phẩm thì cũng đều là mối đe dọa cho sức khỏe con người.
Để bảo vệ sức khỏe của mình và người thân, bạn hãy lưu ý đọc kĩ các nhãn mác của
hàng hóa trước khi quyết định lựa chọn.
Các hóa chất nitơ (phổ biến là nitrate) rất nguy hiểm cho sức khỏe con người khi có
mặt trong các loại nông sản, lương thực và thực phẩm cũng như trong nước uống với
liều lượng vượt mức quy định của Tổ chức Y tế thế giới. Khi hàm lượng nitrate
(NO3) trong nước uống và rau quả vượt quá mức sẽ gây ra các bệnh hiểm nghèo như:
“hội chứng trẻ xanh” (Methemoglobinaemia) vì ăn rau nhiễm độc – xảy ra khi đứa trẻ
1 tuổi gây ra “tắc nghẽn hóa học” kìm hãm sự vận chuyển oxy trong máu làm cho đứa
trẻ xanh xao, chậm lớn và gầy yếu. Đối với người lớn thì có nguy cơ bị ung thư dạ
dày bằng việc tạo ra hợp chất Nitrosoamine trong cơ thể.
Ngộ Ðộc các hóa chất bảo vệ thực
vật
I. Mở Ðầu
Hiện nay các thuốc trừ sâu, trừ mốc trong nông nghiệp được gọi bằng một
CÁI TÊN CHUNG LÀ HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT. ĐÓ là danh từ chung
để chỉ các chất hóa học được dùng để chống sâu bệnh bảo vệ cây trồng.
NHU CẦU SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT Ở nước ta ngày
khoảng 30-40 ngàn tấn trong một năm. Tuy nhiên, ngoài tác dụng diệt sâu bệnh,
hóa chất bảo vệ thực vật cũng đã và đang gây ô nhiễm môi trường (đất, nước,
không khí) và lương thực thực phẩm. Từ đó gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và
mãn tính cho người tiếp xúc và người sử dụng (xem bảng dưới đây).
Thời gian Ðịa điểm Số người
bị ngộ
độc cấp
Tử vong
1980-1982 Bệnh viện Bạch Mai 182 38
1980-1982 Bệnh viện Việt Nam-Cu
Ba
Sulfolot (CE 40%)
Loại III: ít độc:
Aldrin (bột 5%) CLORDECAN (BỘT 10%)
DDT (PDE 40%)
Malation (PDE 50%)
Ghi chú:
C.E: nồng độ thể sữa.
P.D.E: Bột huyền phù trong nước.
B. Phân loại theo mục đích sử dụng trong sản xuất.
Thuốc diệt côn trùng gây hại.
Thuốc chống bệnh nấm cho côn trùng.
Thuốc diệt cỏ dại
Thuốc làm rụng lá cây .
Thuốc kích thích sinh trưởng.
Thuốc chống bệnh vi khuẩn thực vật
C. Phân loại theo cấu tạo hóa học. Bao gồm:1. Các thuốc hữu cơ tổng hợp: Là loại
phổ biến nhất, bao gồm lân hữu cơ,
Clo hữu cơ, thủy ngân hữu cơ, cấc dẫn xuất nitro và clo của phenol
2. Các thuốc vô cơ: như Asenit natri, aseniat canxi, sulfat đồng (CUSO4)
Sau đây chúng tôi chỉ nêu lên một vài hóa chất bảo vệ thức vật chính
THƯỜNG ÐƯỢC SỬ DỤNG NHIỀU Ở NƯỚC TA. ĐÓ LÀ hai nhóm clo hữu cơ
và lân hữu cơ
Nhóm clo hữu cơ: Thuộc loại này có 2 thứ thuốc hay dùng ở NƯỚC TA
LÀ DDT và 666.
+ DDT (DICLORO- DIPHENYL- Tricloetan): có tác dụng diệt sâu bệnh
tất, duy trì hoạt tính trong vài tháng, nó khá bền vững trọng môi trường bên ngoài.
Vào cơ thể nó tích lũy khá LÂU Ở CÁC MÔ MỠ VÀ GAN. CÓ RẤT NHIỀU
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ÐỘC TÍNH CỦA DDT ÐỐI VỚI ÐỘNG VẬT
MÁU NÓNG. DDT CHỈ GÂY ngộ độc cho người và gia súc khi qua đường tiêu
hóa.
VỚI LƯỢNG CÒN SÓT LẠI NHƯ TRÊN VÀ ăn kéo dài thì có nhiều nguy cơ
dẫn tới ngộ độc mãn tính. Ðó LÀ ÐIỀU ÐÁNG LO NGẠI BUỘC CÁC NHÀ
chức trách phải suy nghĩ và có biện pháp tích cực phòng tránh.Nhiều công trình
nghiên cứu gần đây cho phép khẳng định khả nàng ngộ
ÐỘC DDT Ở NHỮNG ÐỨA TRẺ BÚ SỮA MẸ. DDT ÐƯỢC BÀI tiết ra ngoài
không chỉ qua đường nước tiểu và phân mà còn qua sữa mẹ . Ở NƯỚC TA, ÐÃ
CÓ MỘT số công trình nghiên cứu và cho kết quả nhận xét là: Tất cả các bà mẹ dù
CÓ TIẾP XÚC HAY KHÔNG TIẾP XÚC TRỰC TIẾP VỚI DDT ÐỀU CÓ
LƯỢNG DDT TRONG SỮA MẸ RẤT CAO, VÌ DDT xâm nhập vào cơ thể chủ
yếu qua đường tiêu hóa, cao hơn rất NHIỀU LẦN SO VỚI LIỀU LƯỢNG CHO
PHÉP CỦA OMS (0,05ppm), của Liên Xô (0,14ppm) và của Hungari (0,13ppm).
+ 666: Công thức C6H6CL6 (Hexacloxyclohecxan)
666 kết thành bột không hòa tan trong nước, nhưng hòa tan mạnh trong
dung môi hữu cơ. Khác với DDT, Hexacloran gây nhiễm độc mạnh ở SÂU BỌ
VÀ ÍT GÂY ÐỘC ÐỐI VỚI ÐỘNG vật máu nóng. Liều gây chết cho thỏ là 900
mg/kg. Hexacloran sau 1 lần dùng vẫn còn tồn tại trong cơ thể một thời gian dài.
Khi cho thỏ ăn 1 liều 600mg/kg người ta thấy chất (độc vẫn còn tồn tại trong máu
11 ngày sau. Như vậy các hóa chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm Clo hữu cơ bao
gồm DDT VÀ 666 ÐỀU CÓ TÍNH TÍCH LŨY LÂU trong cơ thể và là chất gây
độc đối với hệ thần kinh trung ương, thường được tích lũy trong các mô mỡ và
thải trừ rất chậm. Nó RẤT BỀN VỮNG TRONG NƯỚC, ÐẤT, TỪ ÐÓ GÂY Ô
NHIỄM RA NGOẢI MÔI trường một cách lâu dài. Trong thực phẩm đã phát hiện
thấy dư lượng cao hóa chất bảo vệ thực vật nhóm Clo hữu cơ trong sữa, sản phẩm
chế biến từ sữa, mỡ động vật, cá, trứng Hiện nay nhiều nước đã cấm hoặc hạn chế
SỬ DỤNG TRONG. Ở NƯỚC TA DDT VÀ 666 KHÔNG CÒN ÐƯỢC SỬ
DỰNG trong sản xuất nông nghiệp nữa mà chỉ còn được dùng trong công tác
phong chống dịch như diệt muỗi trong phòng chống sốt rét, chống sốt xuất huyết
Nhóm Lân hữu cơ:
Cũng có tác dụng mạnh đối với côn trùng và thực vật có hại. Hóa chất bảo
vệ thực vật lân hữu cơ thường được dùng với nồng độ thấp, thời gian tồn tại trên
máu. Tăng nồng độ axit pyruvic trong máu.
NGOÀI 5 HỘI CHỨNG KỂ TRÊN, NHIỄM ÐỘC HCBVTV còn có thể
gây tổn thương đến hệ tiết NIỆU, NỘI TIẾT VÀ TUYẾN GIÁP.
IV. BIỆN PHÁP XỬ LÝ.
Ðưa ngay nạn nhân ra khỏi khu vực bị nhiễm độc. Cởi bỏ
quần áo, lau sạch thuốc còn dính lại trên da nếu là nhiễm độc qua da. Nếu
nhiễm độc qua ăn uống phải cho rửa dạ dày ngay, để chậm quá 2 giờ thì
không còn hiệu quả nữa.
Tiêm atropin liều cao l-2mg/1 lần, tùy theo nặng nhẹ mà tiêm
tĩnh mạch, bắp, dưới da. Cứ 15-30 phút tiêm nhắc lại cho tới khi bão hòa
Atropin thì thôi ( bệnh nhân có biểu hiện mặt hồng, môi khô, mạch nhanh).
Cho thuốc lợi niệu, thở ôxy.
NẾU CÓ ÐIỀU KIỆN THÌ CHO TIÊM PAM (Pyridineandoxim-iodo-metilat) để
hồi phục lại hoạt động CỦA MEN AXETYL
CHOLINESTERAZA. TIÊM TĨNH MẠCH, TIÊM 0, 5-1gam. Nếu chưa
đỡ thì tiêm thêm 1 lần nữa. Tổng liều không quá 2 gam. Tiên lượng nói chung còn tùy
thuộc vào lượng thuốc đã ăn uống vào. Có
3 khả năng:
Khỏi hoàn toàn không để lại di chứng.
Chuyển sang mãn tính ( ít gặp hơn )
TỬ VONG ( ÍT GẶP HƠN )
V. BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG.
Ðể chủ động đề phòng ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vặt, bảo vệ môi trường
sống, đảm bảo an toàn trong sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật cần thực hiện một
số biện pháp sau:
1. Tăng cường công tác quản lý hóa chất bảo vệ thực vật chặt chẽ của
ngành nông nghiệp. Chỉ nhập hoặc sản xuất các loại hóa chất bảo vệ thực vật có
hiệu quả cao đối với sinh vật gây hại nhưng ít độc đối với người và động vật
2. Tăng cường giáo dục và huấn luyện người sừ dụng hóa chất bảo vệ thực
vật cá các biện pháp bảo đảm an toàn cho bản thân và người tiêu dùng: Riêng đối
như
hóa chất hiện diện khắp mọi nơi, mọi chỗ. Ăn một tô phở, ăn một gói mì, một lon
soupe,
uống một lon coca, thậm chí nhai một thỏi chewing gum, chúng ta cũng đã vô tình
nuốt
vào người một số chất hóa học nào đó rồi! Nhưng xin quý bạn đừng vội hoang mang.
Nói
là nói vậy thôi chớ không phải hóa chất nào cũng đều độc, cũng đều có hại cho cơ thể
hết
đâu nhé. Cũng tùy loại hóa chất, tùy theo ăn uống nhiều hay ít, ăn uống có thường
xuyên
hay không và đôi khi cũng còn tùy theo người ăn nữa, có người ăn vô thì không hề
hấn
gì, có người khác thì bị phản ứng ngay lập tức, chẳng hạn như ngứa ngáy, nổi mề đay,
khó thở, v.v…Cuộc sống càng văn minh tiến bộ, con người càng phải đối đầu nhiều
hơn
với hiểm hoạ hóa chất cũng như chất phụ gia…
Chất phụ gia là gì?(Additifs alimentaires, Food additives)
Đây là những chất người ta cố tình trộn thêm vào thức ăn hoặc thức uống để cho
chúng
khỏi bị hư thối, để kéo dài thời gian bảo quản được lâu hơn, nhưng vẫn không làm
thay
đổi chất lượng và hương vị của sản phẩm. Đôi khi người ta cũng sử dụng chất phụ gia
để
có được một tính chất mong muốn nào đó, như để cho sản phẩm được dai, được dòn;
để
có một màu sắc hoặc một mùi vị thích hợp nào đó hầu dễ hấp dẫn người tiêu thụ hơn!
Nhờ chất phụ gia mà bánh mì có thể giữ được lâu ngày hơn mà không sợ meo mốc;
bánh
biscuit, céreal, chip giữ được độ dòn rất lâu dài; củ kiệu được trắng ngần dòn khướu;
Tùy
theo chức năng, chúng được xếp thành 15 nhóm. Liều lượng tối đa tồn trữ (dose
maximale de residu, maximal residue levels ) và liều lượng thường nhật khả chấp
(dose
journalière admissible, acceptable daily intake) của từng chất phụ gia đều được quy
định rõ ràng.
Theo đà phát triển và khám phá mới của khoa học, người ta không ngừng điều chỉnh
bảng danh sách các chất phụ gia đã được cho phép sử dụng từ trước. Có những chất
trước
kia thì được cho phép, nay thì nó lại trở thành những chất nguy hiểm nên bị cấm sử
dụng,
trong khi đó cũng có những chất phụ gia mới được bổ sung thêm vào trong danh sách.
Thí dụ điển hình là 2 chất đường hóa học Saccharine và Cyclamate, trước kia được
thấy
dùng rộng rãi trong kỹ nghệ thực phẩm để làm sản phẩm diète, ngày nay đã bị Canada
cấm sử dụng trong kỹ nghệ vì thấy chúng có thể gây ra cancer bọng đái ở chuột thí
nghiệm với những liều lượng khổng lồ chất Saccharine. Tuy bị cấm sử dụng trong kỹ
nghệ nhưng hai loại đường này vẫn được cho phép dùng với tính cách cá nhân với
liều
lượng nhỏ để mỗi người tự mình bỏ vào café. Có lẽ dưới áp lực của kỹ nghệ đường
hóa
học, hiện nay Santé Canada đang cứu xét để rút lại quyết định cấm sử dụng
Saccharine vì
theo Cơ quan nầy thì trong thực tế mối nguy cơ bị cancer ở người rất ư là thấp và
không
đáng kể
Mỗi khi có ý định sản suất một sản phẩm mới, nhà sản xuất cần phải đệ nạp cho Cơ
quan
Kiểm Tra Thực Phẩm (CFIA) tất cả hồ sơ liên quan đến các công đoạn sản xuất (cách
biến chế, công thức, nhãn hiệu) để được duyệt xét…
Pakistan, Ghana (Phi châu), v.v…Đó là các loại tương ớt, bột ớt, bột cà ri, dầu cọ
(palm
oil)…
Một số chất phụ gia điển hình
*Các chất rút độ ẩm: silicate de calcium trong muối, bioxyde de silicium trong đường.
*Các chất tẩy trắng: bromate de potassium, azodicarbonamide trong bột và trong bánh
mì.
*Các phẩm màu: carotène trong margarine, amarante trong kẹo. Có tất cả lối 30 phẩm
màu (colorants) được cho phép sử dụng, trong số này có 10 màu hóa học nhân tạo, số
còn
lại có nguồn gốc thiên nhiên. Trên nhãn hiệu sản phẩm, nhà sản xuất có quyền chỉ nêu
chữ colorant mà thôi, khỏi phải nói rõ tên loại phẩm đó là gì. Một số màu hóa học bị
nghi
là có thể gây ung thư.
*Các loại enzymes: để dùng như chất xúc tác (catalyseur), chẳng hạn như présure
trong
fromage và broméline trong beer.
*Các chất làm cho rắn chắc, làm cho dòn: chlorure de calcium trong thực phẩm đóng
hộp, sulfate double d’aluminium et d’ammonium trong các loại dưa chua.
*Các chất áo bên ngoài (agent de satinage): gomme arabique, silicate de magnésium
trong bánh kẹo để cho có vẻ bóng láng hơn.
*Các chất thay thế đường (édulcorant): asprtame, sorbitol.
*Các chất độn (tampon): để làm ổn định độ acide-base (pH) như acide tartrique trong
men hóa học, acide citrique trong các loại mứt.
*Các chất bảo quản (agents de conservation): được phân ra làm 2 loại:
1-Các chất diệt trùng (antimicrobien): như propionate de calcium trong bánh mì,
nitrate,
nitrite de sodium & de potassium trong các loại thịt nguội jambon, saucisse…
2-Các chất chống oxy hóa, thí dụ như chất BHA (hydroxyanisole butilé), BHT
(hydroxytoluène butilé) thường được thêm vào một số dầu thực vật để cho nó khỏi hôi
dân
chúng, đồng thời làm áp lực với chính phủ để giới hạn việc sử dụng những số chất
nầy.
Sau đây là một vài thí dụ:
-Nhóm sulfite (bisulfite de potassium, sulfite de sodium, dithionite de sodium, acide
sulfureux): có thể gây khó thở…Những người bị hen suyễn không nên ăn thực phẩm
có
chứa sulfite Sulfite giúp thức ăn và thức uống có màu tươi thắm hơn. Sulfite được
trộn
trong rau quả, quả khô (như nho khô) hoặc đông lạnh. Các loại nước giải khát, nước
nho
và rượu chát đều có chứa sulfite. Sulfite cũng có thể được trộn trong các loại đường
dùng
làm bánh mứt, trong tôm tép đóng hộp cho nó có vẻ tươi hơn và cũng tìm thấy trong
các loại tomato sauce và tomato paste. Từ năm 1987, Canada đã cấm nhà sản xuất
trộn sulfite
trong các loại salade ăn sống, ngoại trừ nho khô.
-Nhóm nitrite và nitrate (de sodium, de potassium): Chúng ta thường gọi là muối
diêm Rất phổ thông để muối ướp thịt. Các chất này tỏ ra rất hữu hiệu trong việc
ngăn
cản sự phát triển hoặc để diệt vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn clostridium botulinum
trong
đồ hộp.
Ngoài tác dụng giúp sự bảo quản được tốt, nitrite và nitrate còn tạo cho thịt có màu
hồng
thắm rất là hấp dẫn. Thịt nguội, jambon, saucisse, lạp xưỡng, smoked meat, hot dog,
bacon, nem, v.v…đều có chứa nitrite và nitrate. Vấn đề lo ngại nhất là 2 chất nầy sẽ
chuyển ra thành chất nitrosamine lúc chiên nướng. Nitrosamine là chất gây cancer.
Hàm
lượng nitrite và nitrate cho phép sử dụng trong thịt được cơ quan Kiểm Tra Thực