NHỮNG BIỂU HIỆN KHÁC NHAU CỦA U LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG TRÊN SIÊU ÂM - Pdf 19

NHỮNG BIỂU HIỆN KHÁC NHAU CỦA U LẠC
NỘI MẠC TỬ CUNG TRÊN SIÊU ÂM

Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán LNMTC
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh trước tiên dùng để chẩn đoán
LNMTC. Bởi vì độ tuổi bị LNMTC, sự tồn tại dai dẳng của u LNM và sự thoái
hóa của mạch máu bên trong theo thời gian nên những biểu hiện của u LNM rất đa
dạng. Đặc trưng của u LNM trên siêu âm là khối phản âm kém chứa echo mỏng,
gọi là nang “sô cô la”.Tuy nhiên vẫn có 1 số biểu hiện khác như, nang phản âm
trống, 1 khối đặc, thành phần đặc trong nang với phản âm kém và những diểm vôi
hóa nổi bật trên thành của nang. Trên siêu âm, u lạc nội mạc thường được chẩn
đoán nhầm với nang xuất huyết và u bì nhất. Chẩn đoán chính xác u lạc nội mạc
rất quan trọng bởi vì việc điều trị bảo tồn hay phẫu thuật thì khác nhau trong
trường hợp còn nghi ngờ về chẩn đoán trước khi phẫu thuật cắt u.
Tóm tắt nghiên cứu và kết quả
Nghiên cứu này đánh giá sự đa dạng hình ảnh trên siêu âm cũng như những biểu
hiện trước khi phẫu thuật của u lạc nội mạc trong một loạt những trường hợp khối
u phần phụ đã được phẫu thuật.
Đây là một nghiên cứu hồi cứu, nhìn lại hình ảnh siêu âm của 87 u lạc nội mạc
được cắt bỏ trên 71 phụ nữ. Độ tuổi thay đổi từ 23 đến 73, tuổi trung bình là 42
±10,5 tuổi. Khoảng cách từ lần siêu âm gần nhất cho đến khi thực hiện phẫu thuật
thay đổi từ 0 đến 4,5 năm với khoảng thời gian trung bình là 119,5 ngày.
Chỉ định lâm sàng ở những ca phẫu thuật bao gồm: nang phần phụ (25 trường
hợp), khối u phần phụ (21 trường hợp), u đau (6 trường hợp), khối u vùng chậu (5
trường hợp), lạc nội mạc tử cung (7 trường hợp), u xơ tử cung (3 trường hợp), 1
trường hợp buồng trứng tăng kích thước, 1 trường hợp xuất huyết, 1 trường hợp
ung thư, 1 trường hợp u bì. 4 phụ nữ đang có thai tại thời điểm làm siêu âm, 1
người 5 tuần, 1 người 7 tuần, 1 người 33 tuần, và 1 người với 2 kết quả siêu âm
làm trong khoảng từ tuần thứ 6-7.
Trên 79 tổn thương được ghi nhận trong phần bệnh án, kích thước u lạc nội mạc
thay đổi từ 0,3 đến 11 cm về đường kính lớn nhất cũng như là 1 tiêu điểm kính

Trong nghiên cứu tiền cứu của Dogan và cộng sự đã xác định được giá trị tiên
đoán dương của siêu âm trong trong việc chẩn đoán u lạc nội mạc đã được phẫu
thuật là 91,5 % nói chung và 97% những u lạc nội mạc cho hình ảnh điển hình
(nang tròn, bờ đều, thành dày, phản âm kém và đồng nhất bên trong) nhưng chỉ có
70,9% tổn thương cho hình ảnh không điển hình của u lạc nôi mạc (phản âm trống,
có vách ngăn bên trong, bờ không đều)
Trong nghiên cứu này, 60% (35/58) những u lạc nội mạc đo có đường kính lớn
nhất tối thiểu là 2 cm gồm những u lạc nội mạc nằm trong phần chẩn đoán phân
biệt trên siêu âm. Điều này có khả năng là do đánh giá trên những nghiên cứu tiền
cứu, do khoảng thời gian từ lúc siêu âm chẩn đoán cho đến lúc phẫu thuật (lên đến
5 năm) cũng như do kinh nghiệm của những bác sĩ siêu âm trong việc đọc kết quả
siêu âm. Những tổn thương không được chẩn đoán xác định là u lạc nội mạc trên
siêu âm thường được chẩn đoán một cách không đặc hiệu là nang hỗn hợp (6/58
[10%]), nang xuất huyết (4/58 [7%]), và u (4/58[7%]).
Mặc dù có những nốt vôi hóa được mô tả trên thành của u lạc nội mạc nhưng cũng
cần biết rằng u lạc nội mạc cũng có hình ảnh vôi hóa trung tâm. Vì vậy, mặc dù sự
hiện diện của điểm vôi hóa thường gợi ý u quái, nhưng điều này cũng không thể
loại trừ u lạc nội mạc. Một u lạc nội mạc có thể phân biệt với u quái bằng việc
đánh giá sự phân bố của lớp dịch phản âm tăng và phản âm kém trong nang nếu có
sự hiện diện mức dịch-dịch. Ở u lạc nội mạc, lớp dịch bên trên phản âm kém, lớp
phản âm tăng kề đó là máu. Còn ở u nang bì, lớp bề mặt sinh phản âm chính là
mỡ.
U lạc nội mạc không điển hình cũng có thể nhầm với u ác tính, đặc biệt ở những
phụ nữ mang thai với u lạc nội mạc bị màng rụng hóa. Những kết quả trên siêu âm
bao gồm thành phần đặc và mạch máu xuất phát từ thành và đi vào bên trong
nang. Chất đánh dấu khối u CA 125 ít có giá trị về mặt chẩn đoán trong thời gian
mang thai, đặc biệt từ tuần 11 đến 14 khi mức CA 125 tăng sinh lý. Siêu âm
Doppler màu cũng không hiệu quả trong việc phân biệt hiện tượng màng rụng hóa
của u lạc nội mạc với u ác tính bởi vì dòng máu có thể xuất hiện trong mô màng
rụng hóa. Trong nghiên cứu của Alcazar và cộng sự, việc sử dụng siêu âm Doppler


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status