Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
NHỮNG ĐIỀU GIẢI THÍCH CHUNG
VỀ CÁCH TRÌNH BÀY DANH BẠ
anh bạ các nguồn NKNN Việt Nam được thành lập trên cơ sở tài liệu
thực tế tích luỹ được trong 2/3 thế kỷ qua, chủ yếu là từ những năm 60
đến nay. Từ con số thống kê đến thời điểm giữa năm 1998 gần 400
nguồn trong toàn quốc, các tác giả đã chọn lọc được 287 nguồn để đưa
vào danh bạ (Phụ lục 1).
Khái niệm "nguồn" ở đây được hiểu là nơi có biểu hiện NKNN. Một
nguồn có thể xuất lộ lên mặt đất dưới dạng mạch đơn hay nhóm, hoặc
được phát hiện bởi các công rình khoan đào (lỗ khoan, giếng) đơn hay
cụm. Nhóm mạch hay cụm lỗ khoan (giếng) ở đây là một số điểm lộ tự
nhiên hay một số công trình khoan đào phân bố trên một phạm vi hẹp,
trong đó NKNN có các đặc tính lý - hoá đồng nhất hoặc gần gũi nhau,
xét ra có chung nguồn gốc và điều kiện thành tạo
*
. Theo cách định
nghĩa "nguồn" như vậy, trong số 287 nguồn được chọn đưa vào danh bạ
có 154 mạch lộ, 100 lỗ khoan và giếng và 33 nguồn vừa lộ thành mạch,
vừa được phát hiện trong lỗ khoan.
Các nguồn được đánh số thống nhất trong toàn quốc từ 1 đến 287 và
đưa lên bản đồ theo từng tỉnh (các tỉnh được ghép theo miền địa lý).
Trong phạm vi mỗi tỉnh các nguồn được sắp xếp theo huyện và đánh số
theo thứ tự từ bắc vào nam, từ tây sang đông trừ một số trường hợp cá
biệt, khi các nguồn nằm gần nhau trên cùng một tuyến khảo sát thì đánh
Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
số và mô tả theo thứ tự từ gần đến xa so với xuất phát điểm của lộ trình.
Mỗi nguồn được mô tả theo trình tự và nội dung như sau:
1. Tên nguồn. Được gọi theo nguyên tắc cố gắng giữ tên cũ dã thông
dụng trong các văn liệu đã công bố hoặc đã định danh trên các bản đồ
địa chất, ĐCTV trước đây (thường gọi theo tên thôn, ấp, làng, bản,
hướng, giúp dò tìm trên bẳn đồ, chưa phải là số liệu đo đạc chuẩn xác.
3. Dạng xuất lộ. Chỉ rõ nguồn nước lộ thành mạch lên mặt đất hay
được phát hiện trong lỗ khoan (giếng) cùng những số liệu về lưu lượng,
nhiệt độ, mùi vị của nước, biểu hiện khí, vật chất lắng tụ Nếu lỗ
khoan xuyên qua nhiều tầng chứa nước thì ghi NKNN xuất hiện trong
tầng (hoặc các tầng) chứa nước nào Những số liệu này đối với một số
nguồn có thể đến nay đã thay đổi.
4. Lịch sử. Nêu tên người hay đơn vị đã phát hiện hoặc đã đến khảo
sát, điểm qua quá trình điều tra và mức độ nghiên cứu nguồn nước. Đây
là một khó khăn lớn của các tác giả vì chỉ có những nguồn do các nhà
địa chất Pháp nghiên cứu trước đây là có văn liệu công bố chính thức,
ghi rõ người đã phát hiện hoặc đến khảo sát. Còn những nguồn do các
Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
đơn vị địa chất của ta nghiên cứu thì phần lớn chỉ được ghi chép tản
mạn trong các nhật ký địa chất, báo cáo lưu trữ, không công bố. Hơn
nữa một nguồn thường được rất nhiều đơn vị, cá nhân đến khảo sát vào
những thời điểm khác nhau mà chúng tôi không có điều kiện xác minh
ai là người đã phát hiện và những đơn vị nào đã đến nghiên cứu, nên ở
đây chúng tôi chỉ ghi một số đơn vị mà chúng tôi đã biết hoặc đã sử
dụng tài liệu khi lập danh bạ. Đây là một khiếm khuyết khó khắc phục,
mong các nhà địa chất đã có công phát hiện và có những đóng góp vào
việc nghiên cứu từ trước thông cảm.
5. Tính chất lý hoá. Nêu những số liệu về tính chất vật lý và kết quả
phân tích thành phần hóa học của nguồn nước. Mỗi nguồn nước có thể
có 1 hoặc nhiều mẫu phân tích. Trong trường hợp có nhiều mẫu thì
chúng tôi chọn tối đa 3 mẫu có số liệu đáng tin cậy nhất, được phân
tích bởi những phòng thí nghiệm khác nhau, vào những thời điểm khác
nhau để giúp theo dõi sự biến đổi của nguồn nước theo thời gian.
Các số liệu được sử dụng phần lớn được chọn từ kết quả phân tích của
những phòng thí nghiệm có uy tín như Đại học Dược khoa Hà Nội,
Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
loại NK chữa bệnh và đóng chai) phải do các cơ quan chức năng và có
thẩm quyền thực hiện trên cơ sở tài liệu điều tra chuyên môn đầy đủ,
đáng tin cậy nhất .
Ngoài 287 nguồn được mô tả, còn có những nguồn mới có một vài
thông tin rời rạc chưa đủ cơ sở đưa vào danh bạ. Loại này rất nhiều
nhưng chúng tôi chỉ chọn ra một ít nguồn và xếp sau các nguồn chính
thức của từng tỉnh nhằm gợi ý cho việc điều tra sau này.
Trong phạm vi một công trình tổng kiểm kê một dạng tài nguyên thiên
nhiên của đất nước, quyển sách chỉ có thể nêu lên những thông tin khái
quát nhất về các nguồn NKNN trong toàn quốc. Những số liệu chi tiết
về từng nguồn như địa tầng lỗ khoan, kết quả bơm nước thí nghiệm,
tính toán thông số ĐCTV, trữ lượng khai thác của mỏ các cơ quan,
đơn vị hoặc cá nhân nếu có nhu cầu xin liên hệ với Cục Địa chất và
khoáng sản Việt Nam - 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội, hoặc với các Liên
đoàn ĐCTV - ĐCCT theo các địa chỉ sau:
- Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Bắc, phường Nghĩa Tân, quận Cầu
Giấy, Hà Nội.
- Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Trung, đường 2/4, phường Vĩnh Hải,
thành phố Nha Trang.
- Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Nam, xã Bình An, quận 2, thành phố
Hồ Chí Minh.