185
3.3 Gabriel Garcia Marquez
và hai tác phẩm văn học hiện thực huyền ảo tiêu biểu
3.3.1 Gabriel José García Márquez
Marquez sinh ngày 6 tháng 3 năm 1928 là một nhà văn người Colombia nổi tiếng. Ông còn
là nhà báo và một người hoạt động chính trị.
Nổi tiếng với các tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả (El amor en los tiempos del cólera), Mùa
thu của vị trưởng lão (El otoño del patriarca), Tướng quân giữa mê hồn trận (El general en
su laberinto) và hơn cả là Trăm năm cô đơn (Cien años de soledad), García Márquez là
một đại diện tiêu biểu của nền văn học Mỹ La tinhh. Tên tuổi của ông gắn liền với chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo. García Márquez được trao Giải Văn học năm 1982.
Gabriel José García Márquez sinh tại Aracataca, một thị trấn bên bờ biển Caribê, thuộc
miền Bắc Colombia, trong một gia đình trung lưu 11 người con mà ông là con cả. Cha của
Marquez là Gabriel Elliegio Garcia, một nhân viên điện tín đào hoa có nhiều con ngoài giá
thú cả trước và sau khi kết hôn. Mẹ của Marquez là bà Luisa Marquez. Gabriel García
Márquez lớn lên, những năm tháng đầu tiên trong một đại gia đình, ông ngoại là Nicolas
Marquez, một cựu đại tá theo phái tự do từng chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Một ngàn
ngày, bà ngoại là Tranquilina, cùng nhiều bác, dì
Sau thời gian tuổi thơ, ông cùng cha mẹ chuyển đến Sucre, nơi cha của ông có một hiệu
thuốc và hành nghề chữa bệnh bằng liệu pháp vi lượng đồng căn. Năm 1936, Marquez
được bố mẹ gửi đến Barranquilla và Zipaquirá học phổ thông. Tới năm 1947, García
Márquez tới Bogota, thủ đô của Colombia theo học tại Đại học Quốc gia Colombia và bắt
đầu tham gia viết báo cho tờ El Espectador và bắt đầu những tác phẩm văn học đầu tiên
gồm 10 truyện ngắn nổi tiếng. Năm 1948, ông tham cùng các sinh viên thủ đô tham gia
biểu tình phản đối vụ ám sát Jorge Ellieecer Gaitan, một chính khách tiến bộ, ứng cử viên
tổng thống Colombia.
Sau khi học được năm học kỳ, García Márquez quyết định bỏ học rồi chuyển về
Barranquilla thực sự bước vào nghề báo và viết tiểu quyết đầu tay La hojarasca (Bão lá).
Ông cũng tham gia vào "Nhóm Barranquilla", một nhóm gồm các nhà báo xuất sắc và,
thông qua họ, García Márquez bắt đầu tiếp xúc với các tác giả về sau có ảnh hưởng mạnh
hoàn thành cũng là lúc tình trạng tài chính gia đình đặc biệt khó khăn. Để có tiền gửi bản
thảo cho nhà xuất bản Nam Mỹ ở Argentina, García Márquez đã phải bán nốt những vật
dụng giá trị trong nhà. Năm 1967, Trăm năm cô đơn được xuất bản và ngay lập tức giành
được thành công lớn, được cả giới phê bình và độc giả mến mộ. Sau đó García Márquez
tách từ Trăm năm cô đơn một sự kiện và viết thành tiểu thuyết ngắn La increíble y triste
historia de la cándida Eréndira y de su abuela desalmada (Truyện buồn không thể tin được
của Erendira và người bà bất lương).
Từ năm 1974, García Márquez sống ở Mexico, Cuba, thành phố Cartagena của Colombia
và Paris, tham gia các hoạt động chính trị với tư cách một nhà văn nổi tiếng. Năm 1975 ông
viết El otoño del patriarca (Mùa thu của vị trưởng lão) và năm 1981 cho ra đời Crónica de
una muerte anunciada (Ký sự về một cái chết được báo trước). Cũng năm 1981, ông bị
chính phủ bảo thủ Colombia vu cáo là đã bí mật cung cấp tài chính cho phong trào du kích
cánh tả M-19, García Márquez phải sang sống lưu vong tại Mexico trong tình trạng thường
xuyên bị đe dọa ám sát.
Năm 1982, Viện hàn lâm Thụy Điển trao Giải Văn học cho García Márquez. Trước đó ông
cũng được chính phủ Pháp tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh. Năm 1985, García Márquez
xuất bản cuốn tiểu thuyết lớn tiếp theo của ông, El amor en los tiempos del cólera (Tình
yêu thời thổ tả), lấy cảm hứng chính từ mối tình của cha mẹ ông. Năm 1986, García
Márquez vận động thành lập Quỹ Điện ảnh mới của Mỹ La tinhh và trực tiếp thành lập
Trường điện ảnh San Antonio de los Banos ở Cuba, nơi hàng năm ông tới giảng dạy một
khóa ngắn về viết kịch bản.
Năm 1989, García Márquez viết El general en su laberinto (Tướng quân giữa mê hồn trận),
tiểu thuyết lịch sử về Simon Bolivar, một người đấu tranh giải phóng các nước Mỹ La
187
tinhh. Năm 1992, ông viết Doce cuentos peregrinos (Mười hai truyện phiêu dạt), một tập
truyện ngắn dựa trên các sự kiện báo chí. Năm 1994, ông cho xuất bản tiểu thuyết Del amor
y otros demonios (Tình yêu và những con quỷ khác), lấy bối cảnh là thành phố Cartagena
và tình yêu giữa một thầy tu 30 tuổi và con chiên là một đứa trẻ mới 12 tuổi.
Cuối năm 1995, một nhóm bắt cóc đã thực hiện vụ bắt cóc Juan Carlos Gaviria, em trai cựu
1994 Del amor y otros demonios Tình yêu và những con quỷ khác
1996 Noticia de un secuestro Tin tức về một vụ bắt cóc
188
2002 Vivir para contarla Sống để kể lại
2004 Memoria de mis putas tristes
Hồi ức về những cô gái điếm buồn
của tôi
Tiếp theo giới thiệu hai tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học “hiện thực
huyền ảo” Mĩ La tinh. Tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” và truyện ngắn “Biển
của thời đã mất” của nhà văn Gabriel Gacia Marquez.
Gabriel José García Márquez (6 tháng 3 năm 1928 - ) là một nhà văn
người Colombia nổi tiếng. Ông còn là nhà báo và một người hoạt động chính
trị.
3.3.3 Trăm năm cô đơn (Cien anos de solidad)
Người dịch: Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng.
Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1986.
Cốt truyện và đề tài
Tiểu thuyết kể câu chuyện về dòng họ Buendya tồn tại được bảy thế hệ
(khoảng 100 năm), người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuôí cùng bị kiến ăn.
Đó là một dòng họ tự lưu đày đến cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân.
Tội loạn luân phát sinh do việc tên cướp biển Francis Dark tấn công vùng Rioacha
khiến cho các cụ tổ của bà Ucsula Igoaran phải chuyển đi lập nghiệp ở một làng hẻo
lánh. Nơi đây họ gặp gỡ dòng họ Hose Accadio Buendya cũng đến đây sinh sống
bằng nghề trồng thuốc lá. Hai dòng họ này kết thân và hôn nhân chồng chéo suốt ba
thế kỉ. Cuộc hôn nhân cuối cùng là một thảm hoạ: đẻ ra đứa bé có cái đuôi lợn. Tấm
gương khủng khiếp ấy khiến cha mẹ của chàng trai Buendya và cha mẹ của Ucsula
tìm cách ngăn cản con trai con gái hai dòng họ lấy nhau. Không có sức mạnh nào
ngăn cản nổi hai người đến với nhau. Khi làm đám cưới, Mẹ cô dâu Ucsula tìm cách
trì hoãn việc ăn ở của con gái bằng cách may cho cô “chiếc đai trinh tiết” dặn cô sử
được coi là tộc trưởng. Anh đã lãnh đạo dân làng theo kiểu công xã nông thôn. Dân
chúng sinh sôi nảy nở, sống hiền lành, không phạm tội. Họ không cần quan cai trị
hành chính và cũng không cần linh mục để săn sóc phần hồn. Mặc dù sống biệt lập
với thế giới bên ngoài, dân chúng Macondo cũng biết xây dựng làng thành một miền
quê trù phú và yên vui.
Những người di gan cùng với tiếng chim hót và tiếng nhạc đồng hồ đã tìm đến làng
Macondo. Họ mang theo nhiều thứ mới lạ dân làng chưa từng biết. Nghề thủ công và
buôn bán bắt đầu hình thành. Họ lập ra phố xá kiểu Thổ Nhĩ Kì. Macondo trở thành
thị trấn. Chính phủ trung ương phái tới làng một quan thanh tra – ông Don Apoline
Mocote. Sự có mặt của quan thanh tra khiến cho cuộc sống vốn thanh bình của
Macondo trở nên xáo trộn. Những cuộc nội chiến liên miên ở đất nước này giữa phái
Bảo Hoàng và phái Tự Do đã lan tới nhiều phen tàn phá làng Macondo khiến dân
chúng vô cùng điêu đứng. Đây là lúc thế hệ thứ hai của dòng họ Buendya sinh ra và
trưởng thành - nổi bật là ngài đại tá AurEllieano Buendya. Ngài đã từng phát động 32
cuộc chiến tranh và đều thất bại. Ngài buộc phải kí hiệp định đình chiến Neclandia -
thực chất là sự đầu hàng của phái Tự Do trước phái Bảo Hoàng.
Nhờ có đường xe lửa chạy ngang qua, làng Macondo tăng cường giao lưu với thế giới
bên ngoài rộng rãi. Phim ảnh, máy phát điện, máy dĩa hát, khách du lịch và gái điếm
tràn ngập làng Macondo. Công ty Chuối (thực tế là Công ty hoa quả Mĩ) cũng đến
đây lập ra đồn điền chuối. Dân tứ xứ đổ về Macondo. Cuộc sống vùng này sầm uất
hẳn lên. Thế hệ thứ tư của dòng họ Buendya là hai anh em sinh đôi: AurEllieano
Segundo và Hose Accadio. Người anh, AurEllieano, to khoẻ, sống mãnh liệt kiểu
hiện sinh, hết mình với cõi thế tục. Người em mảnh khảnh yếu ớt rất thông minh, đã
tham gia lãnh đạo công đoàn công ty Chuối, phát động đấu tranh chống giới chủ đòi
cải thiện sinh hoạt và tăng lương. Ông chủ công ty – ngài Brown người Mĩ rất xảo
quyệt tráo trở tìm mọi cách từ chối yêu sách của công dân. Khi cuộc đấu tranh lên cao
trào, người Mĩ đã tắm máu công nhân bằng một vụ thảm sát tất cả những người có
mặt ở sân ga và sau đó dùng một đoàn tàu dài hai trăm toa chở xác chết ném xuống
biển như khi chúng đổ chuối thối.
Công ty Chuối đành rút khỏi thị trấn Macondo. Bằng phép thuật, Công ty Chuối
tiến tới một quá khứ gần hơn : “Rất nhiều năm sau này, đứng trước đội hành hình,
đại tá nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước
đá”. Nhưng sự kiện đứng trước đội hành hình thực sự xảy ra ở chương 7, còn sự kiện
cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá lại được kể ở chương 1. Chương 1 lại kể các sự
kiện ở giữa và cuối đời nhân vật. Câu văn trên đã chỉ ra ba thời điểm khác nhau cách
xa nhau. Người đọc dễ bị lạc lối trong kết cấu thời gian phức tạp như thế. Đây là một
thi pháp thời gian nghệ thuật. Nhà văn dẫn nhân vật đi ngược chiều thời gian chẳng
phải vô cớ, mà để miêu tả nỗi hoài nhớ quá khứ và quê hương hoặc thể hiện sự “vô ý
thức” về thời gian của nhân vật. Nó thuộc loại thời gian tâm lý.
b- Thời gian của người kể chuyện thứ hai:
Thời gian này gắn với văn bản thứ hai. Đây là thời gian của cuốn gia phả (a family
tree) của dòng họ Buendya từ khi ra đời qua thịnh vượng tới khi tuyệt diệt. Thời gian
này chuyển động vòng tròn – là thời gian cốt truyện - thời gian thực tại, tồn tại độc
lập với thời gian của người kể chuyện thứ nhất.
191
Hai loại thời gian này đan lồng hoà quyện với nhau, trong đó thời gian của người kể
chuyện thứ hai giữ vai trò then chốt phản ánh hiện thực trì trệ chậm phát triển vùng
Mĩ La tinh qua sự vận động lẩn quẩn, dẫm chân tại chỗ.
Thời gian đa chiều này chính là thời gian nghệ thuật của “Trăm Năm Cô Đơn” –
thành tựu đặc sắc của nhà văn Marquez.
Mặc khác, thời gian nghệ thuật chỉ đạt hiệu quả cao khi nó đi với một không gian
tương ứng – cái làng quê Macondo xa xôi.
Không gian nghệ thuật
Làng quê Macondo là sản phẩm tuyệt diệu của hư cấu nghệ thuật. Người đọc có thể
nhận ra làng Acatarata quê quán của nhà văn Marquez được làm nguyên mẫu cho tiểu
thuyết. Người đọc nhận ra nhiều nhân vật có thật của làng Acatarata, trong đó có
nhân vật Gabriel cùng họ tác giả và một số bạn bè của ông. Nhưng Macondo cũng là
bất kì làng quê, thị trấn nào của đất nước Colombia và vùng Mĩ La tinh. Macondo là
một làng quê hư cấu nhưng nhưng đủ sức dung nạp mọi chuyện, từ chuyện có thật
ấn tượng mạnh mẽ và ý nghĩa sâu sắc hơn hẳn cái có thực. Tuy nhiên không thể thiếu
cái có thực – vì nó đem lại niềm tin hiện thực cho độc giả.
Nhân vật và bản thông điệp thứ nhất
Thành công của nhà văn tạo ra không gian và thời gian nghệ thuật nói trên đã mở ra
khả năng to lớn cho sự xây dựng nhân vật. Đó là nhân vật siêu mẫu (phi thường / dị
thường). Tính siêu mẫu đã gây hứng thú hào hứng theo dõi của người đọc để rồi mãi
mãi đọng lại trong tâm trí họ.
Trăm năm cô đơn có khoảng 60 nhân vật gồm cả chính phụ. Nhân vật nào cũng cá
tính rất sống động trước mắt người đọc. Marquez đã vận dụng và nâng cao thủ pháp
xây dựng nhân vật kể chuyện dân gian: chỉ chấm phá đôi nét, còn lại người đọc tha
hồ tưởng tượng. Miêu tả tiếng khóc của chú bé AurEllieano khi còn trong bụng mẹ để
khắc hoạ tính ích kỉ của anh ta sau này. Remediot người đẹp đến tuổi trưởng thành
vẫn thích sống trần trụi không y phục nhưng cô lại toả ra luồng khí độc làm chết
những kẻ đam mê – đó là thủ pháp đeo mặt nạ phóng đại. Thiếu nữ Rebecca có nỗi
nhớ tuổi thơ ấu – luôn mút ngón tay và bốc đất ăn khi đã 15 tuổi…Với những thủ
pháp miêu tả đặc biệt ấy, Marquez giúp người đọc phân biệt được những nhân vật
cùng tên trong dòng họ theo kiểu lấy tên người thế hệ trước đặt cho người thế hệ sau
khác chi nhánh (tên anh đặt cho con gái của người em và ngược lại).
Tiểu thuyết có tới năm người tên Hose với tính cách khác nhau: Hose người lập làng
Macondo ham mê vùi đầu nghiên cứu khoa học vô bổ, Hose Accadio kẻ đi vòng
quanh thế giới, Accadio Hose một kẻ bạo ngược, Hose Accadio Segundo kẻ trầm tư
lánh đời và Hose Accadio Acadio kẻ đi tu không đắc đạo.
Tiểu thuyết có những AurEllieano rất khác nhau. Ngài đại tá AurEllieano Buendya
phát động 32 cuộc nội chiến. AurEllieano Segundo kẻ trác táng ăn chơi. AurEllieano
Balonia thông minh, học ngoại ngữ liên miên cuối cùng đọc hiểu được văn bản tiếng
Phạn trên tấm da thuộc và AurEllieano cuối cùng - kẻ vừa ra đời thì bị kiến ăn thịt.
Những nhân vật chính của dòng họ này bao gồm hai loại người:
+ Những AurEllieano có trí thông minh tuyệt vời nhưng trầm tư ủ dột lánh đời.
+ Những Hose khỏe mạnh, bạo gan, sống hiện sinh, chan hoà. Gộp lại đó chính là
tính cách của ông tổ Hose Accadio Buendya được di truyền thành hai nhánh. Ông tổ
lánh, không cộng tác không bảo vệ anh. Anh ta lập chiến công cuối cùng bằng cách kí
hiệp định đầu hàng chính phủ, được thưởng huân chương. Những người cách mạng,
những người chiến sĩ tự do không tuân lệnh đầu hàng, họ vẫn tiếp tục chiến đấu khiến
anh cảm thấy nhục nhã và từ chối nhận huân chương, trở về đoàn tụ gia đình, sống
trong tình thương của bà mẹ - bà lão Ucsula Igoaran. Và giống như hồi nhỏ, anh nuôi
cá vàng để khuây khoả. Cách sống này vẫn chỉ là ích kỉ cá nhân chẳng vì ai cả. Đó
chính là cuộc đời bi kịch của đại tá AurEllieano.
Chỉ có một người hiểu rõ tư chất ích kỉ của anh là mẹ anh – bà Ucsula. Đầu óc vẫn
minh mẫn của bà già trên trăm tuổi còn nhớ cái tiếng khóc của AurEllieano khi còn
trong bụng mẹ. Tiếng khóc ấy là sự bất lực trước tình yêu, đó là sự cô đơn. Cụ già
điểm lại lũ con cháu và và nhận ra bọn chúng đều trái tính trái nết ích kỉ - cái thói
đáng sợ như hình ảnh cái đuôi lợn ám ảnh cụ suốt đời. Cái đuôi lợn báo hiệu con
người đã mất hết tính người trở thành con thú. Bà nhận ra con cháu bà có đủ mọi
phẩm chất tốt duy chỉ thiếu một thứ: tình yêu – trái tim yêu thương. Chỉ có cô bé
Rebecca người không hề bú dòng sữa của cụ thì lại có trái tim yêu thương mãnh liệt
vô tư. Tình yêu là cái cần thiết nhất cho dòng họ này. Chỉ có tình yêu thực sự và lòng
chân thành mới làm cho cá nhân hoà hợp với cộng đồng và thoát khỏi cảnh cô đơn.
Đó là lớp ý nghĩa triết học – mĩ học bộc lộ ra khi các nhân vật sắp đi vào cõi khác.
Chỉ khi đứng trước mũi súng của bọn hành hình, Accadio Hose mới biết yêu thật sự
nàng Rebecca Remediot. Chỉ đến khi hấp hối, Amaranta cô gái già (ế chồng vì khó
tính) mới thật sự cởi mở lòng mình, sống cho người khác bằng hành động: hứa
chuyển bức thư và lời nhắn của người sống cho vong hồn người thân cõi âm phủ.
Tư tưởng mĩ học về tình yêu được thể hiện ở nhân vật nửa huyền thoại Remediot
“người đẹp”. Nhiều chàng trai say mê nàng và chết oan vì nàng. Kẻ thì rơi từ mái
nhà tắm xuống chết tươi. Kẻ chết gục ngoài song cửa. Kẻ bị ngựa đá dập ngực chết.
Có kẻ si mê quá hoá rồ dại… Phải chăng như lời dân chúng đồn đại nàng là cạm bẫy
của tử thần. Nàng toả ra hơi độc khiến ai gần nàng đều phải tiêu vong ? Thật ra không
194
hẳn như vậy. Những người đàn ông không biết cách mở cửa vào tâm hồn nàng. Họ
Truyện ngắn của GG.Marquez
[Bản dịch Nguyễn Trung Đức – Nxb Ngoại văn, Hà Nội 1987]
Các nhân vật chính:
Tobiats - chồng
Clotindez - vợ
Ông bà Jacob
Cha xứ
Herbert một người Mĩ
Lão Catarino chủ quán
195
Một làng quê nghèo ven bờ biển. Không có ai thức đến sau tám giờ tối. Một đêm
tháng ba, gió biển phả lên bờ một mùi hương hoa hồng. Tobiats thức giấc, ngửi thấy
mùi hoa, thịt da anh cũng thơm phức hấp dẫn loài cua biển bò lên, chui vào giường
của anh. Anh mất ngủ cả đêm để xua lũ cua khỏi giường. Gần sáng mùi hoa hồng
nhạt đi, anh mới ngủ yên được.
Buổi sáng hôm sau, anh thức dậy muộn hơn vợ. Clotindez đang nhóm lửa ngoài sân.
Uống cà phê xong anh hỏi vợ có biết mùi hoa hồng đêm qua. Cô trả lời từ nhỏ đến
giờ “chưa từng biết mùi hoa ấy”. Ở cái làng nghèo này, thỉnh thoảng có người từ xa
tới mang những bó hoa hồng ném xuống biển – nơi đây chính là nghĩa địa của làng.
Mỗi khi có người chết đều phải ném xuống. Anh bảo vợ - đó là mùi người chết. Mỗi
khi thuỷ triều đưa rác rửi vào bờ, khi rút đi để lại những xác cá chết. Làng nghèo lại
càng nghèo nữa.
Cùng buổi sáng đó, nhà vợ chồng ông bà Jacob. Bà lão dậy sớm hơn thường lệ, ngồi
vào bàn ăn sáng, cáu kỉnh nói với chồng “nguyện vọng cuối cùng của tôi là được
chôn sống”. Bà năn nỉ người chồng vốn yêu bà tha thiết, rằng bà cảm thấy mình sắp
chết vì đêm qua ngửi thấy mùi hoa hồng “ông ơi, tôi muốn khi chết được chôn dưới
đất như một người tử tế”. Ông an ủi rằng bà còn khoẻ mạnh…Nhưng ông cũng hứa
với bà làm theo ý nguyện (được chôn sống). Ông xin bà ráng chờ ít bữa để chuẩn bị
các thứ cần thiết. Ông lão rất lo lắng về thái độ của vợ.
Thánh, cái mùi hương này đã được nói và giải thích rõ. Chúng ta may mắn đang
sống trong một làng được Chúa yêu quý”. Tobiats dẫn vợ - Clotindez đi xem các trò
chơi để cô làm quen với đồng tiền.
Một đêm kia, có người khách lạ xuất hiện ở làng, ngài Herbert- một người Mĩ giàu
có. Ngài mang theo hai thùng tiền lớn. Ngài rung chuông, dân chúng xúm xít lại lắng
nghe:
- Ta là người giàu có nhất trần gian. Ta muốn chia tiền cho mọi người. Chia
tiền mà không có lí do như thế sẽ chẳng có ý nghĩa gì hết.
Một người đàn ông bước ra xin ngài 48 đồng peso, ngài hỏi anh biết làm gì. Anh hót
đủ 48 giọng chim hót khác nhau và ngài trao tiền cho anh. Mỗi ngày, ngài Herbert
tiếp một người và cho họ tiền. Một cô gái xin 500 đồng. Ngài bảo cô phải tiếp khách
đàn ông đủ 100 người ở phòng bên cạnh. Cô đồng ý. Ngài gọi 100 người đàn ông,
cấp cho họ mỗi người 5 đồng lần lượt vào phòng cô gái…
Ông lão Jacob vác bàn cờ xin chơi với ngài Herbert. Lão thua liên miên, hết tiền
phải ghi tiếp vào sổ nợ. Cuối cùng lão gán luôn ngôi nhà – cái tài sản duy nhất của
lão cho ngài Hertbert.
Lần lượt, ngài Herbert chiếm đoạt nhẹ nhàng hầu hết nhà cửa và cái làng ven biển
này. Ngài cho tổ chức một tuần lễ vui chơi có âm nhạc, pháo nổ và hoa. Ngài hứa với
dân làng sẽ cho xây dựng một thành phố tương lai ở đây. Ngài đưa bức vẽ cho dân
chúng xem. Họ mừng rơn với trái tim đau thương, họ cười ra nước mắt. Họ sống
trong đám mây mù bảng lảng của niềm tin…Ngài lắc chuông kết thúc cuộc vui.
Rồi ngài lăn ra ngủ hết ngày này sang ngày khác. Nhiều ngày trôi qua, nhiều người
đến xin ngài giúp đỡ nhưng chờ mãi ngài chưa thức dậy. Họ bỏ đi đào cua biển để
sống. Cha xứ báo cho ông Jacob biết dân chúng đang dần dần bỏ làng đi nơi khác.
Cha đề nghị xây một cái nhà thờ để giữ lòng tin cho dân chúng vùng này và cần phải
nhờ ngài Herbert giúp đỡ. Ông Jacob nói phải chờ ngài. Hai người ngồi chơi cờ đam
liên tục nhiều ngày mà ngài vẫn say ngủ. Cha xứ lú lẫn, đi lang thang khắp làng
quyên tiền xây nhà thờ. Nhưng người ta cho rất ít tiền. Một ngày chủ nhật, cha dắt
hai con la, một chở va li quần áo và một va li tiền, một con cha cưỡi lên và ra đi vĩnh
viễn. Cha còn kịp nói với một số người, : “mùi hoa hồng sẽ không còn trở về nữa.
động cả thiên hạ”. Ngài Herbert khuyên hai anh chị hãy bỏ làng đi kiếm sống nơi
khác rồi sau đó ngài từ biệt họ ra đi.
Clotindez gọi anh vào phòng đi ngủ. Nhưng anh không để ý. “Vào đây anh ngốc ơi,
đã hàng thế kỉ chúng ta không đùa giỡn như những con thỏ”. Tobiats đợi một hồi
nữa. Khi anh vào phòng, Cltindez đã ngủ say. Anh thức cô dậy. Vì mệt mỏi ngái ngủ,
họ nhầm lẫn lung tung. Cuối cùng họ cuốn vào nhau như những con giun. “Anh đang
ngớ ngẩn nghĩ đến việc khác phải không?”- cô vợ cáu kỉnh hỏi. “Ừ, anh đang nghĩ
về những việc khác”. Cô vợ đòi nghe những việc đó. Anh bắt cô hứa phải không được
kể cho ai nghe. Cô hứa sẽ giữ kín.
- Ở dưới đáy biển có một làng gồm những ngôi nhà trắng có trồng hàng triệu
bông hoa.
Clotindez giơ tay ôm lấy đầu: “Ôi anh Tobiats, hãy vì tình thương của Thượng đế
mong từ đây anh đừng làm những chuyện như thế nữa”.
Tobiats thôi nói chuyện, lăn mấy vòng ra tận mép giường nằm chờ giấc ngủ. Anh vẫn
không sao ngủ được cho đến sáng khi gió nhẹ đổi chiều và những con cua biển chịu
để cho anh yên.
“Biển của thời đã mất” là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách “hiện thực
huyền ảo”. Truyện tuy ngắn nhưng rậm rạp chi tiết, tầng tầng lớp lớp nhưng vẫn bảo
đảm cốt cách truyện ngắn cổ điển là khép kín, không tản mạn ra nhiều hướng, không
chệch hướng chính.
Một số nhân vật chính được miêu tả sinh động tự nhiên:
+ Nhân vật cha xứ: một kí hoạ châm biếm.
+ Nhân vật ngài Herbert: rất sinh động, uyên bác, năng động. Nhân vật bí ẩn
như một nỗi e ngại, một lời cảnh báo.
198
+ Cặp vợ chồng già: ông bà lão Jacob và cặp vợ chồng trẻ Tobiats –
Clotindez. Đây là những nhân vật chính của thiên truyện. Đặc biệt Tobiats được tập
trung ánh sáng – anh là nhân vật lý tưởng của nhà văn. Anh luôn luôn băn khoăn
trước cuộc đời có ý hướng thiện. Ông lão Jacob già hơn anh và bất lực hơn anh. Ông
quá khứ.
Dòng họ càng sinh sôi nãy nở đông đúc thì họ càng xa rời nhau, sống cô đơn, và gây ra bao
cảnh loạn luân.
Mặt khác những biến động chính trị xã hội trong hoàn cảnh đất nước Colombia cũng góp
phần tác động chi phối đến tính cách và số phận con người làng Macondo. Điều này khẳng
định quan điểm cơ bản của chủ nghiã hiện thực là: Hoàn cảnh tác động chi phối quyết liệt
đến tính cách và số phận con người.
Yêu cầu /Chỉ dẫn khác:
199
Đọc và so sánh “Giọt máu” truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp với Trăm năm cô đơn
Đọc và so sánh “Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn, Trung Quốc
Tác phẩm “Biển của thời đã mất”
Ghi nhớ chủ yếu
Một cái làng phiếm chỉ (không có địa danh cụ thể) gợi ra tính phổ biến của ngôi làng Mĩ La
tinh. Làng ven biển này có hai không gian
Không gian quá khứ được ước ao như một thời tốt đẹp đã qua… Bạn đọc có thể tửng tượng
qua vài nét đơn giản như: người chết chôn trên đất, đám tang có hoa hồng… đó là những
điều giản dị nhất.
Không gian hiện tại: nhà văn không cần miêu tả sự đói khổ vật chất, chỉ cần tả qua cái cảnh
“không có đất chôn, không có hoa hồng cho đám tang” là đủ hình dung tình trạng thê thảm
của cuộc sống. Nhu cầu tinh thần hóa ra còn thiết tha dai dẳng hơn sự đói khổ nghèo nàn.
Bà lạo Jacob không nghĩ đến cuộc sống, bà chỉ lo được chết thanh thản Trái lại, Clotindez
tuổi trẻ lại sống như “con giun”, chả cần biết gì đến “hoa hồng”. Hoa hồng được miêu tả
tượng trưng cho cái đẹp bình thường giản dị mà thế hệ trẻ ngày nay không thèm biết tới.
Điều này cho thấy đời sống tinh thần dân Mĩ La tinh suy đồi đến mức nào ! (Ta nghĩ đến tư
tưởng Lỗ Tấn khi ông miêu tả sự suy đồi tinh thần của người nông dân Trung Quốc trong
tác phẩm AQ chính truyện, Lễ cầu phúc, Cố hương…).
Nhân vật lí tưởng Tobiats được xây dựng như một niềm tin ở tương lại. Anh sẽ thức nhiều