Y HỌC CỔ TRUYỀN ÁP DỤNG
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NGOÀI DA
PGS Nguyên ngọc Thụy
1. Phương châm và nguyên tắc.
Phương châm kết hợp 2 nền y học hiện đại với y học cổ truyền là một trong những
phương châm cơ bản của nền y học nước ta, mang ba tính chất khoa học, dân tộc
và đại chúng. Với ngành Da liễu thì phương châm trên còn có ý nghĩa đặc biệt, vì
phần lớn bệnh ngoài da là bệnh của quần chúng, rất phổ biến trong nhân dân.
Trong quân đội thì bệnh ngoài da hay gặp ở chiến sĩ,do bệnh có liên quan đến điều
kiện môi trường sinh hoạt công tác của bộ đội.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nên ông cha ta đã tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm về điều trị,và phòng bệnh ngoài da bằng thuốc dân tộc rất có hiệu quả, mà
ngày nay chúng ta cần phải học tập, thừa kế, khai thác phát huy những kinh
nghiệm, những bài thuốc quí đó nhằm nâng cao sức khoẻ cho nhân dân.
Đa số người mắc bệnh ngoài da sống ở vùng nông thôn, rừng núi, vùng sâu vùng
xa và cũng chính ở những nới đó sẵn có kho tàng các cây thuốc, dược liệu rất
phong phú. Vì vậy nếu biết khai thác được sẽ áp dụng rộng rãi trong nhân dân thực
hiện " hậu cần tại chỗ" góp phần cho công tác điều trị kịp thời và mang lại cả lợi
ích về kinh tế.
Trong công tác điều trị bệnh ngoài da thì việc cung cấp thuốc men thuốc men còn
nhiều tốn kém, vì phần lớn là thuốc nhập ngoại. Do đó việc khai thác nguồn cây
thuóc dân gian sẽ có hiệu quả kinh tế phù hợp với quan điểm quần chúng nhân
dân.
Bệnh ngoài da được nghiên cứu điều trị bằng cây thuốc có thuận lợi hơn so với
các bệnh khác vì dễ đánh giá tác dụng kết quả điều trị, dễ bảo đảm an toàn và được
người bệnh dễ dàng đồng tình cộng tác.
Các nguyên tắc áp dụng y học cổ truyền trong điều trị bệnh ngoài da.
+ An toàn trong điều trị: thuốc dùng phải an toàn, ít độc hại với các cơ quan nội
tạng, không gây tổn thương da, không dị ứng,không gây tai biến.
+ Khoa học: khi sử dụng phải đúng cây thuốc, dùng đúng bộ phận, thu hái chế
biến, sản xuất phải phù hợp với qui trình, đồng thời phải chống các phương pháp
khô, tán bột trộn lẫn với dầu vừng hoặc dầu lạc rồi bôi hàng ngày.
2.4. Hồ thành đại:
Bột thanh đại 40 gam, bột hoàng liên 1 gam, thạch cao 20 gam , dầu lạc 60 gam,
trộn đều ngày bôi 2 lần.
2.5. Thuốc dùng trong : kim ngân hoa, ké dầu ngựa 15 gam, tô mộc 10 gam, vỏ
núc nác 12 gam, các thứ thái nhủ đun sắc lấy nước uống hàng ngày.
3. Điều trị tổ đỉa.
3.1. Thuốc bôi ngoài:trứng gà lấy lòng đỏ đem đốt chày thành dầu , lấy dầu đó bôi
ngày 2-3 lần.
3.2. lá bạch hoa xà 1 nắm giã nát, luộc chín, đắp và băng lại trước khi đi ngủ, sáng
dậy bỏ thuốc ra, ngày băng một lần.
3.3. Vôi bột trộn lá ngải cứu rồi đốt xông khói hoặc xông khói hương truật và bột
lá lốt.
4. Điều trị ghẻ.
+ Nước tắm :lá khổ sâm, lá ba chạc, lá thầu dầu tía, lá xuyên tâm liên, vài ba thứ lá
trên đun sắc đặc rồi tắm rửa hàng ngày.
+ Thuốc bôi :
- Lá trầu không 7 lá, dường 1 thìa cà phê, đem giã nát trộn đều, bọc gạc xát vào
chỗ bị ghẻ.
- Hạt máu chó 100 gam giã mịn, dầu lạc hoặc dầu vừng 50 gam, hai thứ nấu kỹ để
nguội bôi vào chỗ ghẻ.
- Lá trầu không 50 gam, diêm sinh 100 gam, mỡ lợn 140 gam, nấu chảy ra trộn
đều với nước cốt lá trầu không( lá trầu không được giã nát vắt lấy nước) và bột
diêm sinh, trộn cho nhuyễn, bôi ghẻ buổi tối.
5. Điều trị vảy nến .
+ Nước sắc hạt đậu miêu 10% ngày uống 1 lần.
+ Cao vàng Đàm lương ( Đàm pomát) ngày bôi 1-2 lần.
6. Điều trị bạch biến.
Dùng phá cố chỉ 10- 15 gam sắc uống ngày 1 lần với thời gian 30- 60 ngày, đồng
thời bôi dung dịch 15% vào tổn thương, kéo dài 2-3 tháng.
Lá trầu không 10 lá.
Giã nhỏ, bọc vào gạc sát vào tổn thương nấm da hàng ngày.
+ Dung dịch riềng, dâm thanh.
Riềng giã nhỏ 30 gam.
Dấm thanh vừa đủ 100 ml.
Ngâm 1 tuần, sau bôi chữa lang ben.