Đề tài " Kinh tế tri thức "
1
1
MỤC LỤC
2
2
A, PHẦN MỞ ĐẦU.
1, Tính cấp thiết của đề tài.
Đối với nước ta, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức là cơ hội lớn để đẩy
nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất đi lên xã
hội chủ nghĩa. Nếu như không biết tận dụng cơ hội này để đổi mới cách nghĩ
cách làm, nâng cao năng lực nội sinh, bắt kịp tri thức của thời đại, thì không
thể đi tắt đón đầu và sẽ tiếp tục tụt hậu xa.
Vỡ vậy, việc tìm hiểu khái niệm, bản chất và xu hướng phát triển của kinh
tế tri thức đồng thời tìm hiểu thực trạng,cơ hội, thách thức và những vấn đề
đặt ra đối với Việt Nam trước xu thế phát triển của kinh tế tri thức, trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp để phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
2, Nhiệm vụ của đề tài:
- Luận giải những vấn đề lý luận về kinh tế tri thức.
+ Khái niệm của kinh tế tri thức
+ Đặc điểm của nền kinh tế tri thức.
- Đánh giá thực trạng về nền kinh tế tri thức của Việt Nam.
+ Những việc đó làm được.
+ Những việc có thể làm nhưng chưa làm được.
+ Triển vọng từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt
Nam.
+ Thứ nhất, phải đổi mới cơ chế và chính sách, tạo lập một khuôn khổ
pháp lý mới, phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xó
hội chủ nghĩa.
+ Thứ hai, chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo
một số văn bản chính thức của Đảng vμ Nhμ n−ớc ta đã khẳng định công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá n−ớc ta rất coi trọng vận dụng các yếu tố
của kinh tế tri thức. Vì vậy, nhiều nhμ nghiên cứu vμ nhμ hoạch định chính
sách cho rằng quá trình phát triển kinh tế tri thức vμ quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở n−ớc ta có mối gắn kết chặt chẽ với nhau. Nghị
quyết Hội nghị Trung −ơng 7 Khoá VII của Đảng ta đã chỉ rõ: “Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá lμ quá trình chuyển đổi căn bản, toμn diện các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ vμ quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao
4
4
động thủ công lμ chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
với công nghệ, ph−ơng tiện vμ ph−ơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự
phát triển của công nghiệp vμ tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất
lao động xã hội cao”. Định nghĩa nμy đã nêu rõ mức độ (căn bản, toμn diện),
phạm vi (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vμ quản lý kinh tế, xã hội), ph−ơng
tiện (công nghệ hiện đại), cơ sở, tức lμ chỗ dựa (công nghiệp vμ công nghệ),
mục đích trực tiếp (năng suất lao động xã hội cao) của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở n−ớc ta, nhằm đạt mục tiêu n−ớc ta cơ bản trở thμnh một n−ớc công
nghiệp vμo năm 2020.
Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nhận định: “Thế
kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học vμ công nghệ sẽ có b−ớc tiến
nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngμy cμng nổi bật trong quá trình phát
triển lực l−ợng sản xuất”. Chiến l−ợc phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn
2001-2010 của n−ớc ta đ−ợc thông qua tại Đại hội IX của Đảng đã xác định:
“Con đ−ờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của n−ớc ta cần vμ có thể rút
ngắn thời gian, vừa có những b−ớc tuần tự, vừa có b−ớc nhảy vọt. Phát triển
những lợi thế của đất n−ớc, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ
tiên tiến, đặc biệt lμ công nghệ thông tin vμ công nghệ sinh học, tranh thủ
ứng dụng ngμy cμng nhiều hơn, ở mức cao hơn vμ phổ biến hơn những thμnh
tựu mới về khoa học vμ công nghệ, từng b−ớc phát triển kinh tế tri thức”. Vấn
các cuộc cách mạng đó mang lại, năng lực trí tuệ của người lao động không
ngừng được nâng cao, phần giá trị do lao động trí tuệ của họ tạo ra trong qỳa
trỡnh sản xuất và được kết tinh ở sản phẩm ngày càng tăng. Từ chỗ chiếm
một tỷ trọng rất không đáng kể ớ các thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp,
ngày nay, ở các nước phát triển, đối với một số loại sản phẩm có hàm lượng
trí tuệ cao, hàm lượng giá trị do trí tuệ tạo ra và được kết tinh trong sản phẩm
có thể đạt tới 80 - 90% tổng giá trị sản phẩm. Đối với các loại sản phẩm đó,
nguyên vật liệu, năng lượng, lao động cơ bắp chỉ tạo thành từ 10% - 20% giá
trị sản phẩm.
Không chỉ như vậy, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm khụng cũn là cụng
việc của riờng người lao động, mà của cả một bộ phận ngày càng tăng lên
những người trực tiếp quản lý quỏ trỡnh sản xuất, những kỹ sư, những nhà
công nghệ
Sự thay đổi đó là xu thế khách quan, mang tính tiến bộ và ngày càng mở
rộng. Nó làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động cơ bắp mặc dù vẫn là
nhưng thứ không thể thiếu trong nền sản xuất xó hội, nhưng ngày càng mất
giá.
Mức đóng góp của tri thức và kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế ngày
càng lớn. Do vai trũ và vị trớ ngày càng lớn của tri thức trong nền kinh tế, do
thụng tin và tri thức ngày càng trở thành nguồn lực phỏt triển kinh tế chủ yếu,
nờn cơ cấu đầu tư để phát triển lực lượng sản xuất có những thay đổi rất lớn.
Ở Hoa Kỳ, mỗi năm số tiền chi vào việc sản xuất tri thức và các hoạt động
liên quan khác chiếm khoảng 20% GDP, trong đó, chi phí cho giáo dục chiếm
10% GDP. Ngày càng có nhiều giá trị gia tăng kinh tế do trí tuệ tạo ra.
I.1.2.2 Yếu tố trớ tuệ quan trọng hơn yếu tố vật liệu tự nhiên trong tư
liệu sản xuất
Trong nền kinh tế tri thức, mối tương quan giữa các yếu tố cơ bản cấu thành tư
liệu sản xuất có sự thay đổi rất lớn.
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong các
nền kinh tế trước, đối tượng lao động chủ yếu là những bộ phận của tự nhiên,
cao quá trỡnh sản xuất, đó và đang diễn ra sự xích lại gần nhau giữa người lao
động sản xuất và nhà quản lý. Trong nền kinh tế tri thức, ở khụng ớt trường
hợp, người sản xuất và người quản lý hội tụ trong một cá thể mà ở đó, mặt
quản lý ngày càng cú ưu thế hơn mặt laođộng trong việc tạo ra sản phẩm.
Những thay đổi ấy làm cho những yếu tố tạo ra giá tri mới được kết tinh
trong sản phẩm thặng dư mà biểu hiện dưới hỡnh thức giỏ trị là giỏ trị thặng
dư cũng không hoàn toàn như cũ. Giá trị thặng dư được tạo ra không cũn chỉ
do lao động sống của người công nhõn trực tiếp sản xuất, mà cũn do lao động
vật hoá, do lao động quản lý Lao động quản lý nói ở đây bao gồm cả lao
động quản lý của các chuyờn gia quản lý (khi đó, họ thuộc về người lao động
theo nghĩa hiện đại của từ này) và lao động quần lý của người sở hữu tư liệu
sản xuất nếu họ tham gia quản lý doanh nghiệp. "Quản lý" lại là loại hỡnh lao
động phức tạp, nó là "bội số của lao động giản đơn" như C.Mác nói.
7
7
Trớ tuệ tự nú mang tớnh xó hội rất cao và thậm chớ, cũn mang tớnh nhõn
loại. Do vậy, khi núi về những bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất trong
nền kinh tế trí tuệ, chúng ta thấy nổi lên một đặc điểm hết sức quan trọng là
tính xó hội hoỏ, quốc tế húa rất cao của nú.
I.1.2.4 Nội dung và tính chất mới của vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất
Tri thức hiện nay đang được coi là nguồn lực kinh tế chủ yếu. Các nhân tố
sản xuất truyền thống là đất đai, lao động và tư bản không biến mất, nhưng
tầm quan trọng của nó không cũn như cũ. Một điều quan trọng hơn rất nhiều
là tri thức tạo ra được cơ chế lợi nhuận tăng dần, trong khi các yếu tố sản xuất
truyền thống (đất đai, vốn, lao động), như chúng ta đó biết, lại tuõn theo quy
luật lợi nhuận giảm dần. Đó là một xu hướng thực tế, bới chính công nghệ
thông tin - một bộ phận quan trọng của nền kinh tế tri thức đó trở thành
phương tiện giải phóng các tiềm năng sáng tạo và tri thức tiềm ẩn trong mỗi
người, thành công cụ "khuếch đại sức mạnh của nóo giống như công nghệ của
cuộc cách mạng công nghiệp khuếch đại sức mạnh của cơ bắp " (Brad de
cạnh tranh tự do hoàn háo, nhưng trong nền kinh tế tri thức, việc bảo hộ
quyển sở hữu trí tuệ đó làm tăng tính độc quyền, khiến cho người nắm quyền
chiếm hữu đối với tri thức thu được lợi nhuận siêu ngạch.
So với sở hữu các giá trị vật chất, sở hữu tri thức có những đặc điểm hết
sức riêng biệt: Sở hữu tri thức bao gồm quyền sở hữu cụng nghiệp (quyền về
phỏt minh - sỏng chế, về nhón hiệu thương mại, bản quyền và các kiểu dáng
công nghiệp ), ngày nay cũn tớnh thờm phương pháp gây giống các loài cây,
quyền về các hỡnh vẽ, mẫu vẽ, quyền về cỏc bản đồ vẽ địa hỡnh, về cỏc chất
bỏn dẫn Ngoài ra, cũn quyền về bớ mật thương mại.
Với tư cách là đối tượng sở hữu, tri thức là một sản phẩm có đặc tính lũy
tiến và rất khó kiểm soát. Tri thức là một sản phẩm không bị cạn kiệt khi sử
dụng, có thể vô số người cùng sử dụng một tri thức mà không ai mất phần.
Một tri thức có thể thuộc quyền sở hữu của nhiều người, một người có thể
dùng nhiều lần mà không phái trả thêm tiền. Hơn nữa, càng nhiều người sử
dụng càng tăng hiệu quả (như mạng Internet). Người sau có thể kế thừa tri
thức của người đi trước để sần xuất ra tri thức mới. Bởi vậy, tri thức cũng là
một tài sản khó kiểm soát nhất. Chi phí cho phát triển tri thức rất lớn, nhưng
sản phẩm càng về sau càng rẻ. Vớ dụ, chi phớ cho việc nghiên cứu đĩa
chương trỡnh Window đầu tiên tổn phí hết 50 triệu USD, nhưng đĩa thứ hai
và các đĩa tiếp theo chỉ tốn 3 USD.
Khác với "lao động" và "vốn", việc sử dụng tri thức không làm nó mất đi và
vỡ vậy, càng nhiều người sử dụng càng đem lại lợi ích nhiều mà không tốn
thêm chi phí. Người này sử dụng không làm giảm khả năng sử dụng của
người khác, vỡ vậy, tri thức cú tớnh khụng cạnh tranh trong sử dụng.
Tri thức có tính không loại trừ với nghĩa là khi truyền bá và chuyển giao tri
thức không làm tri thức mất đi, vỡ vậy, một tri thức được xó hội hoỏ (nhiều
người biết), người ta không thể loại trừ người này sử dụng trong khi cho phép
người khác được sử dụng (theo nghĩa tự nhiên của nó). Trên thực tế, người ta
có thề thông qua bản quyền để cấm áp dụng.
Tri thức cũng có tính tích luỹ cao. Tri thức và thông tin không bị giảm đi
nhân khi mới sáng tạo ra, sau đó nhanh chóng trở thành của xó hội.
I.1.2.5. Đặc điểm mới của quan hệ tổ chức, quản lý trong nền kinh tế tri
thức
Tác động của kinh tế tri thức đối với tổ chức và quản lý rất rộng, trong đó,
nổi bật nhất là một số điểm chính sau đây:
Chủ thể và đối tượng quản lý: đại bộ phận là cụng nhõn cú học vấn.
Việc ỏp dụng cỏc thành tựu của cỏch mạng khoa học - cụng nghệ (nhất là
cụng nghệ thụng tin) vào quản lý đũi hỏi chủ thể quản lý phải nõng cao trỡnh
độ hiểu biết về nhiều mặt. Cũn về đối tượng chịu sự quản lý, đúng như dự báo
của C.Mác "toàn bộ quá trỡnh sản xuất thỡ biểu hiện ra khụng phải như là
một quá trỡnh phụ thuộc vào tài nghệ trực tiếp của người công nhân, mà với
tư cách là sự ứng dụng khoa học trong “lĩnh vực công nghệ" và "biến quá
trỡnh sản xuất từ chỗ là quỏ trỡnh lao động giản đơn thành quá trỡnh khoa
học ", "do đó đến một giai đoạn nào đó, guồng máy có thể thay thế công
nhân" và "theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế
10
10
trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào số lượng lao động đó chi
phớ hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khơi động trong thời gian
lao động và bản thân những tác nhân ấy, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của
chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để
sản xuất ra chúng, mà đúng hơn, chúng phụ thuộc vào trỡnh độ chung của
khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng
khoa học ấy vào sản xuất". Vỡ thế, "lao động biểu hiện ra không phải chủ yếu
là lao động được nhập vào quá trỡnh sản xuất, mà chủ yếu là một loại lao
động trong đó con người, trái lại, là người kiểm soát và điều tiết bản thân quá
trỡnh sản xuất" và "thay vỡ làm tỏc nhõn chủ yếu của quỏ trỡnh sản xuất,
người công nhân lại đứng bên cạnh quá trỡnh ấy”.
Như trong bất kỳ nền kinh tế nào, đối tượng quản lý là quỏ trỡnh sản xuất,
nhưng trong nền kinh tế tri thức, quản lý trước hết và chủ yếu là quá trỡnh
Để kinh tế tri thức phát triển, phương pháp tổ chức sản xuất mới từng bước
thay thế phương pháp Taylor trước đây. Đó là việc tổ chức ở cấp kinh tế vi
mô, kết nối các Xí nghiệp, Công ty, doanh nghiệp thành mạng lưới.
Từ đó giảm các khâu trung gian, chuyển giao nhiều trách nhiệm hơn cho
cấp dưới và ngược lại, cũng đũi hỏi người lao động phải có năng lực cao hơn.
Trong thời đại hiện nay, sự phát triển của công nghệ thông tin đang tạo điều
kiện cho việc thực hiện các chu trỡnh sản xuất phi tập trung hơn, sự phối hợp
giữa các công đoạn sản xuất kinh doanh trở nên mềm dẻo hơn so với thời kỳ
trước đây trong nền sản xuất đại trà.
I.1.2.7. Đặc điểm mới của quan hệ phân phối trong nền kinh tế tri thức
Khoảng cách giữa nước nghèo nhất và nước giàu nhất về thu nhập, tuổi thọ,
giáo dục và chất lượng cuộc sống đó ngày một rộng hơn trong quá trỡnh phỏt
triển của nền kinh tế tri thức. 20% dõn số thế giới hiện đang sống ở những
nước có thu nhập cao nhất (hưởng 86% GDP, 82% thị trường xuất khẩu hàng
hoá và địch vụ, 68% đầu tư từ nước ngoài trực tiếp, 93,3% mạng lưới viễn
thông toàn cầu).Trong khi đó, 20% dân số là những người nghèo khó của thế
giới chỉ được hưởng chưa đầy 1% thành quả trên.
Riêng về thu nhập, khoảng cách giữa 1/5 số người giàu nhất và 1/5 số người
nghèo nhất tăng từ 30 lần (thập niên 60) lờn 74 lần (thập niờn 60).
Những nước phát triển mạnh kinh tế tri thức thường có tăng trưởng GDP
cao, tỷ lệ thất nghiệp giảm và đời sống của người lao động được nâng cao.
Chẳng hạn, Ôxtrâylia đó cú lỳc là một trong những nền kinh tế tăng trưởng
nhanh nhất thế giới (năm 1998 GDP tăng 4,9%). Một trong những nguyên
nhân của thành công trên là Ôxtrâylia đó đi đầu trong ứng đụng công nghệ
cao, nhất là công nghệ thông tin. Vào tháng giêng 1999, trên 48. 000 doanh
nghiệp ở Ôxtrâylia đó cú cỏc địa chỉ miền riờng với mỏy chủ là cỏc nhà cung
cấp dịch vụ Internet (ISP), ngoài ra cũn 50.000 địa chỉ Web thuộc các trang
chủ khác trong các thư mục cửa hàng hoặc khu buôn bán trên mạng. Hiện có
hơn 640 ISP đang hoạt động ở Ôxtrâylia. Doanh thu của các ngành công
nghiệp thông tin của Ôxtrâylia trong những năm 1995 - 1996 là 47 tỷ USD
thứ hai là công nghiệp và ngành sản xuất thứ ba là địch vụ. Dịch vụ đang nói
ở đây là một khái niệm rộng, bao gồm dịch vụ đối với các ngành sản xuất vật
chất và bao gồm các loại dịch vụ đối với đời sống và tiêu đùng của nhân dân
(như thương nghiệp, tiền tệ, vận tải, thông tin, thậm chí cả những hoạt động
của khoa học, giáo dục, những hoạt động của Chính phủ, toà án đều được
gọi là ngành sản xuất thứ ba). Sự phân loại ngành sản xuất thứ nhất, thứ hai,
thứ ba và sự ra đời, sự tiến triển của các ngành đó cung phản ánh một xu thế
lịch sử, tức cái sau hơn cái trước - cả về chất lượng và tốc độ. Riêng về tốc
độ, chúng ta thấy rằng ngành sản xuất thứ hai có nhịp độ phát triển nhanh hơn
so với ngành sản xuất thứ nhất, ngành sản xuất thứ ba có nhịp độ tăng trưởng
nhanh hơn ngành thứ hai. Tỡnh hỡnh thực tế hiện nay của cỏc nước phát triển
là tỷ trọng ngành sản xuất thứ ba có thể chiếm tới 66,7% GDP. Dư luận chung
hiện nay cho thấy, nhịp độ tăng trưởng của giáo dục và khoa học trong ngành
sản xuất thứ ba là hết sức nhanh, vị trí ngày càng quan trọng. Cho nên có thể
13
13
tách giáo đục, khoa học từ ngành sản xuất thứ ba ra thành ngành sản xuất thứ
tư.
Theo thống kờ của Tổ chức Hợp tỏc Phỏt triển Kinh tế ( OECD), tỷ lệ đóng
góp của ngành dịch vụ Hoa Kỳ vào GNP từ 50% tăng lên 80%, trong đó 63%
dịch vụ là thuộc dịch vụ kỹ thuật cao. Cũn theo đánh giá của Ngân hàng thế
giới, 64% của cải thế giới hiện nay là do “vốn nhân lực" cấu thành. Trên 80%
công việc trong các ngành của Hoa Kỳ về bản chất là công việc "lao động trí
óc". Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong các yếu tố sản xuất
ngày càng tăng, các ngành kinh tế tri thức (những ngành dựa vào các thành
tựu mới nhất của khoa học và công nghệ) và cả nhưng ngành truyền thống
(như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, được cải tạo bằng ứng đụng thành
tựu khoa học và công nghệ) ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế
quốc dân. Sản xuất công nghệ trở thành loại hỡnh sản xuất quan trọng nhất,
tiờn tiến nhất, tiờu biểu cho nền kinh tế tri thức. Ở những nước công nghiệp
tự thế giới. Các nước công nghiệp mới đang tỡm thấy trong nền kinh tế tri
thức một sung lực mới, động lực quyết định để đuổi kip các nước công nghiệp
phát triển. Các nước phương Nam nhỡn nhận kinh tế tri thức với cỏc nguy cơ
và thách thức lớn lao. Song cũng có nhiều nước vừa ý thức được rất rừ những
thỏch thức thực sự, đồng thời vừa nhận thấy nền kinh tế tri thức là một thời cơ
chiến lược giúp họ thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu và chậm phát triển.Với quan
niệm: kinh tế tri thức là sản phẩm của sự phát triển chung của toàn nhân loại,
xu hướng phát triển dựa trên tri thức – cái tinh túy nhất của Con người, của
nhân loại, nguồn lực có khả năng tái sinh mạnh mẽ nhất – là một xu hướng tất
yếu.
II.2. Thực trạng của nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
II.2.1. Những việc đ∙ lμm đ−ợc
Đánh giá theo những đặc tr−ng của kinh tế tri thức, trong gần 20 năm
đổi mới vừa qua, Việt Nam đã đạt đ−ợc những kết quả, thể hiện chủ yếu nh−
sau:
- Thứ nhất, tăng tr−ởng kinh tế vμ chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Liên tục trong nhiều năm, Việt Nam duy trì đ−ợc tốc độ tăng tr−ởng
kinh tế cao vμ ổn định, đạt trung bình khoảng hơn 8% hμng năm trong giai
đoạn 1990- 2000 vμ hơn 7% trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay. GDP thực
tế trên đầu ng−ời đạt trung bình hμng năm khoảng 5,9% trong giai đoạn 1990-
2002. Tăng tr−ởng cao vμ ổn định đã có những tác động lan toả tích cực đến
các khía cạnh khác của đời sống kinh tế- xã hội.
Bên cạnh tốc độ tăng tr−ởng cao, cơ cấu kinh tế của n−ớc ta trong
những năm qua đã có sự chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá
trị gia tăng cao, trong đó có những lĩnh vực dựa nhiều vμo tri thức, ngμy cμng
tăng. Tỷ trọng nông- lâm- ng− nghiệp trong GDP đã giảm đều đặn vμ tỷ trọng
công nghiệp- xây dựng vμ dịch vụ đã tăng lên t−ơng ứng (Bảng 1). Một số
lĩnh vực nh− công nghiệp thông tin, công nghiệp công nghệ cao, các lĩnh vực
dịch vụ dựa vμo xử lý thông tin, tμi chính ngân hμng, giáo dục đμo tạo,
nghiên cứu phát triển công nghệ… đã dần dần hình thμnh vμ có b−ớc phát
- Thứ ba,chủ động hội nhập kinh tế quốc tế:
Các quan hệ kinh tế song ph−ơng vμ đa ph−ơng của Việt Nam không
ngừng đ−ợc mở rộng thông qua việc ký kết vμ tham gia vμo các hiệp định vμ
diễn đμn nh−: ký Hiệp định khung với Liên minh Châu Âu (EU) (1992); tham
gia Khu vực Th−ơng mại Tự do ASEAN (AFTA) (1996); tham gia Diễn đμn
Hợp tác Kinh tế Châu á- Thái Bình D−ơng (APEC) (1998); ký Hiệp định
Th−ơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ (2000); vμ từ năm 1995 đang trong quá trình
đμm phán gia nhập WTO.
Kết quả lμ cho đến nay, lần đầu tiên n−ớc ta đã thiết lập đ−ợc mối quan
hệ bình th−ờng với tất cả các n−ớc lớn, các nhóm n−ớc vμ trung tâm kinh tế,
tμi chính lớn trên thế giới. Điều nμy đã đóng góp đáng kể cho phát triển kinh
tế, nh−: tiếp nhận một khối l−ợng vốn lớn FDI, ODA; tiếp nhận chuyển giao
công nghệ, tăng năng suất lao động; có nguồn vốn để xoá đói giảm nghèo; mở
rộng thị tr−ờng tiêu thụ, tăng kim ngạch xuất khẩu; tăng vị thế của n−ớc ta
trên thị tr−ờng quốc tế N−ớc ta đang từng b−ớc trở thμnh một mắt khâu
trong mạng l−ới sản xuất- kinh doanh toμn cầu, trong đó có những hoạt động
liên quan đến sự sản sinh truyền bá vμ sử dụng tri thức.
16
16
- Thứ t−, từng b−ớc hình thμnh kết cấu hạ tầng then chốt cho kinh tế
tri thức:
Mạng thông tin đ−ợc đánh giá lμ một trong những kết cấu hạ tầng quan
trọng nhất của xã hội vμ nền kinh tế tri thức. Trong những năm qua, nhờ
những nỗ lực thực hiện Ch−ơng trình quốc gia về công nghệ thông tin (từ
năm 1995) vμ chiến l−ợc đẩy nhanh phát triển lĩnh vực viễn thông, mạng
thông tin ở n−ớc ta đã đ−ợc hình thμnh vμ mở rộng nhanh chóng, vμ viễn
thông đ−ợc đánh giá lμ một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển vμ đuổi
kịp nhanh nhất của nền kinh tế. Hiện nay, mạng l−ới viễn thông của Việt Nam
đã đ−ợc tự động hoá hoμn toμn với 100% các hệ thống chuyển mạch số vμ
truyền dẫn số trải rộng trên toμn quốc vμ kết nối với quốc tế. Một loạt các
17
tăng tr−ởng chủ yếu dựa vμo lợi thế so sánh tĩnh tăng vốn đầu t− trong nhiều
năm qua khó có thể bảo đảm đ−ợc mức tăng tr−ởng cao trong dμi hạn, nhất lμ
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngμy cμng sâu rộng.
- Thứ hai, nền kinh tế thị tr−ờng vμ thể chế kinh tế thị tr−ờng còn non
yếu, thiếu sót vμ nhiều méo mó
Hệ thống thể chế kinh tế thị tr−ờng ở n−ớc ta nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
ch−a theo kịp diễn biến thực tế của các hoạt động kinh tế, ch−a đầy đủ, ch−a
đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo, không minh bạch, vμ nhất lμ năng lực thực
thi pháp luật còn yếu. Cải cách hμnh chính diễn ra chậm chạp, khiến cho năng
lực hỗ trợ của nền hμnh chính cho phát triển kinh tế bị hạn chế nghiêm trọng,
thậm chí trong nhiều tr−ờng hợp các thủ tục hμnh chính lạc hậu, r−ờm rμ còn
gây cản trở cho công cuộc phát triển.
Một số thị tr−ờng rất quan trọng mới chỉ đ−ợc hình thμnh rất sơ khai
mμ đã nhiều méo mó, trong đó có thị tr−ờng khoa học vμ công nghệ. Hμng
hoá trên thị tr−ờng khoa học vμ công nghệ còn nghèo nμn, l−ợng giao dịch
trên thị tr−ờng còn ít vμ đơn điệu. Các yếu tố cấu thμnh của thị tr−ờng, đặc
biệt lμ hμng hoá, các chủ thể cung, cầu vμ các dịch vụ hỗ trợ thị tr−ờng đều
yếu. Thị tr−ờng khoa học vμ công nghệ Việt Nam ch−a trở thμnh môi tr−ờng
cần thiết để khuyến khích sự sáng tạo vμ đổi mới.
- Thứ ba, quá trình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế ch−a mạnh vμ
ch−a đồng đều:
Quá trình phát triển nhận thức về toμn cầu hoá vμ hội nhập kinh tế
quốc tế còn chậm trong các cấp, các ngμnh, thiếu sự thống nhất vμ quyết tâm
cao từ trên xuống d−ới. Việc chỉ đạo vμ phối hợp thực hiện giữa các ngμnh,
các cấp nhiều khi còn chệch choạc, thiếu nhất quán; đặc biệt, n−ớc ta ch−a
hình thμnh đ−ợc một kế hoạch tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế cũng nh−
ch−a có lộ trình hợp lý thực hiện các cam kết quốc tế, do đó ch−a gắn kết
đ−ợc một cách hμi hoμ các lộ trình hội nhập ở các cấp độ vμ quy mô khác
nhau: song ph−ơng, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực vμ toμn cầu.
tin cần thiết. Các ph−ơng thức kinh doanh mới nh− th−ơng mại điện tử, thị
tr−ờng ảo, tổ chức ảo, doanh nghiệp ảo, lμm việc từ xa… còn ở trình độ manh
nha, thậm chí mới có trong mong muốn, trong lời nói, trong bμi viết, ch−a có
trong thực tế.
Nền giáo dục, đμo tạo của n−ớc ta đang chứa đựng nhiều vấn đề bức xúc, bộc
lộ những yếu kém dai dẳng trong nhiều năm ch−a khắc phục đ−ợc. Sự chậm
đổi mới về ph−ơng pháp dạy vμ học, nội dung ch−ơng trình, các hiện t−ợng
chạy theo thμnh tích, dạy thêm học thêm trμn lan… đã đ−ợc đề cập, bμn bạc
nhiều, nh−ng ch−a có những giải pháp hữu hiệu. Công tác xã hội hoá giáo dục
diễn ra chậm, sự phân biệt đối xử đối với các cơ sở giáo dục ngoμi công lập…
góp phần kìm hãm sự phát triển giáo dục. Thực tế đó đã ảnh h−ởng trực tiếp
đến nguồn nhân lực của Việt Nam, một nguồn nhân lực dồi dμo về số l−ợng
lao động nh−ng lại thiếu trầm trọng nguồn lao động có chất l−ợng. Trên thị
tr−ờng lao động của Việt Nam đang rất thiếu các chuyên gia về quản trị kinh
doanh, các lập trình viên, kỹ thuật viên, các nhμ quản lý trung gian hiểu biết
về tμi chính vμ tiếp thị với yêu cầu cơ bản về tiếng Anh, những công nhân có
tay nghề cao, ham học hỏi. Với thực trạng yếu kém nh− vậy, rất khó có thể
hình thμnh đ−ợc ở Việt Nam một xã hội học tập vμ một đội ngũ đông đảo các
lao động tri thức.
II.3. Triển vọng từng b−ớc phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Vì lμ một n−ớc đang phát triển vμ đang chuyên đổi, nên quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở n−ớc ta lμ một quá trình thực hiện đồng thời ba
nhiệm vụ: chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp vμ từ kinh
19
19
tế công nghiệp sang kinh tế tri thức cùng một lúc vμ trong quan hệ thúc đẩy
lẫn nhau với việc chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp
sang kinh tế thị tr−ờng định h−ớng XHCN. Ba nhiệm vụ ấy phải đ−ợc thực
hiện đồng thời, lồng ghép vμo nhau, hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau. Định
h−ớng cực kỳ quan trọng lμ phải nắm bắt các tri thức vμ công nghệ mới nhất
thống thể chế kinh tế thị tr−ờng định h−ớng xã hội chủ nghĩa; chăm lo nâng
cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đμo tạo nhân tμi; tăng c−ờng năng lực
20
20
khoa học vμ công nghệ vμ thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu; đẩy
mạnh ứng dụng vμ phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Song hμnh với quá trình trên đây, chúng ta cần sớm nghiên cứu, xây
dựng vμ bắt tay thực hiện một chiến l−ợc, hoặc ít ra lμ khung chiến l−ợc từng
b−ớc phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
- Thứ hai, chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân
tài. Trong những năm tới phải tăng mạnh đầu tư để phát triển giáo dục và phải
tiến hành một cuộc cải cách giáo dục mới. Trong một thời gian ngắn phấn đấu
để phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong toàn quốc, phổ cập trung học phổ
thông trong các thành thị, khu công nghiệp và vùng đồng bằng đông dân, tăng
nhanh đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, đội
ngũ cán bộ quản lý, cỏc doanh gia.
- Thứ ba, tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia để có thể tiếp
thu, làm chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học và công nghệ mới nhất
của thế giới cần thiết cho sự phát triển nước ta, từng bước sáng tạo những
công nghệ mới đặc thù của nước ta, xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên
tiến của Việt Nam.
- Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghệ thông tin là chỡa khoỏ để đi vào
kinh tế tri thức. Muốn rút ngắn quá trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá, rút
ngắn khoảng cách với các nước, phải khắc phục khoảng cách về công nghệ
thông tin. Trước năm 2010 trỡnh độ công nghệ thông tin của Việt Nam phải
đạt mức tiên tiến trong khu vực.
21
21
23
23