Đề tài " CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM " - Pdf 19

Đề tài "
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM "
1
1
MỤC LỤC
2
2
CHÍNHSÁCHPHÁTTRIỂNKINHTẾTƯBẢN NHÀNƯỚCỞ VIỆT NAM
Muốn vận dụng, phát triển lý luận kinh té tư bản Nhà nước phảI xây dựng và thực
hiện những chính sách về kinh tế tư bản Nhà nước. Nếu lý luận kinh tế phản ánh quy
luật vận động kinh tế của cả thời kỳ quáđộ lên chủ nghĩa xã hội thì chính sách kinh tế
thể hiện nhận thức quy luật và hành động của chủ quan con người trong một thời gian
nhất định
Trên thực tế, khi "lý luận và chính sách tách rời nhau" thì sẽ xuất hiện tình trạng
quan liêu, "nói nhiều làm ít" trong bộ máy quản lý. Còn khi có sự khác nhau giữa
chính sách với hoạt động thực tiễn thì sẽ bộc lộ tình trạng "nói một đàng làm một nẻo"
của người quản lý.
hính vì vậy, việc xây dựng chính sách phảI dựa trên những cơ sở chung của chiến
lược kinh tế - xã hội, còn việc thực hiện chính sách thì phải đi đôi với việc kiểm soát,
tranh tra.
I- Những cơ sở chung của việc xây dựng chính sách kinh tế tư bản trong
giai đoạn hiện nay
1. Về không gian và thời gian của chính sách
Đây là hai nhân tố gắn bó với nhau, tạo tiềm năng phát triển của chính sách. Tình
trạng hiện nay có nhiều chính sách chồng chéo nhau, sự lặp lại cái cũ dưới hình thức
mới, dấu ấn chủ quan, duy ý chí trong các chính sách còn khá nhiều, nói lên việc soạn
thảo chính sách chưa chúý hai nhân tố nêu trên gắn bó với nhau.
1.1. Về không gian của chính sách kinh tế tư bản Nhà nước hiện nay
Vì kinh tế tư bản Nhà nước là sự liên kết giữa kinh tế Nhà nước Việt Nam với kinh

đầu tư kém hấp dẫn. Điều này được chứng minh khi so sánh các địa phương quản lý
kém với địa phương quản lý khá. Chẳng hạn, trong quý I năm 2000, trong khi thành
phố Hồ Chí Minh một trung tâm kinh tế lớn nhất, chỉ thu hút được 29 triệu USD, thì
Bình Dương - một tỉnh nông nghiệp nghèo, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, lại thu hút
được hơn 46,4 triệu USD. Đồng Nai cũng tạo được sức hút như Bình Dương. Quản lý
tốt hay xấu là nhân tố hàng đầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng thể hiện ở hoạt
động quản lý các khu chế xuất, công nghiệp: sáu tháng đầu năm 2000, các xí nghiệp
hoạt động trong khu chế xuất Tân Thuận (thành phố Hồ Chí Minh) đã liên tục tăng
vốn, thuê thêm đất, mở rộng quy mô sản xuất: 12 xí nghiệp tăng vốn 31,28 triệu USD;
4
4
7 xí nghiệp thuê thêm 8.327 ha đất; công ty trách nhiệm hữu hạn Foodtec là một
nhàđầu tư trong nước hiếm hoi ở khu chế xuất Tân Thuận đã mở rộng quy mô sản xuất,
tăng vốn 1,4 triệu USD thuê thêm 3.448m
2
đất, tăng lao động từ 50 lên 500 người (từ
tháng 9-1999) nên đã tăng 20 lần khối lượng xuất khẩu các gói mì Mivimex.
Ở thành phố Hồ Chí Minh , hai khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung tiếp tục
phát triển. Sau tháng đầu năm 2000 đã thu hút hơn 46 triệu USD, theo ước tính của
Ban quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố (Hepza) thì tỷ lệ vốn thực
hiện trên vốn đăng ký của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong hai khu
chế xuất này hiện đạt khoảng 64% (450/715,85 USD), có lẽ là tỷ lệ cao nhất nước ta.
Sự phát triển tốt ở hai khu chế xuất này trong khi lĩnh vực cóđầu tư nước ngoài trong
cả hai nước giảm sút nói lên tầm quan trọng của quản lý Nhà nước trực tiếp ở sát cơ sở.
b. Phân tích không gian của chính sách kinh tế tư bản Nhà nước còn phải nhìn
lại lĩnh vực đầu tư trong những nhân tố hình thành kinh tế tư bản Nhà nước.
Sau khi ban hành Luật doanh nghiệp, chỉ mấy tháng đã có nhiều công ty tư nhân
ra đời (ước tính có 7000 công ty tư nhân) làm cho bộ mặt kinh tế có sự thay đổi nhất
định so với trước. Trong nước ta, nơi đầu tư trong nước phát triển nhất là thành phố Hồ
Chí Minh. Ởđây, đầu tư trong nước tăng bình quân 32,2%/năm trong thời kỳ 1991 -

của Đảng. Kinh nghiệm cho thấy, những nhân tố chệch hướng chủ nghĩa xã hội trong
khu vực kinh tế tư nhân chỉ phát triển những nhân tố chệch hướng trong bộ máy cầm
quyền không được khắc phục.
c. Sự ra đời, phát triển kinh tế tư bản Nhà nước ở nước ta không thể tách rời sự
phát triển vững mạnh của kinh tế Nhà nước.
Đặc điểm lớn nhất của kinh tế Nhà nước ta làđang trải qua quá trình chuyển đổi
thể chế kinh tế: từ thể chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là từ vị tríđộc tôn trong nền kinh
tếđãđược Nhà nước hóa sang vị trí, vai trò mới trong nền kinh tế nhiều thành phần, là
bộ phận của nền kinh tế mới.
- Kinh tế Nhà nước nhất là doanh nghiệp Nhà nước phải trở thành bộ phận quan
trọng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chịu tác động của các quy
luật kinh tế mà bộ máy quản lý nhận thức được, chứ không phải do chi phối của kiểu
quản lý quan liêu, duy ý chí.
- Kinh tếNhà nước phải chủđộng thiết lập các mối quan hệ bình đẳng với các
thành phần khác, nhằm thực hiện vai trò "bàđỡ" cho nền kinh tế mới ra đời.
6
6
Hiện nay, do kinh tế Nhà nước chưa vươn tới vị trí vai trò cần có của mình nên
các thành phần kinh tế khác kém phát triển, hoặc phát triển phiến diện. Đây là một
trong những vấn đề hạn chế sự phát triển kinh tế tư bản Nhà nước đúng hướng.
1.2. Nhân tố thời gian trong chính sách kinh tế tư bản Nhà nước
Trong tư duy lãnh đạo - quản lý kiểu cũ, nhân tố thời gian rất mờ nhạt, thậm chí
chẳng có mấy ý nghĩa trong chính sách và hoạt động. Trái lại, trong bối cảnh kinh tế thị
trường mở cửa và hội nhập, nhân tố thời gian cóý nghĩa quyết định đến hiệu quả quản
lý, thậm chí cóý nghĩa quyết định đến số phận chiến lược kinh tế - xã hội. Trong môi
trường hợp tác và cạnh tranh, thời cơ và nguy cơđều gắn với nhân tố thời gian.
Không phải ngẫu nhiên mà thời gian hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hóađược dựđịnh tới năm 2020. Chính xuất phát từ phân tích tình hình trong
nước và thế giới màĐảng ta đã xác định cái mức ấy. Như vậy, còn khoảng 20 năm để

đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng mới phác họa ra sáu đặc trưng của xã hội
tương lai, trong đó cóđặc trưng về kinh tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng đã cụ thể hóa một bước về mục tiêu kinh tế - xã hội là "dân giàu,nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh".
Như vậy, sau 15 năm đổi mới và từng bước nhận thức về mô hình kinh tế - xã
hội mà nước ta cần xây dựng, mới chỉ làm rõ hơn về mặt tư tưởng, còn về cấu trúc của
mô hình và quy luật vận động của nó thì chưa rõ. Sự chậm trễ trong nhận thức ở cấp vĩ
môảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động lãnh đạo - quản lý xây dựng kinh tế - xã hội: chậm
trễ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế , lúng túng trong phân bố công nghiệp, trong xác
định cơ cấu đầu tư. Việc ban hành và sửa đổi các Luật đầu tư trong nước, Luật đầu tư
nước ngoài, Luật công ty… có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường. Nhưng
các ưu điểm này bị hạn chế và méo mó khi chưa có nhận thức về cơ cấu kinh tế. Vì
vậy, sự phát triển vềđầu tư bao nhiêu thì quản lý Nhà nước càng bất cập bấy nhiêu, cái
cần buông thì không buông, cái cần nắm thì không nắm; về khách quan tạo ra cơ hội
cho những tệ nạn tham nhũng, hối lộ, lãng phí lan tràn, gây nhiều khó khăn cho công
tác thanh tra, kiểm soát, cho bộ máy tư pháp.
Trong quá trình chuẩn bịđường lối, chiến lược cho Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng đã có bước tiến nhất định về nhận thức mô hình kinh tế - xã hội nước
ta. Sau khi được Đại hội IX của Đảng thông qua nhận thức mô hình kinh tế - xã hội trở
thành cơ sở cho quá trình xây dựng hệ thống chính sách trong từng giai đoạn.
8
8
II. Những chính sách phát triển kinh tế tư bản Nhà nước trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1. Những quan điểm chỉđạo chính sách
Việc xây dựng chính sách và thựchiện chính sách đều phải nhất quán, thể hiện ở
các quan điểm chỉđạo nội dung chính sách. Đây là vấn đề không mới về nhận thức,
nhưng lại là vấn đề yếu kém trong công tác quản lý hiện nay. Một số chính sách vềđầu
tư, về thuế thu nhập, về xuất nhập khẩu sai lầm do quan điểm xây dựng chính sách.
Nhiều chính sách đúng, nhưng thực hiện chậm trễ, thậm chí có sai lầm đều do quan

Nhược điểm của các chính sách kinh tế tư trước tới nay là không đặt mỗi bộ
phận trong hệ thống, gặp khó khăn nào thìđưa ra chủ trương, chính sách giải quyết khó
khăn ấy, thiếu một tầm nhìn tái sản xuất như chính sách mía đường và nhiều loại nông
sản khác đang gây nhiều thiệt hại, lãng phí, nhưng chính sách kích cầu mà sản phẩm
vẫn ứđọng.
Những khó khăn loại ấy sẽ giảm dần nếu có cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với
quy luật vận động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan sát thực
tiễn kinh tế thị trường thế giới và kinh tế trong nước, phân tích kinh nghiệm quản lý về
hai mặt thành công và sai lầm, có thể nhận thức bước đầu về một cơ cấu kinh tế hợp lý
trong điều kiện nước ta. Chỉ trong cơ cấu ấy, kinh tế tư bản Nhà nước mới phát triển
vàđúng hướng. Do đó, phương hướng chính sách đối với kinh tế tư bản Nhà nước trong
sự hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý phải là:
a. Liên kết công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp
Sự phát triển hỗ trợ, thúc đẩy nhau giữa nông nghiệp với công nghiệp, trong đó
công nghiệp bám sát nhu cầu nông nghiệp vàở giai đoạn đầu công nghiệp phát triển
dựa trên cơ sở những thành tựu của nông nghiệp. Trong mối quan hệ thúc đẩy nhau
giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ là một khâu ngày càng tăng về số lượng và
chất lượng. Cơ chế thị trường và vai trò kinh tế của Nhà nước đều thông qua khâu đầu
tư về dịch vụđể thúc đẩy vàđiều chỉnh mối quan hệ hai lĩnh vực sản xuất cơ bản của xã
hội, có quan hệ trực tiếp đến đời sống, việc làm, ổn định xã hội của đa số dân cư nước
ta.
Chính sách về các thành phần kinh tế, thậm chí chính sách về một thành phần
kinh tế tư bản Nhà nước cũng phải đặt trong mối quan hệ giữa công nghiệp với nông
nghiệp. Chính sách kinh tế tư bản Nhà nước cũng chỉ có hiệu quả kinh tế và chính trị
khi đặt trong quan hệấy.
10
10
b. Kết hợp hài hòa quá trình đô thị hóa với công nghiệp hóa nông nghiệp, nông
thôn.
Các thành phần kinh tế, cũng như kinh tế tư bản Nhà nước nói riêng sẽ phát triển

Chúng ta ngày càng thấy rõ: mở cửa và hội nhập là hai nấc thang khác nhau. Mở cửa
thì dù sao vẫn là mối quan hệ giữa khách với chủ, còn hội nhập là mối quan hệ giữa
thành viên với tổ chức.
Khó khăn của ta làở trình độ phát triển kinh tế thấp hơn nhiều nước bạn. Cuộc
cạnh tranh và hợp tác trong điều kiện ấy là một thử thách lớn. Nóđòi hỏi sự lựa chọn cơ
cấu kinh tế và thể chế kinh tế quản lý phù hợp.
đ. Sự phát triển tổng hợp các mối quan hệ cơ bản nói trên hợp thành cơ cấu kinh
tế mới, trong đó sẽ hình thành hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng hiện đại,
bên cạnh một số tập đoàn mạnh làm rường cột của nền kinh tế quốc dân.
Chỉ sau khi nhận thức được những đường nét lớn của mô hình phát triển bền
vững với cơ cấu kinh tế nói trên, mới có căn cứ cho hoạch định chiến lược xây dựng
mô hình ấy, chứ không thể làm ngược lại.
Tiến lên một bước về quản lý là, vạch ra lộ trình với các bước đi thực tế thực
hiện chiến lược xây dựng mô hình ấy. Sau khi chiến lược kinh tế - xã hội với các bước
đi thực hiện được thông qua, thì căn cứ vào định hướng ấy là căn cứ vào thực trạng
trước mắt để vạch chính sách.
Lôgich của hoạt động quản lý Nhà nước như vậy sẽ xác định được các hình thức
tổ chức kinh tế (như kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước…) hư một tất yếu khách
quan, không phụ thuộc vào tình cảm yêu hay ghét.
Hoạt động quản lý như vậy là hoạt động mang tính tự giác của con người, tôn
trọng quy luật khách quan.
Quan điểm 3: Kết hợp nội lực với ngoại lực là phương thức phát triển nhanh
kinh tế tư bản Nhà nước.
Kinh nghiệm phổ biến của các nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công là
kết hợp tốt nội lực với ngoại lực. Kinh tế tư bản Nhà nước ra đời trong thời kỳ nền kinh
tế còn lạc hậu, thì vấn đề kết hợp nội lực với ngoại lực là phương thức phát triển cực
kỳ quan trọng. Phương thức này phù hợp với cả 2 bộ phận kinh tế tư bản Nhà nước: bộ
phận kinh tế Nhà nước kết hợp với đầu tư nước ngoài và bộ phận kinh tế Nhà nước kết
hợp với kinh tế tư bản tư nhân trong nước.
12

13
13
ngân sách lâu dài thông qua vận động của một cơ cấu (một hệ thống) chứ không phải
con số cộng tác đơn vị.
Kiểu chuyển dịch cơ cấu dựa trên phát triển số lượng các ngành, các thành phần
(chủ yếu nhờ tăng đầu tư mở rộng số lượng doanh nghiệp) không những sẽ làm chậm
trễ chuyển sang tăng năng suất, hiệu quả và chất lượng, mà còn rất dễ bị tổn thương lớn
khi bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế bên ngoài.
Trong mấy năm chuyển sang cơ chế thị trường, kinh tế cá thể, tiểu thủđã chuyển
mạnh sang phát triển sản xuất hàng hóa; kinh tế tư nhân và tư bản tư nhân đã ra đời
dưới nhiều hình thức (công ty trách nhiệm hữu hạn, trang trại…).
Phương hướng chính sách của Nhà nước là:
- Một mặt, cần thúc đẩy sự phát huy đầy đủ hơn các tiềm năng vốn có của các
thành phần kinh tếấy, với mục đích là lôi cuốn mọi nguồn lực trong dân cư vào phát
triển kinh tế.
- Mặt khác, dựa vào tính quy luật chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho các thành phần
phát triển theo quy hoạch chung.
- Ngoài ra, Nhà nước cần chuẩn bị cho bước phát triển cao hơn của chúng bằng
cách tổ chức dịch vụ cho các yêu cầu phát triển các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước
để hướng chúng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ.
Theo phương hướng nói trên, các chính sách lớn trong khu vực kinh tế nông
thôn bao gồm:
Chính sách phát triển kinh tế tư bản Nhà nước trong sản xuất nguyên liệu và chế
biến của ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Đây là một hệ thống chính sách, chủ trương quan trọng trong giai đoạn hiện nay
- giai đoạn nền công nghiệp phát triển dựa trên sự phát triển của khu vực kinh tế nông
thôn về nhiều mặt: lương thực, thực phẩm; nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến, nguồn lao động và thị trường cho công nghiệp. Đối với nước ta, không thể xây
dựng nền công nghiệp hiện đại nếu để cho khu vực kinh tế nông thôn lạc hậu.
Trong khu vực kinh tế nông thôn hiện nay, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản

Nhu cầu phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nông thôn không
những do thực trạng hiện nay của nông thôn, mà còn do yêu cầu của chiến lược công
nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước.
Hiện nay, Nhà nước đề ra 5 mục tiêu về nông nghiệp và phát triển nông thôn đều
nhằm đáp ứng hai đòi hỏi ấy.
Năm mục tiêu đó là:
15
15
+ Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống. Từng bước cải
thiện cơ cấu và chất lượng bữa ăn, tiến tới đạt tiêu chuẩn về dinh dưỡng.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy sản
qua chế biến; giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp; tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch
vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn.
+ Bằng nhiều biện pháp để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư
nông thôn; xóa bỏđói vào năm 2000, giảm tỷ lệ nghèo; phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội nông thôn, chú trọng phát triển hệ thống thủy lợi, bảo đảm đường giao thông
thông suốt đến trung tâm xã, cóđủ trường học, trạm y tế và nước sạch cho sinh hoạt.
+ Bảo vệ môi trường sinh thái. Ngăn chặn nạn phá rừng, có chính sách huy động
nhân dân và các thành phần kinh tế tích cực khoanh nuôi, tái sinh, bảo vệ và trồng
rừng, đưa tỷ lệ che phủ của rừng đạt 43% vào năm 2010.
+ Thực hiện tốt quy chế dân chủ, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội vàđoàn kết
nông thôn.
Trong kế hoạch ấy cũng đề ra các chính sách lớn, nhằm tạo động lực mới thúc
đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, đó là:
- Chính sách về các thành phần kinh tế
- Chính sách đất đai
- Chính sách đầu tư, tín dụng
- Chính sách thị trường
Trong chính sách về các thành phần kinh tế kế hoạch có ghi:

kiểu mẫu" (Lênin) trong nền công nghiệp nước ta ở giai đoạn hiện nay.
Từ thực tế mà xem xét, tiềm năng mởđường của các chính sách mới vài năm gần
đây cũng chưa tận dụng được nhiều, với hiệu quả cao. Cho nên , trước mắt là phải tiếp
tục vận dụng các chính sách ấy và bổ sung, hoàn thiện tiếp chính sách với điều kiện là
tiếp tục cải cách bộ máy quản lý.
Thứ nhất, chính sách mở rộng quyền lựa chọn của nhàđầu tư nước ngoài về các
mặt: lựa chọn dựán đầu tư, hình thức đầu tư, địa bàn, tỷ lệ góp vốn, thị trường tiêu thụ
sản phẩm, lựa chọn đối tác Việt Nam.
Quan điểm của chính sách mới sẽ khuyến khích nguồn FDI với hình thức doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài sẽ tăng lên. Do đó, đặt ra vấn đề cho phía Việt Nam là:
xây dựng , hoàn thiện cơ chế quản lý loại doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, không
17
17
thể dùng một cơ chế quản lý giống nhưđối với các liên doanh, do các đặc điểm khác
nhau như:
- Về quản trị doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có quyền chủđộng, xử lý
nhanh chóng những vấn đề kinh doanh (so với liên doanh nhiều trường hợp phải theo
nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị).
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường gắn với
nguồn tài chính của công ty mẹ, rất thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp (so với liên
doanh, nguồn vốn do các bên góp lại sẽ phức tạp hơn).
- Trình độ công nghệ của loại doanh nghiệp này được bảo đảm tính hiện đại
nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh.
- Đòi hỏi trình độ cao với người lao động Việt Nam trong loại doanh nghiệp này.
Những vấn đề xã hội, quan hệ chủ - thợ cũng đặt ra vấn đềít nhiều khác hơn các liên
doanh.
- Chủđầu tư loại doanh nghiệp này được hưởng trọn về lợi nhuận và bảo đảm bí
mật về tài chính và công nghệ.
Thứ hai: về chính sách đất đai, ngoài việc hạ giá thuêđất nhiều so với trước, còn
cho phép các công ty phát triển cơ sở hạ tầng được quyền cho các doanh nghiệp phát

tư gián tiếp khoảng 5,7 tỷ) số vốn đã thực hiện 13,235 tỷ USD (tỷ lệ 36,3%).
Trong các đối tác hợp tác đầu tư nước ngoài, sức mạnh chủ yếu làở các tập đoàn
đầu tư. Trong số các tập đoàn lớn trên thế giới, thì Trung Quốc đã thu hút hơn 200 tập
đoàn còn Việt Nam chỉ mới có 30 tập đoàn.
Trong những năm trước mắt, chính sách tài chính đối với nguồn đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã có những đổi mới và từng bước bổ sung do thực tiễn đặt ra. So với quy
định trước, quy định của Chính phủ từ năm 1998 trởđi đã phù hợp hơn, như:
- Các dựán đầu tư vào các địa bàn khuyến khích đầu tư và các dựán đặc biệt
được miễn thuế lợi tức bốn năm, kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong bốn
năm tiếp theo. Đồng thời, được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu trong thời gian 5
năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất.
- Được chuyển khoản lỗ năm trước sang năm tiếp theo, được bù các khoản lỗđó
bằng lợi nhuận, không quá 5 năm.
- Lãi tiền vay và các khoản chi vì từ thiện được khấu trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế.
- Hàng hóa thuộc diện tính thuế nhập khẩu được tính theo giá trị trong hóađơn
hàng nhập khẩu.
19
19
- Những ưu đãi về sản xuất hàng xuất khẩu…
Thứ tư: về Ngân hàng và ngoại tệ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo đảm cân đối ngoại tệ cho các doanh nghiệp
trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất thay thế hàng nhập khẩu thiết yếu và các quá
trình đầu tưđược công bố.
Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụđược ngân hàng Nhà nước Việt
Nam xem xét cho mua ngoại tệ. Doanh nghiệp có nhiệm vụ xuất khẩu sản phẩm được
hỗ trợ một phần về nhu cầu ngoại tệ trong 3 năm đầu. Ngoài ra, trong quá trình hoạt
động ở Việt Nam các doanh nghiệp có quyền dùng tài sản của mình để thế chấp, cầm
cố theo quy định của pháp luật.
Về mặt thị trường cũng được mở rộng: các doanh nghiệp được trực tiếp hay qua

NHỮNGGIẢIPHÁPTHỰCHIỆNCHÍNHSÁCHPHÁTTRIỂN
KINHTẾTƯBẢN NHÀNƯỚCỞ VIỆT NAM
Các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư bản Nhà nước mà ta thấy được hiện nay dưới
các hình thức sau:
- Các công ty liên doanh, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng
hợp tác kinh doanh, các công ty bán cổ phần cho nhàđầu tư nước ngoài… và các khu
công nghiệp, khu chế xuất.
Đây là các doanh nghiệp ra đời từ sự hợp tác cả kinh tế Nhà nước với các
nhàđầu tư nước ngoài.
- Trên một hướng khác, lại có các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước cũng ra đời
từ sự kết hợp giữa kinh tế Nhà nước với các nhà tư bản tư nhân trong nước, với các tư
nhân và hộ sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong các hình thức hợp tác.
Đây là kết quả quan trọng của đường lối đổi mới: chuyển sang cơ chế thị trường
mà mở cửa, hội nhập, xét về mặt lý luận kinh tế - chính trị hay là về chiến lược, sách
lược, thì cuộc sống cũng đang thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư bản Nhà nước. Đường
lối, chính sách của Đảng và Chính phủ ta thể hiện nhu cầu đó của cuộc sống, mặc dù
hiện nay về mặt nhận thức tư tưởng, cũng như tổ chức và quản lý kinh tế tư bản Nhà
nước còn tồn tại không ít vấn đề.
I. Về phân bố công nghiệp - một giải pháp chủ yếu vàbách hiện nay
Đây là vấn đề trong chiến lược kinh tế - xã hội, nhưng hiện nay sự phát triển ồạt
có phần tự phát, cục bộđịa phương của công nghiệp đã làm cho vấn đề này trở nên cấp
bách. Phân bố công nghiệp đúng cóý nghĩa trước mắt và lâu dài.
Trong những năm trước mắt, phải bảo đảm tăng trưởng gắn liền với ổn định xã
hội, từng bước thực hiện công bằng hơn về phân phối. Yêu cầu này đang cấp vấp phải
sự cản trở từ sự phát triển công nghiệp tách rời nông nghiệp, đô thị cách xa nông thôn.
Khoảng cách chênh lệch như hiện nay (trên 10 lần), ở giai đoạn mởđầu như thế là
không thuận lợi.
22
22
Giải pháp về phân bố công nghiệp hợp lý không chỉ tác động đến sự phát triển

23
2. Khuyến khích đầu tư vào khai thác lao động và khoa học - công nghệ
nhiều hơn vào khai thác tài nguyên.
Hướng phân bổ này mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường, nhưng các
doanh nghiệp không biết nhìn đến quy luật mà chỉ quan tâm biện pháp quản lý Nhà
nước hướng dẫn họ.
Đối với các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp thìđây còn là vấn đề bảo vệ môi
trường, đối với lĩnh vực khai khoáng thìđây còn làvấn đề bảo vệ môi trường, đối với
lĩnh vực khai khoáng thìđây còn là vấn đề bảo vệ tài nguyên.
Hướng phân bổ này sẽ khuyến khích các nhàđầu tư coi trọng nâng cao chất
lượng, hiệu quả sản xuất, tham gia đào tạo nhân lực cho phù hợp với yêu cầu. Đồng
thời, cũng thúc đẩy đổi mới hệ thống đào tạo, giáo dục ở nước ta.
Hướng phân bổ này cũng tạo điều kiện cho quá trình tích lũyđúng ý nghĩa của
nó, do đó tạo cơ sở tốt nguồn thu ngân sách ổn định và tăng lên.
3. Khuyến khích (bằng biện pháp kinh tế) tăng đầu tư vào các ngành dịch
vụ trực tiếp cho sự liên kết công nghiệp - nông nghiệp
Liên kết công nghiệp - nông nghiệp sẽ phát sinh nhu cầu dịch vụ (về khoa học -
công nghệ, về tiền tệ tín dụng, về thương mại, về xây dựng….), khác nhiều với nhu cầu
dịch vụ khi công nghiệp và nông nghiệp tách rời nhau. Dịch vụđóng vai trò quan trọng
trong toàn bộ các khâu hoạt động của liên kết công nghiệp - nông nghiệp. Nó sẽ thúc
đẩy hiệu quả chung của hệ thống hay nó kìm hãm, chia cắt để kiếm lợi cho riêng nó.
Sự liên kết càng tăng, càng có hiệu quả thì mới bài trừ bớt các thủđoạn kinh doanh lỗi
thời. Hướng phân bổđầu tư dịch vụ như vậy là hướng tiến bộ của quá trình tăng trưởng
bền vững nước ta phải hướng tới.
Hiện nay, lĩnh vực tài chính tín dụng ngân hàng là lĩnh vực ngày càng quan
trọng. Muốn đổi mới trong lĩnh vực này theo quy luật kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, thì ngân hàng, tài chính phải làđộng cơ mạnh nhất thúc đẩy liên kết công
nghiệp - nông nghiệp, thúc đẩy phân bổ công nghiệp hợp lý, chứ không phải loanh
quanh tìm giải pháp ngay trong cơ quan ngân hàng.
Theo quy luật chung, chỉ khi nền công nghiệp với cơ cấu công nghiệp - nông

triển kinh tế tư bản Nhà nước.
Hiện nay, xu hướng chủđạo của một nền kinh tế thị trường tương lai đang hiện
dần ra. Đó là xu hướng phát triển bền vững, tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội,
tiến bộ xã hội và bảo vệ, hoàn thiện môi trường.
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status