TIỂU LUẬN
Đề tài: “Phân tích bản chất của phạm trù giá trị
thặng dư. Trong bộ tư bản C. Mác đã phân tích
như thế nào về phương pháp sản xuất ra giá trị
thặng dư”
ra giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối.
Do vậy, sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản là nội dung chính
của quy luật giá trị thặng dư. Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tư bản. Nó
quyết định sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng
một xã hội khác cao hơn, là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
Việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất ra
giá trị thặng dư có ý nghĩa quan trọng, là chìa khóa dẫn đến những vấn đề khác
trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài: “Phân tích bản chất của phạm trù giá trị thặng dư. Trong bộ tư
2
bản C. Mác đã phân tích như thế nào về phương pháp sản xuất ra giá trị
thặng dư” cho bài tập lớn của mình.
Do thời gian có hạn, nên bài viết không thể tránh khỏi những hạn chế nhất
định. Vậy tôi kính mong các quí thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để bài viết
được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Phạm Quang Phan đã giúp đỡ
tôi hoàn thành bài tập lớn này.
ngược lại của hàng thành tiền. Bất cứ tiền nào vận động theo công thức T-H-T
đều được chuyển hoá thành tư bản.
Do mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng nên vòng lưu
thông chấm dứt ở giai đoạn hai. Khi những người trao đổi đã có được giá trị sử
dụng mà người đó cần đến. Còn mục đích lưu thông của tiền tệ với tư cách là tư
bản không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm. Vì
vậy nếu số tiền thu bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa.
Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ
của tư bản là: T-H-T’, trong đó T’= T + ∆T. ∆T là số tiền trội hơn so với số tiền
ứng ra, C. Mác gọi là giá trị thặng dư. Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành
tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích của lưu thông T-
H-T’ là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động T-H-T’ là
không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn.
Sự vận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông theo công thức T-
H-T’, do đó công thức này được gọi là công thức chung của tư bản.
4
Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi trở về tay người chủ của nó
thì thêm một lượng nhất định (∆T). Vậy có phải do bản chất của lưu thông đã
làm cho tiền tăng thêm, và do đó mà hình thành giá trị thặng dư hay không?
Các nhà kinh tế học tư sản thường quả quyết rằng sự tăng thêm đó là do lưu
thông hàng hoá sinh ra. Sự quả quyết như thế là không có căn cứ.
Thật vậy, trong lưu thông nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự
thay đổi hình thái của giá trị, còn tổng số giá trị, cũng như phần giá trị thuộc về
mỗi bên trao đổi là không đổi. Về mặt giá trị sử dụng, trong trao đổi cả hai bên
đều không có lợi gì. Như vậy, không ai có thể thu được từ lưu thông một lượng
giá trị lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra (tức là chưa tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T).
Đối với yếu tố tiền tệ: Tiền tệ ở ngoài lưu thông là tiền tệ nằm im một chỗ. Vì
vậy không có khả năng lớn lên để sinh ra ∆T.
Vậy ngoài lưu thông khi xem xét cả hai yếu tố hàng hoá và tiền tệ đều không
tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T.
“ Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện
ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không
phải trong lưu thông” (C.Mác: Tư bản. NXB Sự thật, HN, 1987, Q1, tập 1,tr
216). Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.
Khi Mác trở lại lưu thông lần thứ hai và lần này Mác đã phát hiện ra rằng: Ở
trong lưu thông người có tiền là nhà tư bản phải gặp được một người có một thứ
hàng hoá đặc biệt đem bán, mà thứ hàng hoá đó khi đem tiêu dùng hay sử dụng
nó có bản tính sinh ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó,
hàng hoá đặc biệt đó chính là sức lao động.
2- Hàng hoá - sức lao động:
Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làm tăng giá trị mà phải thông
qua hàng hoá được mua vào (T-H). Hàng hoá đó phải là một thứ hàng hoá đặc
biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Thứ hàng
hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con
người, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sản xuất
ra một giá trị sử dụng.
6
Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, mà sức lao động chỉ biến
thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định.
C.Mác đã nhấn mạnh sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều
kiện tiền đề:
những không bị tiêu biến theo thời gian về giá trị và giá trị sử dụng mà ngược lại
nó lại tạo ra một lượng giá trị mới c + m ( c + m > v, với v là giá trị sử dụng của
bản thân nó). Khoản lớn lên được sinh ra trong quá trình sử dụng sức lao động
chính là ∆T hay giá trị thặng dư.
Từ đó Mác kết luận: Hàng hoá - sức lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị hơn
thế nữa là tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Bởi vì, sức lao động càng đem
tiêu dùng hay sử dụng thì người công nhân hay người lao động càng tích luỹ
được kinh nghiệm nghề nghiệp, càng nâng cao năng suất lao động. Vì vậy sẽ
làm giảm giá trị hay mức tiền lương mà nhà tư bản đã trả cho họ. Vì vậy, dưới
chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư bản rất ưa thích loại hàng hoá đặc biệt này.
Vậy quá trình người công nhân tiến hành lao động là quá trình sản xuất ra
hàng hoá và đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân
giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã
chiếm đoạt. Như vậy, hàng hoá - sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra
giá trị. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá - sức lao động so với các hàng
hoá khác. Nó là chìa khoá để giải thích tính mâu thuẫn của công thức chung của
tư bản.
3- Bản chất giá trị thặng dư:
Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ
vì nó là vật mang giá trị trao đổi.
Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa
là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị
lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà tư bản
đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư.
Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản
xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. C.Mác viết: “
Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá
trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự
10 đôla
Lao động cụ thể của công
nhân bảo tồn và chuyển giá
trị 10 kg bông vào 10 kg
sợi.
10 đôla
Hao mòn máy móc 2 đôla Khấu hao tài sản cố định 2 đôla
9
Tiền thuê sức lao động
trong một ngày
4 đôla Giá trị mới do 8 giờ lao
động của người công nhân
tạo ra
8 đôla
Tổng chi phí sản xuất16 đôla
Tổng doanh thu
20 đôla
lao động hay tiền lương nhà tư bản đã trả cho mình, đó là giá trị thặng dư (4
đôla) và bộ phận này thuộc về nhà tư bản (nhà tư bản chiếm đoạt).
Từ đó, Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do
công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi
điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới
ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho
họ. Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới
hạn tại điểm đó giá trị sức lao động được trả ngang giá.
3- Tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản:
Trong nền kinh tế tư bản người công nhân sau quá trình làm việc cho nhà tư
bản sẽ nhận được một khoản thu nhập dưới hình thức tiền công hay tiền lương.
Với cách trả lương như vậy các nhà lí luận tư sản khẳng định rằng tiền lương
hay tiền công là giá cả của lao động. Và trong quá trình sản xuất nhà tư bản trả
đúng giá cả của lao động. Vì vậy dưới chủ nghĩa tư bản không có bóc lột.
Nhưng C.Mác đã khẳng định tiền lương không phải là giá cả của người lao
động. Bởi vì, lao động là một phạm trù trừu tượng nên người ta không thể bán
cái trừu tượng. Hơn nữa, lao động chỉ thể hiện khi vận dụng sức lao động để tiến
hành quá trình sản xuất.
Vì vậy Mác khẳng định: Tiền lương chính là giá cả của sức lao động nhưng
nó được biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động. Bởi vì sức lao động
phản ánh năng lực lao động của mỗi con người, nó là cái có thật thể hiện toàn bộ
ở sức óc, sức thần kinh và sức cơ bắp của con người. Nó nói lên năng lực và khả
năng của từng người. Vì vậy mỗi một sức lao động khác nhau sẽ có một giá cả
khác nhau.
11
hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình. Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào
12
của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động
trong ngày.
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh
vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
2- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối:
Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắn thời
gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thời gian lao động
thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động là không đổi.
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và
4 giờ là thời gian lao động thặng dư, trình độ bóc lột là 100%. Bây giờ chúng ta
lại giả thiết rằng, công nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị
bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động
thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư trong trường
hợp đó cũng thay đổi. Khi đó thời gian lao động cần thiết là 2 giờ, thời gian lao
động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc lột của nhà tư bản lúc này là 300%
(m’ = 300%).
Để có thể rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phải tìm mọi
biện pháp, đặc biệt là phải áp dụng tiến bộ và công nghệ vào trong quá trình sản
xuất để nâng cao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá
cả thị trường của sản phẩm. Đặc biệt nâng cao năng suất lao động xã hội trong
những ngành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người
công nhân. Từ đó tiến tới hạ thấp giá trị sức lao động.
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt
đối chiếm ưu thế, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi mà kỹ thuật phát triển, sản xuất
thặng dư”.
Để sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, các nhà tư bản tăng cường bóc lột công
nhân làm thuê không phải bằng cưỡng bức siêu kinh tế (roi vọt), mà bằng cưỡng
bức kinh tế (kỷ luật đói rét) dựa trên cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật
để tăng năng suất lao động, tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động.
Vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư
bản. C.Mác viết: “ Việc tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của
phương thức sản xuất đó”. Nội dung chủ yếu của quy luật này là để thu được giá
trị thặng dư một cách tối đa, nhà tư bản đã tăng số lượng lao động làm thuê và
tìm mọi thủ đoạn để bóc lột họ.
14
Trong giai đoạn hiện nay, các nhà tư bản thực hiện cải tiến kỹ thuật hoàn
thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm
giá trị hàng hoá. Đồng thời thu hút một đội ngũ các kỹ sư, quản lý, mà chức
năng của họ suy cho cùng là bảo đảm sử dụng có hiệu quả nhất tất cả các nhân
tố của sản xuất mà trước hết là sức lao động, nhờ đó mà tăng giá trị thặng dư.